MUỐI MẶN & ĐÈN SÁNG
Pio X Trung Thảo, O.Cist
Trong tiến trình huấn luyện các môn đệ, Đức Giêsu đặc biệt quan tâm đến việc giúp các ông ý thức được căn tính và sứ mạng của người môn đệ là người rao giảng Tin Mừng. Để trở thành người loan báo Tin Mừng, các môn đệ phải biết Tin Mừng, phải sống và thấm nhuần Tin Mừng. Vì thế, tiếp theo đoạn Tin Mừng Chúa Nhật IV TN năm A, trong Bài Giảng Trên Núi, sau khi công bố các Mối Phúc – bản Hiến Chương của Nước Trời – Đức Giêsu hướng ánh nhìn về các môn đệ và nói những lời vừa đơn sơ vừa sâu thẳm: “Chính anh em là muối cho đời… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,13–14). Qua đoạn Tin Mừng Chúa Nhật V TN, năm A hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ phải trở nên muối ướp và đèn soi. Bằng hai hình ảnh cụ thể này, Chúa đã phác họa một qui luật sống mà các môn đệ phải tuân theo, khi Ngài gởi họ đi vào đời.
Hình ảnh thứ nhất: “Các con là muối ướp thế gian” (Mt 5,13a). Đặc tính của muối là mặn; không mặn không là muối. Muối là vật dụng thường được sử dụng trong việc nấu ăn. Không có muối, đồ ăn sẽ thiếu hương vị và trở nên nhạt nhẽo. Người Do Thái còn dùng muối để làm phân bón, làm cho đất màu mỡ hơn. Chính vì thế mà Chúa Giêsu bảo: “Các con là muối đất” (Mt 5,13a). Chất mặn của muối như Tin Mừng trong đời sống của người môn đệ Chúa Giêsu. Nếu người môn đệ nào không còn biết Tin Mừng, không sống và thấm nhuần Tin Mừng, thì căn tính của người môn đệ đó bị thoái hóa biến chất, thậm chí bị mất đi.
Chúa Giêsu nói: Các con là muối. Nhưng muối chỉ hữu dụng khi nó hòa tan ra. Cũng vậy, đời môn đệ chỉ có giá trị khi trong mình có vị mặn của tình yêu Giêsu, và sống như Đức Kitô đã sống. Nghĩa là ta hãy sống đạo đức, thực thi những điều Chúa dạy, để ta thánh hoá bản thân mình, nêu gương sáng cho người chung quanh, hâm nóng những cõi lòng đã nguội lạnh. Nếu ta không sống Lời Chúa trọn vẹn, thì ta cũng giống như loại muối đã nhạt, không ích lợi gì, chỉ đáng đem đổ ra ngoài đường cho người ta giày đạp “Nếu muối đã nhạt, thì biết lấy gì mà ướp cho mặn lại. Chỉ còn ném ra ngoài đường cho người ta chà đạp” (Mt 5,13).
Hình ảnh thứ hai: “Các con là đèn sáng” (Mt 5,14a). Có lần Chúa Giêsu đã xác quyết: “Ta là ánh sáng thế gian. Ai theo Ta, sẽ không đi trong đêm tối, nhưng sẽ có ánh sáng đời đời” (Ga 8,12). Khi Người nói các môn đệ là ánh sáng cho trần gian, điều đó có nghĩa là họ được mời gọi phản chiếu chính ánh sáng của Đức Kitô, chứ không phải ánh sáng tự mình phát ra. Ánh sáng có đặc tính xua tan bóng tối, soi đường cho người khác và làm cho mọi vật hiện rõ đúng bản chất của nó. Người Kitô hữu được mời gọi sống sao cho đời sống của mình trở thành một điểm sáng, giúp người khác nhận ra điều thiện, điều chân thật và điều đẹp lòng Thiên Chúa.
Hôm nay Chúa dạy các môn đệ hãy bắt chước Ngài, để trở nên ánh sáng thế gian: “Người ta không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn hầu soi sáng cho mọi người trong nhà” (Mt 5,15). Đức tin Kitô giáo không phải là một thực tại riêng tư, khép kín, mà là một ân ban cần được chia sẻ. Do đó, ta cần trở nên đèn sáng soi cho kẻ khác bằng lời nói, việc làm và gương sáng. Nếu Phúc Âm không được rao giảng, thì người ta sẽ quên nó. Trái lại, nếu mỗi người biết thắp sáng cây đèn nhỏ của mình, thì không những nhà riêng của ta sáng, mà cả thế giới cũng sẽ được soi sáng. Chúa Giêsu nói: “Sự sáng của các con sẽ chiếu soi trước mặt thiên hạ và mọi người sẽ ngợi khen Thiên Chúa” (Mt 5,16).
Ánh sáng là để chiếu soi. Người Kitô hữu là ánh sáng, nghĩa là cần làm gương sáng giữa cuộc đời u tối của hận thù, chia rẽ và của ích kỷ; cần lắm những gương sáng về đời sống trung tín, về đời sống công bằng, về đời sống quảng đại, bác ái, yêu thương và tha thứ. Hữu xạ tự nhiên hương. Chẳng cần quảng cáo um xùm. Cứ sống rực sáng, tự nhiên người ta sẽ nhận thấy. Trong tinh thần của lời mời gọi Tin Mừng: “Các con là đèn sáng thế gian” (Mt 5,14), chúng tôi cùng phái đoàn họ đạo Giuse Thôn Rôn lên đường đến vùng lương dân, mang theo những phần quà tết nhỏ bé nhưng chan chứa tình người – để trao gửi yêu thương của Đức Kitô đến với những anh chị em đang sống trong hoàn cảnh khó khăn.
Chuyến thăm dừng lại tại hai gia đình: anh Nguyễn Trọng Hiếu, người bị tai nạn lao động khiến đôi chân không còn lành lặn, và một ông cụ già đang mang bệnh hiểm nghèo, sống trong cảnh thiếu thốn. Khi trao tận tay anh Hiếu chiếc xe lăn đa năng, chúng tôi ân cần hỏi han, động viên và cầu nguyện cho anh cùng người mẹ già – người vẫn ngày đêm chăm sóc con trong thinh lặng và yêu thương. Niềm xúc động hiện rõ nơi ánh mắt, nụ cười của họ khi đón nhận món quà. Anh Hiếu nói nhỏ: “Con muốn đi lễ…” – một ước nguyện thật đơn sơ mà sâu sắc, như khát vọng được gặp Chúa trong đời.
Những cử chỉ đụng chạm, thăm hỏi, lắng nghe, chia sẻ và trao ban – tất cả không chỉ là hành động bác ái, mà còn là chứng tá sống động của Tin Mừng, là lời loan báo không bằng lời nói nhưng bằng chính việc làm. Như Đức Lêô XIII đã nhắn nhủ trong Tông huấn Dilexi Te: “Ai yêu mến Chúa Giêsu thật lòng thì cũng sẽ nhận ra Ngài nơi những kẻ nghèo hèn và đau khổ; vì chính họ là hình ảnh của Ngài nơi trần thế.” (Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS – dịch)
Thăm viếng vùng ngoại biên không chỉ là trao tặng vật chất, mà là mang ánh sáng của Đức Kitô đến những nơi tăm tối, xa xôi, nơi tình thương còn thiếu vắng. Mỗi cuộc gặp gỡ là một lần được chạm vào Mầu Nhiệm Nhập Thể – nơi Chúa Giêsu hiện diện giữa những người bé mọn nhất.
Xin cho những việc bác ái nhỏ bé hôm nay trở nên men, muối của Tin Mừng, và trở nên đèn sáng soi cuộc đời mình và cuộc đời người khác. Xin Chúa giúp ta sống cuộc đời này mỗi ngày một tốt đẹp hơn, để qua cách sống hằng ngày của mình, người ta có thể nhận ra Chúa đang hiện diện trong cuộc đời của ta.


