Đavít và Covid-19
(2Sm 11,1-4.5-10.13-17; Mc 4,26-34 – Thứ Sáu, Tuần III, Thường niên)
Lm. Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist
Thói đời “đẹp tốt khoe ra, xấu sa đậy lại”, người ta thường khoe những điều tốt và ém đi những điều không hay nơi bản thân, gia đình, tập thể của mình… nhưng Kinh Thánh thì khác, Kinh Thánh thường cho ta biết một cách rất chi tiết, rất trung thực về người thật, việc thật của nhiều nhân vật trong lịch sử cứu độ, nhằm khẳng định với chúng ta rằng họ là những con người bình thường, có khi đã sa ngã phạm tội, nhưng đã biết sám hối nhờ đó nên thánh thiện. Bài trích sách Samuel cho chúng ta biết vua Đavít là một người như thế.
Đavít không chỉ phạm một tội nặng mà là chuỗi dài tội lỗi nặng nề:
Vua Đavít cả gan “khinh thị Đức Chúa”, khi say mê những thứ thuộc thế gian.
Vua Đavít ngoại tình với Bátseva, vợ ông Urigia một sĩ quan trung thành đang chiến đấu trên chiến tuyến.
Vua Đavít gian dối nhằm đẩy hậu quả tội lỗi cho ông Urigia: Vua truyền cho ông Urigia từ chiến trận quay về nhà để nghỉ ngơi và có thời gian gần gũi với vợ. Nhưng ông Urigia lại nặng lòng với quân binh, lo lắng về chiến sự, nên không về với vợ mà nằm ở cửa đền vua với tất cả các bề tôi của chúa thượng ông. Kế hoạch không thành, vua Đavít phải dùng đến hạ sách, chuốc rượu cho ông Urigia say khướt, với hy vọng Urigia sẽ về ngủ với vợ, nhưng mưu ác vẫn không thành.
Không dừng lại ở đó, vua Đavít quyết tâm giết người vô tội: “Vua đã viết thứ cho ông Giôáp và gửi ông Urigia mang đi. Trong thư, vua viết rằng: ‘Hãy đặt Urigia ở hàng đầu, chỗ mặt trận nặng nhất, rồi rút lui bỏ nó lại, để nó bị trúng thương mà chết.’ Vua Đavít nhất định khiến ông Urigia phải chết. Thật đau lòng, người lính can trường và – trung thành với lề luật, với dân tộc, tổ quốc phải mang lấy án tử bởi chính vị vua mà ông đã tận tình phục vụ.
Một điều khiến chúng ta bất bình là: vua Đavít đã phạm nhiều tội tày đình như vậy, nhưng ông vẫn làm ngơ, vẫn lạnh lùng vô cảm trước tội lỗi của mình, trước nỗi đau của tha nhân… có lẽ “lương tâm ông hết răng” nên không còn cảm thấy cắn rứt nữa. Chỉ đến khi ngôn sứ Natha vạch tội, ông mới hối hận xin Chúa thứ tha. Căn bệnh vô tâm, vô cảm của vua Đavít xưa biết đâu lại cũng đang là căn bệnh của chúng ta ngày nay.
Thời nay, người ta đã chế được nhiều rôbôt để làm việc giúp con người, các nhà khoa học còn ôm ấp tham vọng chế tạo cho rôbô một trái tim biết yêu thương. Nhưng trớ trêu thay, con người vốn đã được Thiên Chúa ban cho trái tim để yêu thương, giờ đây lại trở nên xơ cứng, vô cảm, khinh dể Thiên Chúa và đồng loại.
Con người ngạo nghễn cho mình là “chúa” làm được mọi sự: “Bàn tay ta làm nên tất cả”, không cần đến Chúa, Mẹ nào phù hộ ban ơn gì cả. Một khi đã khinh dể Chúa, con người cũng chẳng coi nhau ra gì: tham lam ích kỷ, lường gạt nhau, đầu độc nhau, thống trị, khủng bố, giết hại nhau… hiện trạng covid-19 là một bằng chứng cáo tội con người. Tội lỗi của loài người chất cao hơn núi! Thế mà con người vẫn sống vô tâm “giả điếc làm ngơ”.
Chính lúc này lời Chúa vẫn vang lên thức tỉnh chúng ta hãy sám hối nối lại mối tình giữa ta với chúa, giữa ta với tha nhân và hãy biết yêu thương chính mình để sống hạnh phúc an vui ngay trong cuộc đời này.
Sống trong xã hội đang bị cuốn vào dòng chảy tục hóa, có lẽ sự cố gắng sống lương thiện giữa dòng đời của chúng ta xem ra như muối bỏ bể; chẳng thay đổi được gì. Nhưng chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ để Chúa làm triển nở sung mãn như “hạt lúa” trở thành bông lúa trĩu hạt, như “hạt cải” nhỏ trở thành cây cải lớn đến nỗi “chim trời” có thể làm tổ ở đó.
Một câu chuyện có thật về mẹ Têrêxa có thể phấn khích chúng ta sống tốt sứ mệnh của mình và đem tin yêu cho mọi người:
Năm 1979, mẹ Têrêxa được trao giải thưởng Nobel Hòa Bình ở Oslo thủ đô Nauy. Trên đường trở về từ Oslo, mẹ Têrêxa Calcutta dừng lại ở Roma. Các ký giả chen chúc chờ đợi gặp mẹ trong khuôn viên nhỏ bé của ngôi nhà cộng đoàn các Nữ Thừa Sai Bác Ái ở Monte Celio. Mẹ Têrêxa không để cho các ký giả tấn công. Trái lại, mẹ tiếp họ như những người con. Mẹ nhẹ nhàng đặt vào tay mỗi người một ảnh đeo Đức Mẹ Vô Nhiễm. Các ký giả ráo riết bao vây mẹ để chụp hình và để phỏng vấn. Một ký giả táo bạo hỏi:
– Thưa mẹ, năm nay mẹ 70 tuổi. Khi mẹ qua đời thế giới cũng sẽ như trước! Vậy đâu có gì thay đổi sau bao nhiêu cực nhọc?
Mẹ Têrêxa đăm đăm nhìn chàng ký giả trẻ tuổi và nở một nụ cười thật tươi, nụ cười như một cái vuốt ve trìu mến, rồi mẹ từ tốn nói:
– Anh thấy đó, tôi không bao giờ nghĩ mình có thể thay đổi thế giới. Tôi chỉ tìm cách trở thành một giọt nước trong, một giọt nước lóng lánh rạng ngời Tình Yêu THIÊN CHÚA. Thế thôi!!! Anh cho là quá ít sao???
Chàng ký giả trẻ tuổi lúng túng… Các ký giả khác đứng im không nhúc nhích. Mẹ Têrêxa thản nhiên tiếp tục cuộc đối thoại:
– Anh cũng nên cố gắng trở thành một giọt nước trong, như thế, sẽ có hai giọt nước trong. Anh lập gia đình chưa?
– Dạ rồi! chàng ký giả đáp.
– Vậy anh cũng nên nói với vợ và như thế chúng ta sẽ là ba giọt nước trong. Anh có con cái chưa?
– Thưa mẹ, ba đứa!
– Tốt lắm! Vậy anh cũng nên nói với các con anh, và như thế, tất cả chúng ta sẽ là 6 giọt nước trong!
Ước mong tất cả chúng ta cũng trở nên những hạt giống tốt, những giọt nước trong; lóng lánh rạng ngời tình yêu Chúa và yêu mọi người giữa cuộc đời này. Amen.


