HÀNH TRÌNH THIÊN CHÚA ĐẾN VỚI CON NGƯỜI
Teresa Avila Thảo, Phước Hải
Thiên Chúa không cứu độ con người chỉ bằng một lời phán từ trời cao. Nhưng Ngài đã đi xa hơn: chính Con Một của Ngài đã xuống thế làm người và ở giữa chúng ta. Vì thế mà phụng vụ Lời Chúa hôm nay mặc khải cho chúng ta hành trình Thiên Chúa đến với con người, với biến cố Truyền Tin. Ngài đã đến và đồng hành với cuộc sống của từng người, đó là cách thức Thiên Chúa đã chọn để cứu độ và đem hạnh phúc viên mãn cho con người. Để thực hiện hành trình cứu độ ấy, Thiên Chúa đã ban chính Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô, và đồng thời chọn một thụ tạo của mình là Đức Maria để cộng tác vào chương trình cứu độ.
- Lời hứa
Kể từ khi cửa thiên đàng đóng lại do lỗi phạm của Adong và Evà, con người khổ đau luôn ngước mắt nhìn lên trời. Rồi qua dòng thời gian, hàng ngàn năm về trước, dân Do thái, luôn mong đợi Thiên Chúa thực hiện lời đã phán hứa: “Chính Chúa thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: này đây người trinh nữ sẽ mang thai, sẽ sinh ha con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en” (Is 7,10). Lời hứa cứu độ của Thiên Chúa dành cho nhân loại qua biến cố Truyền Tin, Thiên Chúa đã chọn Maria, một trinh nữ người Do Thái, đã đính hôn với Giuse, thuộc hoàng tộc Đavit, để Con Thiên Chúa nhập thể làm người do quyền năng của Chúa Thánh Thần (x. Lc 1,26-38). Chính nhờ tác động của Chúa Thánh Thần mà Đức Maria cưu mang và sinh hạ Con Thiên Chúa mà vẫn còn đồng trinh (x. Mt 1,18-25). Chính dòng dõi người phụ nữ sẽ đạp dập đầu con rắn (x. St 3,15), và truyền thống Kitô giáo hiểu rằng lời hứa ấy được hoàn tất nơi Đức Kitô. Đấng đã cứu dòng dõi mình khỏi nô lệ của tội lỗi và sự chết “án phạt ngươi, Đức Chúa đã rút lại, thù địch của ngươi, Người đã đẩy lùi xa” (Xp 3,15). Vì yêu thương con người, Thiên Chúa đã tặng ban người con duy nhất của Ngài cho nhân loại: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,17). Con Một Thiên Chúa không lên án thế gian tội lỗi, nhưng đến để thế gian nhận biết tình trạng phải chết của mình và nhận ra tình thương cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Kitô chịu đóng đinh vào thập giá. Hơn nữa, thế gian cần ý thức rằng không có sự sống tự nơi mình “vì mọi người đã phạm tội” (Rm 5,12). Thế nên thánh Gioan tông đồ nói: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta” (1 Ga 1,8). Do đó, tin vào lời hứa của Chúa, chúng ta hãy thực hiện những gì Người dạy, vì “Chúa là Đấng phép tắc và lòng lành vô cùng đã phán hứa sự ấy, chẳng có lẽ nào sai được” (Kinh Trông Cậy).
Như vậy, lời hứa cứu độ chính là tình yêu của Thiên Chúa đã đi vào lịch sử của nhân loại ngang qua biến cố Truyền Tin, chính Ngôi Hai là một quà tặng cho hết mọi người, Thiên Chúa yêu con người cách lạ lùng và kỳ diệu “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).
- Xin vâng
Thiên Chúa thực hiện lời hứa cứu độ của Ngài trong lịch sử, và mời gọi con người cộng tác vào chương trình ấy, cách đặc biệt nơi Đức Giêsu và Đức Maria.
Trước hết, sự vâng lời của Đức Giêsu hoàn toàn được diễn ra trong tự do và tình yêu. vì thế, Ngài đã nói: “này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,9) ; hay: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4,34 ). Chính nhờ sự vâng phục tuyệt đối trong tự do này, mà Chúa Giêsu trở thành nguồn ơn cứu độ cho nhân loại. Hơn nữa, vì Ngài đã vâng lời và vâng lời cho đến chết, chết trên cây thập tự. Quả thật, chính nhờ sự vâng phục này, mà nhân loại đón nhận được ơn cứu chuộc của Thiên Chúa ngang qua Đức Giêsu, Đấng vừa là Thiên Chúa thật, vừa là người thật “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” ( Pl 2, 6-7).
Kế đến là Mẹ Maria, một nữ tùy khiên tốm đón nhận thánh ý Chúa. Chính nhờ thái độ khiêm nhường và lời “xin vâng” của Đức Maria mà kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện trong lịch sử cứu độ. Cũng kể từ khi lời xin vâng đầy xác tín và khiêm nhường ấy, mà: “Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng ta, và chúng ta đã nhìn thấy vinh quang của Người” (Ga 1,14). Đức Maria vâng lời Chúa qua trung gian của Thiên Thần, đây là giây phút Mẹ biểu lộ nhân đức khiêm nhường tuyệt vời của Mẹ “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38). Chính trong tâm tình này mà Mẹ đã cất cao lời ngợi khen Đấng giàu Lòng Xót Thương đã đoái nhìn đến thân phận hèn yếu nơi Mẹ. Vì thế, Mẹ đã mượn lời của bài ca Manificat mà trong lịch sử cứu độ, để ca ngợi kỳ công của Chúa cho những người hèn mọn. Qua lời kinh này, đức khiêm nhường lại càng đậm nét hơn nơi Mẹ, vì thế Mẹ đã dâng lại cho Chúa tất cả vinh dự mà Người ban tặng cho Mẹ.
Qua lời xin vâng của Chúa Giêsu và Mẹ Maria cho chúng thấy quyền năng và tình thương của Thiên Chúa dành cho con người, một tình yêu vô điều kiện và bền vững muôn đời “ núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi” (Is 54,10).
- Thực thi
Qua lời xin vâng, Mẹ Maria sẵn sàng gạt bỏ đi tất cả những gì Mẹ hằng ôm ấp cho riêng mình là sống đời đồng trinh, để chấp nhận cộng tác với Chúa trong việc sinh ra cho nhân loại Đấng Cứu Thế mà ai cũng trông chờ. Thật thế, để thưa xin vâng, Mẹ phải chấp nhận hy sinh, hy sinh vì lòng yêu mến Thiên Chúa và yêu thương nhân loại. Lời thưa xin vâng của Mẹ, thể hiện sự phó thác tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa. Bởi vì, lời thưa xin vâng không chỉ thực hiện trong biến cố truyền tin mà còn kéo dài trong suốt cuộc sống của Mẹ. Sau biến cố Truyền Tin là cả hành trình dài đầy gian nan đau khổ. Từ việc bị Thánh Giuse hiểu nhầm, đến việc sinh con trong hang đá nghèo hèn, lạnh lẽo. Việc bà Anna loan báo về sự đau khổ của Hài Nhi khi Mẹ đưa Chúa Giêsu dâng trong đền thờ. Việc đưa con trốn sang Ai cập khỏi Hêrôđê lùng bắt. Suốt ba mươi năm tại làng quê Nazaret, Mẹ sống âm thầm cùng với Thánh Giuse nuôi Chúa Giêsu khôn lớn. Trong suốt sứ vụ của Đức Giêsu, Đức Maria vẫn âm thầm hiện diện và đồng hành trong niềm tin. Đặc biệt, khi Mẹ chứng kiến cuộc khổ nạn và cái chết của con mình trên thập giá… Qua những biến cố đau thương như vậy, để thưa xin vâng, Mẹ phải có một niềm phó thác và một đức tin vững mạnh vào Thiên Chúa “vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” (Lc 1,37). Thực vậy, khi chiêm ngắm cuộc đời của Ðức Mẹ giúp chúng ta trong việc tìm hiểu và thực thi Thánh Ý Thiên Chúa. Dầu, Mẹ không biết rõ ý định Thiên Chúa dẫn Mẹ đi đến đâu, nhưng trong mỗi hoàn cảnh và biến cố cuộc đời, Mẹ luôn lắng nghe và “suy đi nghĩ lại” trong lòng để thấu hiểu chương trình kế họach của Thiên Chúa dành cho cuộc đời của Mẹ. Nhờ đó mà Mẹ luôn đón nhận và thực thi Thánh Ý Thiên Chúa qua hai tiếng ”Xin vâng”, vì “Tuân theo Thánh ý Ngài, con vui sướng còn hơn được tiền rừng bạc bể” (Tv 119,14).
Hành trình Thiên Chúa đến với con người chính là hành trình cứu độ. Hành trình ấy được thực hiện trong hai chuyển động của tình yêu: tình yêu Thiên Chúa trao ban và tình yêu con người đáp lại. Khi Thiên Chúa trao ban Con Một của Ngài để cứu nhân loại thì nhân loại mở rộng cõi lòng để đón nhận người con này. Chính nhờ hành trình này mà nhân loại được bước vào một trang sử mới, trang sử hồng ân cứu độ.
Lay Chúa, mừng lễ Truyền Tin hôm nay, xin Chúa giúp mỗi người chúng con biết noi gương Mẹ Maria, luôn chu toàn thánh ý Chúa ở mọi nơi và trong mọi lúc, để cuộc đời chúng con sẽ là một lời xin vâng liên tục. Amen.


