Thứ Hai, 15 Tháng Bảy, 2024

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 3: THAO THỨC

 

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM

   

 Nội san linh đạo đan tu 

 

THAO THỨC

 

 Số 3 tháng 1 năm 2007

            Lời nói đầu

Khao khát, chờ mong, bồn chồn, khắc khoải…: đó là những tâm trạng của con người đang hướng về tương lai, với ước mong tương lai đó sẽ tốt đẹp hơn. Nội San “Hạt Giống Chiêm Niệm” dành số 3 với chủ đề “THAO THỨC” như là nơi để các đan sĩ, đặc biệt các đan sĩ trẻ, tỏ bày những “mối tơ lòng”, những điều mình cưu mang và muốn hiện thực trong đời sống đan tu.
Chị Thiên Giang, trong bài “MONG CHỜ TRỜI SÁNG”, muốn làm nổi bật hình ảnh của Maria Macdala, một người “luôn mang nơi mình những khát vọng vô biên và hướng về Thiên Chúa là nguồn chân thiện mỹ. Chị đang thao thức đi từ bóng tối tới ánh sáng, chị đang muốn mở lòng ra để đón chờ hừng đông từ nơi Đấng tỏa chiếu ánh sáng trên cuộc đời tăm tối của chị.” Và tác giả áp dụng cho cuộc sống ngày nay: “Chị Maria Macdala cũng là hình ảnh của mỗi người chúng ta trong cuộc sống hôm nay, luôn luôn khắc khoải, tìm kiếm trong bóng đêm cuộc đời” để gặp được Tình Yêu là chính Chúa Kitô Phục Sinh.
“Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi”, là nền của suy tư mà tác giả Hòa Vũ mời gọi độc giả nhìn ngắm cuộc sống của thánh Phaolô, để khám phá nơi Thánh Tông Đồ một tình yêu nồng thắm đối với Chúa Kitô. “TẤT CẢ VÌ ĐỨC KITÔ” như là một cách diễn tả điều mà thánh nhân đã khẳng định : “Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống mà chính Chúa Kitô sống trong tôi.” Đó là điều chúng ta thao thức: “Là những người tận hiến đời mình để tìm kiếm Thiên Chúa, chúng ta cũng ước ao đạt tới mức độ khả dĩ nói lên như thánh Phaolô”.
Nhưng làm sao có thể đạt tới mức độ kết hiệp trọn vẹn trong tình yêu, nếu đã không thực hiện một hành trình dài của kiếm tìm. Trường hợp của thánh Augustinô là một điển hình : “AUGUSTINÔ, CON NGƯỜI THAO THỨC”, suốt đời tìm kiếm: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, nên tâm hồn con bồn chồn khôn nguôi, cho tới khi được nghỉ yên trong Chúa”, như là một nỗi thao thức, một khắc khoải tâm linh mà thánh nhân đã thân thưa với Thiên Chúa về hành trình đi tìm lẽ sống đích thực, để được sống trong ân sủng của Thiên Chúa và được đồng hóa với Người”. Qua đó, đan sĩ Song Linh nhận định: “Nỗi thao thức của Augustinô ngày xưa cũng là nỗi băn khoăn của đan sĩ hôm nay”, vì “băn khoăn, thao thức, khát vọng vươn lên và đi tới, vẫn là hành trang cố hữu của mỗi người cho dù đang ở giai đoạn nào, đảm nhận chức vụ nào”.
Đan sĩ Théophane Phạm Hữu Ái, với một nhãn quan triết lý hơn, đã nêu lên kinh nghiệm của thánh Bênađô: “CON ĐÃ GẶP NGÀI : THỰC TẠI VÀ THAO THỨC”. Đó là một cuộc gặp gỡ “dẫn tôi vào sự hiểu biết, nhưng không phải cái biết của trí khôn; trái lại là cái biết của tình yêu, cái biết của con tim”. Vì thế, “chúng ta phải chờ mong mãi vì cuộc sống dương thế là một hành trình đi về quê trời và sự thao thức làm cho cuộc sống của mỗi người trở thành đáng yêu hơn và đẹp hơn.”
Thế nên, “SỐNG HOÀI NỖI KHÁT KHAO” như là một đặc điểm mà nhạc sĩ Ân Đức đã khám phá nơi thi sĩ Ấn Độ R. Tagore. Thật vậy, “Tagore đã sống hoài nỗi khát khao và hy vọng, đã khắc khoải đợi chờ, đã bật lên tiếng lòng đầy bi ai của kiếp phận con người”. Đời người như một kiếp ca công của Thượng Đế, “suốt đời chỉ biết ca hát để phụng sự Ngài, dầu chỉ là như một kiếp du ca, như khách lữ hành trên đường xa vạn dặm, mong ước tới ngày kết thúc cuộc hành trình”. Nỗi khắc khoải và niềm hy vọng của Tagore cũng là nỗi trăn trở và niềm hy vọng của mỗi người chúng ta, “khi chúng ta đang sống trong kiếp phận con người và nhất là những đan sĩ khoác áo ca công mỗi ngày hát ca trước mặt Thượng Đế.”
Nếu Tagore đã từng mong mỏi cuộc gặp gỡ chờ mong, thì hơn ai hết, đan sĩ lại càng sống mãnh liệt niềm khắc khoải đó; vì họ biết nơi sẽ đến, Đấng họ sẽ gặp gỡ và sống mãi với Ngài. Đan sĩ Duyên Thập Tự “muốn chia sẻ với độc giả vài tìm hiểu cá nhân về một trong những đối tượng của lòng khao khát nơi cha Biển Đức Thuận: Lòng khao khát được sống mãi bên Chúa, được diễn tả qua sự “KHAO KHÁT THIÊN ĐÀNG”. Nơi Cha Tổ Phụ, “nỗi chờ mong đó không phải là một thứ trốn chạy thực tế phũ phàng của cuộc đời, những gian lao vất vả của kiếp nhân sinh; tuy rằng khi đối diện với những điều không may xảy ra, ngài thêm xác tín “thế gian này không phải là thiên đàng” và ước ao mau “bay về cùng Chúa”. Khao khát thiên đàng nơi cha Biển Đức Thuận chính là khao khát Thiên Chúa, vì “chỉ có những ai yêu mến Thiên Chúa, mới khao khát sống với Ngài trong mọi nơi mọi lúc”.
Dầu vậy, khao khát thiên đàng, mong ước sống mãi bên Chúa, không làm cho đan sĩ trở thành những con người xa lạ với cuộc sống của tha nhân: thao thức sống với Chúa thúc đẩy đan sĩ “THAO THỨC VỚI ĐỜI”. Phải chăng đó là một nghịch lý? Đan sĩ Ephrem Trương Cường chọn cách nhìn “đan sĩ đang bước đi, đang thao thức với những hoàn cảnh và tình trạng đời sống con người hiện tại để đồng hành, hoà mình trong khoảnh khắc hạnh phúc hay khổ đau với tương quan xã hội, kết nối những mảnh đời đơn côi đan xen giữa những dòng nước mắt tội lỗi và thất vọng, để minh định cho thế giới thấy cái giá trị tâm linh có đó nơi những góc đời nhỏ hẹp”. Chính vì thế, “thao thức theo dòng đời không dừng lại ở thời gian, năm tháng, thuần tuý những biến cố, những sự kiện lịch sử, mà dòng chảy ấy phải lưu chuyển đến tận Thiên Chúa, qui hướng về Thiên Chúa. Đó là định hướng cuối cùng của thao thức”. Thao thức mang chiều kích tâm linh.
Tuy nhiên, để trung thực, tình yêu của đan sĩ phải như một vết dầu loang, phải từ trung tâm phát tán rộng lớn hơn; chính trong tư tưởng đó, anh Columba Marmion Nguyễn Văn Tuyền quảng diễn niềm thao thức về sự “HIỆP NHẤT” trong lòng cộng đoàn mình sống. Vì rằng “sống và xây dựng sự hiệp nhất trong cộng đoàn là điều ai cũng thao thức và khát khao! Bởi hiện hữu luôn là hiện hữu với, vì không ai là một hòn đảo”. Vì thế, “thao thức về sự hiệp nhất trong đời sống cộng đoàn là muốn diễn tả nỗi khát khao, nỗi lòng đau đáu đi tìm một lối sống, duy trì và mở ra hướng phát triển cho cộng đoàn”. Nhưng điều quan trọng là phải hướng tới sự hiệp nhất nào? Đó vừa là một câu hỏi nhưng cũng là một thách đố cho chúng ta, các đan sĩ sống đời viện tu. Điều đó giả định phải có sự giáo dục.
Viện phụ Hội Trưởng Dominico Phạm Văn Hiền chia sẻ “một số kinh nghiệm được tích luỹ gần 40 năm qua” với những “THAO THỨC ĐỐI VỚI VIỆC HUẤN LUYỆN ĐAN TU”. Người giáo dục mang một trọng trách rất quan trọng, vì “nhiệt tâm cộng thêm đời sống đạo đức gương mẫu của giáo sư là ngọn đèn cần được thắp lên trước mặt sinh viên. Nhưng làm sao giáo sư trở thành ngọn đèn được nếu như người chưa tiếp cận với Đức Kitô, Đấng Phục Sinh. Giáo sư có sáng lên chăng cũng là tiếp ánh sáng từ ngọn nến phục sinh đến từ những cây nến khác mà thôi”.
Còn về phía người được thụ giáo, điều quan trọng là phải tự rèn luyện mình, phải ấp ủ nỗi niềm thao thức trở thành môn đệ Chúa Kitô, một con người dám “SỐNG THEO SỰ THẬT”. Thật vậy, “thao thức của môn đệ Chúa Kitô là thao thức của đan sĩ luôn sống biến đổi nhờ gặp gỡ Đức Kitô, Đấng là Sự Thật; và sự thật sẽ giải phóng họ”. Nhưng, theo đan sĩ An Mai Đỗ, “thực tại biến đổi không phải một sớm một chiều đạt được, nhưng ví như bao thao thức liên miên, lời cầu nguyện liên lỉ, cuộc chiến trường kỳ trong khi sống các lời khấn, đặc biệt sống lời khấn canh tân”.
Tất cả những khía cạnh, những môi trường mà thao thức có thể tìm được chất liệu để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn, luôn phong phú và đa dạng. Có thể đó là “kiến thức, danh vọng, tiền tài, …và nhất là Chân-Thiện-Mỹ. Nhưng con người theo đuổi những khát vọng đó để làm gì?” Đan sĩ Berchmans Nguyễn Đức Tuyên đề nghị một con đường, đó là “BIẾT ĐỂ YÊU”. Nhưng “làm sao có thể yêu mình mà không ích kỷ? Yêu anh em mà không tìm tư lợi? Yêu Thiên Chúa mà không đặt điều kiện? Phải chăng chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh, và chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, là một nghịch lý cho những ai dám “yêu đến cùng”.
Xin gởi đến độc giả, nhất là anh chị em trong Hội Dòng, những bài viết nói lên niềm “THAO THỨC” được đề cập trong một số lãnh vực. Tuy còn nhiều giới hạn trong văn phong và tư tưởng, các tác giả muốn diễn tả “mối tơ lòng” đang ấp ủ trong tim óc, và mong ước được hiện thực nơi đời sống hằng ngày, trong định hướng của đời đan tu Xitô Thánh Gia.

Ban Biên Tập.

 

Mục Lục 

 

 

MONG CHỜ TRỜI SÁNG

 

 Thiên Giang

 

     Như bao người khác được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1, 27), Maria Macdala luôn mang nơi mình những khát vọng vô biên và hướng về Thiên Chúa là nguồn ánh sáng chân thiện mỹ. Chị đang thao thức đi từ bóng tối tới ánh sáng, chị đang muốn mở cửa lòng đón chờ hừng đông từ nơi Đấng toả chiếu ánh sáng trên cuộc đời tăm tối của chị (x. Ga 12, 46). Nỗi khao khát, niềm ước ao sâu thẳm nhất của lòng chị chỉ có thể lấp đầy bởi chính Đấng mà chị đã được dựng nên theo hình ảnh của Người. Như vậy, mong chờ trời sáng nơi chị cũng có nghĩa là mong chờ gặp Đức Kitô Giêsu – Thiên Chúa của chị, Đấng đã chết và đã sống lại, Đấng mang sự sống mới của niềm vui, niềm tin yêu và sức mạnh,để chị sẵn sàng ra đi loan báo cho người khác điều chị đã thấy, đã chạm tới và đã tin.

 

          I.TÌNH YÊU MỜI GỌI

     “Chúa Kitô kêu gọi chúng ta suốt đời”[1]. Chúng ta được mời gọi sống trong ánh sáng, để ánh sáng soi rọi vào tận thâm sâu tâm hồn, giải thoát chúng ta khỏi những vướng mắc của đam mê bụi trần, của ham muốn vọng tưởng. Nhìn ra Ngài bằng đôi mắt của trái tim và sẵn sàng cho ánh sáng Lời Chúa chiếu rọi trên cuộc đời, gặp gỡ và nhận ra Chúa trong ta, chung quanh ta; thấy Thiên Chúa đang hiện diện trong cuộc đời này và thấy Nước Trời ngay hôm nay, ngay nơi này. Vâng, Thiên Chúa vẫn đang âu yếm nhìn và gọi tên từng người, chẳng kể chúng ta là ai (x.Ga,3).

     Người thanh niên trong Tin Mừng được hạnh phúc gặp Chúa, được Chúa âu yếm nhìn và mời gọi theo Ngài, nhưng anh đã bỏ đi hết sức buồn rầu (x. Mc 17,22). Vì sao? Vì anh bám vào của cải, bám vào mình; anh không bám vào Chúa! Phần chị Maria Macdala, chị cảm nhận được sức hút mạnh mẽ của tình yêu Chúa với một khát vọng chạy theo Ngài (x. Dc 3,14), dù quá khứ của chị là một bóng tối dày đặc, nhưng  Chúa Giêsu đã đến trong cuộc đời chị, đón nhận chị với một tình yêu chữa lành. Ngài đã chiếm hữu và lấp đầy tâm hồn chị bằng tình yêu.Tình yêu Chúa mời gọi có sức sống mãnh liệt biến đởi chị, giúp chị có khả năng đáp lại điều mà tự sức riêng chị chị không thể làm được, đã soi sáng cho chị thấy nỗi khốn khổ của bản thân và nhận ra lòng thương xót vô biên của Ngài. Chính trong ánh sáng của Chúa tâm hồn chị tìm được an nghĩ, được đầy tràn niềm vui hạnh phúc, yêu mến Ngài bằng cả con tim và con người của chị “tôi đang cố gắng chạy tới,mong chiếm đoạt, bởi lẽ chính tôi đã được Đức Giêsu Kitô chiếm đoạt”(Phil 3,12). Đức Giêsu Ngôi Lời Thiên Chúa làm người đã đến với chị trong tình thân con người, từ nơi Ngài hẳn chị đã nhận được những lời tử tế, nụ cười nồng ấm, một cử chỉ làm yên lòng và hơn hết một bình minh cho ngày mới, một niềm hy vọng hướng về tương lai. Chị giũ bỏ đêm tối là giũ bỏ một quá khứ đã qua, quá khứ của lỗi lầm, của đam mê nơi con người trần thế với những nẻo đường quanh co, để trở về chính lộ với Đấng “là đường là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Chị đã gặp Chúa, đón nhận Chúa vào cuộc đời  mình; đã thay đổi cách nhìn, cách suy nghĩ và hình thành một cách sống mới, đặt nền tảng trên tình yêu của Đấng là nguồn sống, nguồn ánh sáng cho đời chị. Đấng cho chị biết rằng chị đã, đang và mãi mãi được yêu thương, được cảm nhận tình yêu mời gọi và sự quan tâm Ngài dành cho chị. Khám phá ra tấm lòng bao dung, từ ái của Thiên Chúa qua con người Đức Giêsu, cho chị một niềm tin tưởng vào thế giới an bình của Thiên Chúa,vì chị đã gặp gỡ Chúa Giêsu, Đấng “là Thiên Chúa làm người , đã liên kết Thiên Chúa nơi bản thân mình và liên kết mọi người với nhau, và giải đáp cho các khát vọng sâu xa nhất của họ” [2].

     Xã hội Do thái thời ấy coi rẻ người phụ nữ, nhưng Chúa đã tôn trọng và đưa chị vào trong sứ mạng cứu độ của Ngài, “ Cùng đi với Người có Nhóm Mười Hai và mấy phụ nữ đã được Người trừ quỉ và chữa bịnh” (x. Lc 8,1-3). Chúa Giêsu là thế, Ngài luôn luôn tỏ lòng nhân hậu của Thiên Chúa với mọi người. Ngài lôi kéo mọi người đến với ánh sáng tình thương của Cha, chẳng kể con hư con xấu (x. Lc 15,11-32). Nơi chị Maria Macdala, chúng ta thấy một cuộc gặp gỡ tình yêu và đổi đời. Từ nay bước theo Thầy, bước đi trong ánh sáng, chị sẽ thấy cuộc đời có ý nghĩa, cuộc sống của chị có một giá trị. Hôm nay, cánh cửa lòng chị đã bừng mở ra những đòi hỏi của một tình yêu đáp trả. Chúa gọi con tim chị quay ngược lại với quá khứ, một con tim trống rỗng khắc khoải  đã được lấp đầy bằng tình yêu thương xót của Chúa. Tình yêu giúp chị cảm nhận được như thánh Phaolô “Đức Giêsu Kitô đã đến thế gian để cứu những người tội lỗi, và người tội lỗi thứ nhất là tôi” (1 Tm 1,15). Chị được mời gọi cách nhưng không ơn hoán cải và tình yêu Thiên Chúa tặng ban cho chị, làm cho chị trở nên người biết yêu và  đầy tràn niềm vui. Nay chị sẳn sàng dâng hiến tất cả, trao phó trọn vẹn và để Thiên Chúa tự do dẫn dắt đời chị.

          Trần gian mang bao vết thương lòng Chúa chữa lành cho
          Đời gian truân cay đắng, vinh nhục một kiếp phù hoa
          Xin tình Chúa sưởi ấm tâm hồn
          Xin tình Chúa rửa hết bụi trần
          Cho thuyền đời nương nhẹ làn gió Thần Linh. . .
          Không mong gì chỉ tình yêu Chúa mà thôi
                                             (Thánh thi kinh đêm thứ năm , Tuần I)

 

          II.TÌNH YÊU MONG CHỜ TRỜI SÁNG

     Đêm và ngày là hai thời khắc luân phiên nhau nối tiếp của đời sống thể lý. Với những người không có ánh sáng đôi mắt, bóng tối là đêm dài triền miên, nhưng vẫn còn có niềm vui và hy vọng, nếu có một đôi mắt tinh thần trong sáng. Thế còn những người sáng đôi mắt thể lý, nhưng mắt tinh thần lại mù tối (Ga 9,41), thì cuộc đời họ dựa trên niềm tin nào? Đó chẳng phải là đêm dài của cuộc đời đó sao !

     Đức Kitô là mặt trời công chính, ánh sáng đã đến thế gian, chiếu soi nhân loại (x. Ga 1,9) đang lần bước đi trong đêm tối, đêm tối của giác quan, đem tối của niềm tin, đêm tối của sự sống và đêm tối  của niềm hy vọng, mong chờ rạng đông “Tôi là ánh sáng thế gian, ai theo tôi sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8, 12). Thánh nữ Maria Macdala đã đón nhận Lời này như quà tặng tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu đã đi xuống tận cùng, vì muốn giải thoát và cứu độ con người trong đó có chị, để đưa tất cả về với tình Cha. Chị đang mong chờ trời sáng! Trời sáng dấu hiệu của một ngày mới, một chân trời mới để chị ra đi đến với Đức Giêsu. Chị đã cảm nếm hương vị ngọt ngào của lời Ngài, của tình thương, của sức mạnh đổi đời. Chị mong mỏi gặp lại, muốn cắm lều ở gần Ngài nguồn vui của chị, Đấng đã làm cho con tim chị tươi nở sau những đêm dài sầu héo.

     Trong Tin Mừng Gioan, từ “Đêm” “tối”, chỉ về thế giới  của sự dữ, của thần tăm tối ngự trị (x. Ga 3, 30). Vì thế, mong chờ trời sáng chính là ước mong của các tổ phụ, của đoàn dân Chúa về một Mặt Trời công chính, Mặt Trời Cứu độ, báo hiệu giờ giải thoát khỏi bóng đêm ngàn đời của ngục tù xiềng xích satan trói buộc con cháu nguyên tổ (x. Lc 1, 69 –79 – Thánh ca Bênedictus). Còn tình yêu mong chờ nơi chị Maria Macdala là một nỗi niềm khao khát khôn nguôi. Chị tin vào lời Chúa nói: “Thầy là ánh sáng thế gian” (Ga. 9, 5). Nên trong Chị niềm khắc khoải mong chờ, khao khát ánh sáng Lời Chúa lại càng thôi thúc mạnh mẽ hơn. Lời đã đi vào cõi lòng sâu thẳm đem lại cho chị một đời sống tự do thật sự, chị muốn ở lại trong ánh sáng này, chị thao thức mong chờ trời sáng. Nhưng vì còn sống giữa trần gian nhiều thay đổi, nên  con người vẫn có những lúc phải lầm lũi bước đi trong bóng tối của niềm tin, với những đau thương, gian truân, nghiệt ngã của cuộc đời; phải đối mặt với cô đơn và chết chóc của thân phận con người. Cuộc đời chị Maria Macdala hạnh phúc và bừng sáng sau khi gặp gỡ Đức Giêsu, nhưng rồi bóng tối lại bao phủ tâm hồn chị như đã bao phủ trời đất khi Thầy bị án tử, đã chết, đã chôn Thầy trong  huyệt đá mới. Phải chăng trời chưa thật sự sáng trên cuộc đời chị? Đức Giêsu đã chết ! Thiếu vắng Thầy, tâm hồn chị không tìm được nơi an nghỉ, chị đang ở trong sự đau khổ khốn cùng của một tạo vật trước ngõ cụt của sự chết. Tất cả những gì đã xảy ra cho thầy thật quá đau thương cho một tâm hồn yêu mến tinh tế như chị. Trời chưa sáng, nên niềm thao thức mong chờ trời sáng lại càng dâng cao trong chị. Và ngay khi trời tờ mờ sáng (Ga 20, 1), chị liền tất tả ra đi, dù niềm tin vào Đức Kitô Phục sinh trong chị còn mỏnh manh, mờ nhạt như làn sương đêm; thì tình yêu mến Thầy đã thúc bách chị lên đường mong thấy lại thi hài của Thầy. Trời chưa sáng tỏ, ánh sáng Chúa Giêsu Phục sinh chưa dọi chiếu vào tâm hồn chị.

     Chị  Maria Macdala chính là đại diện của đoàn dân đang lần bước trong đêm tối mong chờ ánh sáng, đang lầm lũi bước đi qua đêm dài cô đơn thất vọng. Chúa Giêsu đã đến làm mới lại nơi con người vẻ đẹp nguyên tuyền, đưa con người đi qua bóng tối, vượt qua chính mình, để từ ngôi mộ trống cuộc đời con người được mở ra đón nhận chính Chúa, đón nhận Thần khí  Phục sinh. Anh sáng đã phá tan đêm tối, niềm vui phục sinh đã vượt qua những mất mát đời thường. Trời hừng sáng, con người cũng được cùng Ngài bước vào trong vinh quang Phục sinh. Từ nay cái chết không còn là một chấm hết nhưng là khởi đầu một đời sống mới,“một ngày mới đang đến với chị trong con người của chị và chị chờ đợi Chúa trong chính chị. Đó là ngày Sabat, ngày của Chúa, là tiến trình từ bỏ bóng tối để vào ánh sáng, là thấm nhập vào thế giới của Thiên Chúa.Yêu say đắm mà cũng mòn mỏi đợi chờ” [3].

     Chị Maria Macdala cũng là hình ảnh của mỗi người chúng ta trong cuộc sống hôm nay, luôn luôn khắc khoải, tìm kiếm trong bóng đêm cuộc đời. Chúng ta cũng mong chờ trời sáng trên cuộc đời chúng ta nhưng là để có một tương lai tốt đẹp hơn, một cuộc sống dễ thở hơn, một nghề nghiệp ổn định hơn, hay một ước vọng, tình yêu hạnh phúc hơn như bao ước mơ của những con người chưa biết Chúa, chưa được ánh sáng Chúa chiếu soi. Theo gương chị Manalenna, chúng ta biết mong chờ ánh sáng Đức Kitô toả chiếu, giúp chúng ta nhìn thấy và hiểu những gì đang xảy ra trong cuộc đời dưới ánh sáng Đấng Phục sinh, để chúng ta được đầy tràn niềm vui, sức mạnh can đảm và hy vọng sống chứng nhân cho con người hôm nay rằng Đức Kitô Phục Sinh đang hiện diện bên chúng ta, trong những hoạt động thường ngày của chúng ta. Trời  sáng, đây chính là giây phút chị Maria Macdala cũng như chúng ta  mong chờ và Đức Kitô Phục Sinh chính là Tình Yêu, là Anh Sáng. Nơi đâu có tình yêu nơi đó có ánh sáng và chị Maria Macdala đã gặp được tình yêu, gặp được ánh sáng.

 

                    III.TÌNH YÊU PHỤC SINH

     Ngày thứ nhất trong tuần, Madalenna ra mộ từ sáng sớm, khi trời còn tối (x. Ga 20,1). Ngày thứ nhất sáng tạo Thiên Chúa dựng nên ánh sáng, cũng là ngày thứ nhất trong Chúa Giêsu Kitô vinh hiển, Ngài là ánh sáng chiếu soi vào chốn tối tăm (x. Ga1,5):

               Lạy mặt trời mọc lên từ lòng đất
               Vào rạng đông ngày thứ nhất trong tuần
               Đêm âm u chợt bừng sáng hân hoan
               Đất ca hát và núi đồi múa nhảy
               Sức sống vô biên từ bình minh ấy
               Vinh hiển khải hoàn âm phủ tiêu tan
               Để từ đây tất cả những người tin
               Được cứu thoát khỏi tử thần giam giữ
               Ngày của Chúa lạy Ngôi Hai Thánh Tử
               Diệu kỳ thay chính Chúa đã làm nên
               Để muôn loài trong hoàn vũ ngợi khen
               Và hoan hỷ mừng Mặt Trời Công Chính
     Lời ca của thánh thi kinh sáng chúa nhật II thường niên trên đây cho chúng ta  một cái nhìn thần học tổng quát về Đấng Phục Sinh. Và “để diễn tả sự hiện diện của Đức Giêsu Kitô các thánh sử dùng động từ Hylạp thường dịch là Người hiện ra, nhưng sự thực nó có nghĩa là Người tự cho thấy. Nghĩa là sau khi sống lại, Đức Giêsu thuộc về thực tại mà bình thường giác quan chúng ta  không cảm thấy được. Ngài cho ta biết qua Maria Macdala, hai môn đệ Emmau và những người khác, khi nào Ngài muốn” [4].

     Rạng đông chỗi dậy sau đêm tàn, chị Maria Macdala ra đi khi trời còn tối và gặp Chúa trong lúc trời tối sáng chưa tỏ nên chị đã không nhận ra Ngài. Hay Đức Kitô Phục Sinh là một thực tại quá mới mẻ, nên chị cũng như các tông đồ không ngờ; mặc dù trước đây đã nhiều lần Chúa mặc khải về cái chết và Phục Sinh của Ngài (x.Mt 16,21; Mc 8,31; Lc 9,22). Phải chăng nỗi khổ sầu đã khiến chị quên hết lời loan báo phục sinh của thầy, chị chỉ còn nhớ đến nỗi mất mát vô phương hàn gắn, Chúa hiện ra với chị, chị vẫn khóc tưởng đó là bác làm vườn. Phải chăng Chúa Kitô Phục Sinh khởi đầu cho một giai đoạn mới, giờ đây sứ điệp loan báo tin mừng được khởi đi từ Đấng Phục Sinh và không phải người môn đệ tìm kiếm một Giêsu Nazaret nữa mà là tìm kiếm một Đức Giêsu Phục Sinh. Và chúng ta  thấy Ngài như thế nào trong mảnh vườn thế giới hôm nay? Ngài có phải là một Ai đó cần thiết nhất cho cuộc đời tôi không? Hay Ngài chỉ gây thêm rắc rối, vướng bận cho tôi? Hay Ngài chỉ là người làm vườn như bao người khác? Như chị Maria Macdala thấy mà không biết là Chúa Giêsu! Vì chị chỉ mong tìm kiếm thân xác một Giêsu đã chết, dù để ướp hương kỷ niệm, nên làm sao có thể nhận ra một Chúa Giêsu đã sống lại trong thân xác vinh hiển. Nhưng niềm tin chị vẫn chưa sáng tỏ, Ngài cần phải gọi chính tên chị, chị mới nhận ra Ngài đang sống (x. Ga 20,11). Nhưng nhận ra rồi niềm tin của chị vẫn chưa sáng tỏ, chỉ khi Ngài thân tình nói lời sai đi, khi đó chị mới hiểu, mới sáng mắt lòng để nhận biết thân xác vinh hiển của Ngài bằng một niềm tin tưởng hoàn toàn vào Đức Kitô Phục Sinh.

     Nay chị đã nghe, đã thấy, đã đụng chạm, niềm tin nơi chị cũng như các tông đồ được bừng sáng trong ánh vinh quang của Đấng Phục Sinh, qua đó các ngài cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa dành cho con người, tình yêu đã bị con người từ chối và giết chết. Nhưng nay Đấng là tình yêu đã chiến thắng, sự chết không còn thống trị thế gian, tất cả đều bừng sáng soi rọi vào mọi ngõ ngách của cuộc đời con người. Mong chờ từng bước tiến tới một niềm tin mới. Đức Kitô Thiên Chúa của sự sống, Ngài luôn luôn hiện diện và tất cả đã thay đổi, cuộc sống mới đã khởi đầu, trời đã sáng cho chị và cho mọi người. Cuộc đời của chị và những ai gặp gỡ Đấng Phục Sinh từ nay sẽ thăng hoa, không còn nằm im trong vũng lầy êm ái nữa, một sự biến đổi tận căn. Giờ đây, họ là những con người đang bước vào trong ánh sáng; được bao phủ bởi ánh sáng ngày mới, cái nhìn, cuộc sống, suy tư đã thay đổi, tất cả đều hiện rõ và được đặt vào đúng vị trí, giá trị của nó dưới ánh sáng Đấng Phục Sinh. Một sức sống mới lan tỏa, một cuộc sống biết đón nhận và sẻ chia, một tâm hồn rộng mở cho chính mình, cho Thiên Chúa và cho tha nhân. Giờ đây “tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20).

     Trong thế giới này, Chúa Kitô vẫn đang sống, đang hiện diện, nhưng nếu chúng ta chỉ tìm Ngài theo cách thức của chúng ta, chúng ta cũng chẳng nhận ra Ngài. Có thể chúng ta cũng sẽ từ chối ngài và chúng ta cũng sẽ tiếp tục đóng đinh Ngài, vì “chúng ta chỉ có thể nhìn được Ngài trong ánh sáng của Ngài, và có chỉ thể yêu mến ngài trong chính tình yêu của Ngài mà thôi”. Để gặp Ngài, nhận biết Ngài chúng ta cần buông ra cho ân sủng, để Thiên Chúa tỏ hiện cho chúng ta theo cách thế Ngài muốn. Ngài muốn được tự do hiện diện và hoạt động nơi chúng ta, và chuẩn bị cho sự sống lại của chính chúng ta (x. Pl 3,21), là được sống lại cùng với Đấng Phục Sinh (x.Cl 3,4). “Chính nhờ sự Phục Sinh mà Giáo hội của Chúa Kitô có được tính sâu sắc và năng lực mời gọi, vì sự Phục Sinh tạo cho chúng ta niềm hy vọng cuộc đời chúng ta sẽ được biến đổi”[5]. Chúa Kitô Phục Sinh đã chiếu dọi ánh sángvào tận nơi sâu thẳm của tâm hồn chị Maria Macdala, biến đổi chị từ trong nội tâm. Chị vẫn là Maria Macdala, nhưng nay đã là một con người mới hoàn toàn sống cho tình yêu, sẵn sàng theo Chúa. Chị yêu Chúa mãnh liệt bằng chính tình yêu Chúa đã yêu Chị. Từ nay chị sống một đời sống mới, Mặt Trời đã chiếu sáng, chị không còn là nô lệ của đêm tối nữa mà là con cái của Ánh Sáng, toả chiếu ánh sáng tình yêu của Đấng Phục Sinh (x. 1Tx 1,4-5 ).

     Đức Kitô Phục Sinh khởi đầu cho một thời đại mới của nhân loại hướng về ngày cánh chung. Còn tôi, tôi có nhận ra Chúa Kitô Phục Sinh đang hiện diện trong cuộc đời tôi và trong cuộc đời anh chị em tôi không? Điều đó có thay đổi gì nơi tôi không? Hay tất cả đều bình thường? “chỉ có đức tin tinh tuyền mới có thể nắm bắt sự hiện diện ấy và biến nó thành mặt trời và điều kỳ diệu của cuộc đời tôi” [6]. Hướng về ngày hừng đông, ngày cánh chung, chúng ta mong chờ Đức Kitô tỏ hiện ánh vinh quang, vì ngay từ bây giờ chúng ta đã được dự phần  vào sự sống lại của Ngài, mặc dù sự sống mới của chúng ta vẫn còn ẩn dấu nơi Thiên Chúa (x. Cl 3, 3). Hừng đông lên sau đêm tối tăm, cuộc khổ nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô mang ý nghĩa cứu độ. Từ nay, con đường Ngài đi sẽ là con đường người môn đệ tiếp bước, đổi mới đời sống để cùng sống lại với Đức Kitô (x. Rm 6,8). Và được mời gọi làm chứng nhân cho Đức Kitô Phục Sinh, cho niềm tin, niềm hy vọng, cho niềm vui và sự tự do của con cái Chúa (x. Cl 1,10-14). Chúng ta “không còn sống cho chính mình nữa nhưng là sống cho Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta” (2Cr 5,12).

 

          IV. TÌNH YÊU ĐƯỢC SAI ĐI

     Trong Giáo hội, sự phục sinh của Đức Kitô là tâm điểm của niềm tin và hy vọng của người tín hữu, đồng thời soi sáng và đổi mới mọi thực tại trần thế [7]. Chị Maria Macdala đã gặp được Đấng phục sinh, chị vui mừng ôm lấy chân Thầy, chị không muốn rời Thầy. Nhưng Ngài đã nói: “đừng giữ Thầy lại… hãy đi gặp anh em Thầy” (Ga 20, 16-17). Ở đây, chúng ta cảm nhận được niềm reo vui ngây ngất nơi chị. Qua những thao thức chờ mong, bây giờ là lúc tâm hồn chị bừng sáng, được soi chiếu bởi niềm xác tín về sự hiện diện của Đấng phục sinh, chị đã gặp, đã nghe, và đã chạm tới. Chúa gọi tên chị, cùng với lời sai đi, giao phó một sứ mạng (x Ga 20, 17-18), và chị đã khiêm tốn mau mắn chạy đi. Từ mộ đá chị lại một lần nữa ra đi, lần trước chị chạy về trong đau khổ, lần này chị chạy đi trong vui mừng, hân hoan loan báo tin mừng, tin vui với một niềm xác tín: Chúa Giêsu đã sống lại, chị đã gặp gỡ Ngài và giờ đây chị mạnh mẽ báo lại cho các tông đồ. Như vậy, chị Maria Macdala là người đầu tiên được giao phó sứ vụ loan báo tin mừng Chúa đã phục sinh. Chị đã trở thành tông đồ của các tông đồ.

     Bởi đâu chị có hạnh phúc này ? Bởi chị đã sống tình yêu mời gọi của Chúa, một tình yêu đáp trả tình yêu. Tình yêu kiên vững của chị đã theo Chúa qua các chặng đường thập giá, dưới chân Chúa trên đồi tử nạn, lúc tháo xác an táng Chúa trong huyệt đá và từ “sớm tinh sương” ngày thứ nhất, bên mộ đá chị vẫn đứng đó với một tình yêu bền bỉ, thổn thức với tình yêu. Dù khi đó lý trí cho chị biết rằng Chúa đã chết an táng trong mộ. Nhưng tình yêu Chúa nơi chị không chết và chị đã được tình yêu đáp trả, Ngài đã tỏ mình ra cho chị, ánh sáng Đấng phục sinh sẽ soi chiếu suốt đời chị và những ai tin nơi Ngài (x. Ga 21, 31).

     Chị Maria Macdala vội chạy đi báo cho các tông đồ. Đây là một tinh thần sai đi của ánh sáng, một thao thức mau mắn loan báo tin mừng bằng lơì nói và nhất là bằng chứng tá đời sống. “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi” (2Cr 5,14). Đức Kitô phục sinh hôm nay cũng đến biến  đổi tâm hồn chúng ta và đem lại nguồn sinh lực mới, thôi thúc chúng ta đến với Chúa và dấn thân loan báo Tin Mừng cứu độ vì phần rỗi anh chị em. Chúng ta có thể cùng chị nói như thánh Phêrô “Bạc vàng thì tôi không có; nhưng cái tôi có tôi cho anh: nhân danh Đức Giêsu Kitô” (Cv 3,6). Trong đời sống người môn đệ theo Chúa, chúng ta được mời gọi sống Tình Yêu Thiên Chúa trong mọi biến cố, mọi giây phút cuộc đời. Dù đôi khi đứng trước những ngã rẽ quyết liệt, hay những đường hầm tăm tối, thì tình yêu Đấng phục sinh vẫn là ánh sáng soi đường dẫn lối. Thiên Chúa luôn luôn mời gọi chúng ta mở cửa tâm lòng để ánh sáng Ngài soi chiếu và nhận ra Ngài nơi tha nhân, nơi mỗi người chúng ta gặp gỡ trên đường đời.

     Như chị Maria Macdala, hôm nay Chúa Kitô vẫn đang hiện diện sống động và mời gọi chúng ta, gieo vào lòng chúng ta niềm khao khát kiếm tìm chân lý, mong chờ ánh sáng phục sinh soi dọi vào tâm trí và được Ngài sai đi. Là đan sĩ, chúng ta cũng là Kitô hữu, là môn đệ và “là dòng giống được lựa chọn, hàng tư tế hoàng vương nước thánh thiện, dân được chọn làm sở hữu của Thiên Chúa, ngõ hầu anh em loan truyền những kỳ công của Đấng đã gọi anh em từ nơi u tối vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền” (1Pr 2,9). Chúa Kitô phục sinh trong từng giây phút của cuộc sống con người hôm nay và mãi mãi (x.Dt 13,8). Đó là khi chúng ta dứt bỏ bóng tối của đam mê tội lỗi, nghi nan. Khi lòng thương cảm bao dung tha thứ được tỏ ra, khi người nhìn người sống để thương nhau, khi con người chung tay xây dựng cuộc sống, khi niềm tin loé sáng trong đau khổ thử thách và khi tình yêu được thắp sáng lên trong tim. Ngược lại, nếu chúng ta còn hờ hững với những vui buồn của tha nhân; còn buồn phiền đau khổ, còn mất niềm tin, mất niềm an vui hy vọng là vì chúng ta chưa cảm nhận được sức mạnh của Đấng phục sinh, chưa cảm nhận được Chúa đồng hành cùng ta tiến bước trên đường đời mỗi ngày.

     Mỗi sáng thức dậy, chúng ta mong chờ một ngày mới phục sinh trong đời với đầy tràn niềm vui tín thác vào ân sủng Chúa; và mang sứ điệp đó đến với mọi người, cùng nhau sống hạnh phúc và hy vọng sống lại trong ánh sáng rạng ngời của Đức Kitô, làm chứng tá cho nước trời mai sau.

     Người ta có thể làm chứng cho Đức Kitô bằng nhiều cách, trong đó đan sĩ cũng có cách thế riêng của mình là men, là muối, là hương thơm cho đời “hữu xạ tự nhiên hương”. Đời đan sĩ tuy âm thầm kín ẩn, nhưng tự nó có sức lan tỏa và bay xa. Đó chính là sức mạnh của Thần khí, sống tình yêu Đức Kitô phục sinh là sống theo Thần khí (Gl 5,16). Muốn làm chứng phải sống Đức Kitô phục sinh, sống sự hiện diện của Người trong chính đời sống chúng ta “anh em phải sẵn sàng biện bạch cho bất cứ ai hỏi lẽ anh em về niềm hy vọng có nơi anh em” (1Pr 3,15). Là tác nhân của lòng tin[8]. Một đời sống trong đó đan sĩ “cố gắng hướng tầm mắt và cõi lòng về Thiên Chúa mà chúng ta gọi là chiêm niệm trở thành hành vi cao cả và sung mãn nhất của tinh thần, hành vi mà cả ngày nay cũng có thể và phải chỉ đạo mọi sinh hoạt rộng lớn của con người”[9]. Sau khi Chúa Giêsu lên trời, công việc của các tông đồ, môn đệ, người Kitô hữu cũng như chúng ta hôm nay là tin, yêu mến Đức Kitô trong thân thể Người là Giáo hội, là phục vụ tha nhân, và ai cũng có thể trở nên chứng nhân cho người khác. Đan sĩ được Giáo hội mời gọi sống Đức Kitô phục sinh, là men là muối giữa lòng đời.

     Để kết thúc phần này xin đọc lại văn kiện chiều kích chiêm niệm của đời tu: “như một hành vi cuốn hút con người lao mình về Thiên Chúa, chiều kích chiêm niệm bộc lộ trong việc lắng nghe và suy gẫm lời Thiên Chúa, trong sự thông hiệp vào đời sống thần linh, được thông ban cho ta nơi các bí tích, cách riêng bí tích Thánh Thể, trong kinh nguyện phụng vụ và cá nhân ước vọng liên tục tìm kiếm Thiên Chúa và thánh ý Người nơi các biến cố và nơi con người, trong sự hiến mình cho tha nhân để Nước Thiên Chúa mau đến. Nơi người tu sĩ, chiêm niệm nảy sinh một thái độ hằng khiêm tốn tôn thờ sự hiện diện nhiệm mầu của Thiên Chúa nơi con người, nơi các biến cố, và các sự việc thái độ được nhân đức thờ phượng diễn tả, là nguồn của sự bình an nội tâm, đồng thời đem lại bình an cho môi trường sống và làm việc tông đồ. Tất cả những điều trên được thực hiện nhờ một sự thanh tẩy nội tâm tiệm tiến và dưới ánh sáng cũng như sự hướng dẫn của Thánh Thần, nhờ đó chúng ta có thể gặp gỡ Thiên Chúa trong mọi sự và  trong mọi người, để trở nên “lời ca ngợi vinh quang Thiên Chúa ” (Ep 1,6). Như thế, trong chính bản chất của đời thánh hiến , chiêm niệm chính là cội rễ thâm sâu nuôi dưỡng và hiệp nhất tất cả mọi biểu lộ hiện hữu của các tu sĩ nam nữ” [10]. Nói tóm lại, chiêm niệm cầu nguyện và loan báo Tin mừng luôn đi đôi với nhau- dù bạn là ai.

 

          KẾT LUẬN

     Ánh sáng Đức Kitô phục sinh đã bừng lên chiến thắng tối tăm, niềm vui, tin yêu, hy vọng đã và đang toả sáng trên cuôc những ai tin vào Đức Kitô Giêsu. Lộ trình đức tin của thánh nữ Maria Macdala thật gần gũi với con người chúng ta hôm nay, cùng mang thân phận mỏng dòn hèn yếu của một kiếp người. Cho chúng ta thêm vững tin vào và tình yêu của Đấng đã chiến thắng tử thần và tội lỗi. Cho chúng ta cảm nhận mình thật sự cần một Ai đó để yêu thương và biết mình được yêu thương, có mời gọi – có mong chờ – có sống lại – được sai đi. Niềm vui sâu xa của Đấng phục sinh đã và đang giúp chúng ta vượt qua gian nan đau khổ trên đường đời, để có một con tim rộng trải dài cùng thế giới, cùng “vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12,15). Để mỗi sáng thức dậy chúng ta sống một ngày mới, mang sứ điệp tin yêu của Đấng phục sinh đến với mọi người bằng một con người mới “cần có lửa trong tim, cần có lời nói trên môi và cái nhìn ngôn sứ [11]. Như vậy chúng ta sẽ không bước đi cô đơn trong đêm tối giữa trần thế này, vì biết rằng có một Ai đó đang hiểu, đang yêu thương và luôn ở bên cạnh ta trên đường đời. Con người ấy là “Đức Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi”.

 

 

 


 

[1] HY NEWMAN, Tiếng gọi của Đức Kitô trong thời đại mới, tr. 240.

[2] ACQUES LACOURT. Tuổi trẻ đức tin và cuộc sống. tr.39 (Quetios sur la vie et la foi),  Nxb. Lion de juda 1990.

[3] IOAN CHITTISTER , Sống trong áng sáng (Illumiated life) ; Anne Nguyễn dịch .

[4] Hồng Y RATZINGER, Thiên Chúa của Đức Giêsu kitô, tr. 102 – 103.

[5] M.J. Le GUILLOU, Kitô hữu giữa lòng đời, tr 200.

[6] ANDRE SÈVE, Avec  Jésus. Qu’est ce que tu as? (với Chúa Giêsu bạn sống thế nào? Tr 190.

[7] x. HIẾN CHẾ MẠC KHẢI số 4

[8] X. HIẾN CHẾ TÍN LÝ VỀ GIÁO HỘI (LG) số 10,12; SẮC LỆNH VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO (AG) số 21.

[9] Giáo huấn của Đức Giáo Hoàng PHAOLÔ VI, ngày 7/12/1965.

[10] Chiều kích chiêm niệm của đời tu I,1 Dimensio Contemplativa: 12/8/1980.

[11] Giáo huấn của Đức Giáo Hoàng PHAOLÔ VI (1972), Vatican 1973, tr. 1210- 1211.

 

 

 

 

 

TẤT CẢ VÌ ĐỨC KITÔ

   

Hòa Vũ

 

Dẫn nhập

    Một trong những sự kiện gây kinh ngạc cho những người nghiên cứu lịch sử Kitô giáo là sự phát triển cực kỳ nhan chóng của nó vào những thế kỷ đầu. Thực vậy, tuy không biết Tin Mừng đã xâm nhập La-mã từ lúc nào, nhưng người ta chắc chắn rằng, ngay dưới triều hoàng đế Claudius (41 – 54) đã có nhiều Kitô hữu hiện diện tại đế đô này. Theo sử gia Sueto, tại đây vào khoảng năm 45 – 46, đã có những cuộc trnh luận sôi nỗi giữa cộng đoàn Do Thái La-mã về vấn đề một người tên là “Clirestos” và do đó, xảy ra một cuộc khủng hoảng khiến hoàng đế phải ra chiếu chỉ trục xuất tất cả những người Do Thái ra khỏi đế đô. Như vậy, chỉ độ 16 năm sau khi Chúa Giêsu lên trời, Giáo Hội nguyên thuỷ ở Giêrusalem (châu Á) đã lan rộng tới trung tâm đế quốc La-mã (châu Au). Sử liệu cũng cho biết, ngay từ nửa sau thế kỷ I sang thế kỷ II, các giáo đoàn không chỉ có mặt rải rác khắp đế quốc La-mã mà còn vượt ra ngoài ranh giới đế quốc đến tận các sứ Partha, Scythia, Merop, Tamia, Assyria v.v…

    Cuộc phát triển cực kỳ mau lẹ cua Kitô giáo đã khiến nhà cầm quyền thực sự lo ngại về một nguy cơ chính trị từ phía tôn giáo mới và do đó, ra sức tìm biện pháp đối phó. Kết quả là một cuộc bách hại đẫm máu mỏ màn dưới triều hoàng đế Néron (54 – 68). Năm 64, Hoàng đế ra lệnh giết thánh Phêrô rồi ba năm sau, thánh Phaolô cùng nhiều Kitô hữu phải chung một số phận. Nhưng càng bách hại, Kitô giáo lại càng phát triển mạnh mẽ. Cuối cùng, khi chính Hoàng đế Constantinus nha nhập Kitô giáo và ra chiếu chỉ Mi-lan vào năm 312 thì tôn giáo này đã lan rộng khắp nơi và đã trở thành tôn giáo chính thức của đế quốc La-mã. Thành công này quả là một sự kiện hết sức lạ lùng, có thể nói là chưa từng xảy ra trong lịch sử phát triển các tôn giáo trên thế giới.

    Do đâu cuộc truyền bá Phúc Am đã thu được thành quả kỳ diệu như thế?

    Dĩ nhiên là do nhiều nhân tố phối hợp, siêu nhiên cũng như tự nhiên, mà cụ thể hơn là do công lao của một đội ngũ cán bộ truyền giáo ưu tú, gần các tông đồ, các môn đệ và các Kitô hữu đầu tiên… mà nổi bật nhất hẳn là thánh tông đồ Phaolô.

 

               1.VÌ TÌNH YÊU ĐỨC KITÔ.

    Trong thư gởi tín hữu Corintô, thánh Phaolô viết: “tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng: Đức Kitô đã chết thay cho mọi người để những ai đang sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2 Cr 5, 14 – 15). Quả là một câu nói tuyệt vời, khả dĩ tóm tắt cả cuộc đời của thánh nhân.

    Vâng, đúng thế! Vì tình yêu Đức Kitô, thánh Phaolô đã tận hiến đời mình cho công cuộc rao giảng Tin Mừng hầu giúp mọi người ý thức và chu toàn ơn gọi cao cả của mình là: Sống vì Chúa Giêsu, Đấng đã chết thay cho mọi người. và khi thánh nhântuyên bố: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 21) thì lời khẳng định đã chúng tỏ không những ơn gọi cao cả nói trên đã được ngài đáp ứng một cách viên mãn mà tình yêu của ngài đối với Đức Kitô cũng đã đạt tới độ tuyệt vời. Chính vì tình yêu này mà thánh Phaolô luôn thao thức băn khoăn, khi nhìn thấy quanh mình còn có những người chưa nhận biết và yê mến Đức Kitô và chính tình yêu ấy là lý do khiến thánh nhân bị thế gian cho là điên dại.

    Vâng, chính vì để mọi người nhận biết và yêu mến Đức Kitô mà thánh Phaolô đã tận dụng tất cả, từ hoàn cảnh, phương tiện đến khả năng… để loan báo Tin Mừng khắp mọi nơi.

    Trước hết vì tình yêu Đức Kitô, thánh phaolô đã chấp nhận hết mọi khổ dau, bất luận từ đâu đến. Về diểm này, ngài đã từng thổ lộ tâm tình: “vì Tin Mừng ấy tôi chịu đau khổ, tôi còn phải mang cảc xiềng xích như một tên gian phi. Nhưng Lới Chúa đâu bị xiềng xích! Bởi vậy, tôi cam chịu mọi sự để mưu ích chpo những người Thiên Chúa đã chọn để họ cũng đạt tới ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô và được hưởng vinh quan muôn đời” (2Tm 2, 8 – 10).

    Hoặc: “Nếu tôi đau khổ ấy là vì Đức Kitô. Nhưng tôi không hổ thẹn, vì tôi biết tôi tin vào ai và xác tín rằng: Ngài có đủ quyền năng bảo toàn giáo lý đã được giao phó cho tôi, mãi cho tới ngày đó” (2Tm 1,12).

    Nơi khác thánh nhân viết: “Tôi đau khổ nhưng vì kẻ khác, là vì toàn thể Giáo Hội, vì sự nghiệp Đức Kitô. Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Ngài là hội thánh”. (1Cl 1, 224-25)

    Thánh Phaolô không ngừng bôn ba khắp chốn để rao giảng Tin Mừng. Ngài đi đâu là ở đó nổi lên một cơn giông tố, nhiệt liệt hoan nghênh một bên và cựu lực chống đối bên kia. Chính lực lượng chống đối này gây cho ngài không biết bao nhiêu đau khổ: nào vu khống, lăng nhục, nào đánh đập ném đá, nào tống ngục…, nhưng bất chấp tất cả, ngài vẫn tiếp tục công việc. Ta hãy nghe ngài kể những gian khổ ngài phải chịu trong các cuộc truyền giáo: “năm lần tôi bị người Do-thái đánh bốn mươi roi bớt một, ba lần tôi bị đánh đòn, một lần bị ném đá, ba lần bị đắm tàu, một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi. Toôi còn hơn họ vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm do dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, nguy hiểm trong sa mạc, nguy hiểm ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải bị thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng. Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt  hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả Hội Thánh! Có ai yếu đuối mà tôi không cảmthấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi không thấy lòng sôi lên? (2Cr 11, 23-33).

    Ngoài những đau khổ phải chịu do người ta hoặc tai nạn gây ra, thánh nhân còn tự nguyện làm tất cả những gì có thể làm được để mở rộng Nước Chúa. Ta hãy nghe ngài tâm sự: “Tôi sẵn sàng làm tất cả để bảo vệ chân lý của Tin Mừng” (Gl 2,5). Hoặc: “Phải, tôi là người tự do không lệ thuộc ai, nhưng tôi đã trở nên nô lệ cho mọi người hầu chinh phục thêm nhiều người” (1Cr 9,19).

    Nơi khác, ngài viết: “Tôi đã trở nên yếu đuối voới những người yếu đuối để chinh phục những người yếu đuối. Tôi đã trở nên tất cả để hoà mình với mọi người hầu bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng

    Ngài chấp nhận tiêu hao vì Tin Mừng (2Cr 12, 15), miễn sao Đấng ngài yêu mến được mọi người yêu mến”. “Sống đối với tôi là Đức Kitô” (Pl 1, 21).

    Hơn nữa, vì Đức Kitô Ngài sẵn sàng hy sinh cả tính mạng mình như ngài đã viết: “Tôi sẵn sàng hiến cho anh em không chỉ Tin Mừng.Tôi sẵn sàng hiến cho anh em không chỉ Tin Mừng mà cả mạng sống tôi”(1Tx 2,4). Nơi khác, ngài còn nói mạnh mẽ hơn nữa: “Giờ đây khi Thần Khí buộc tôi về Gierusalem mà không biết những gì sẽ xảy ra cho tôi, trừ ra điều này là: tôi đến thành nào thì Thánh Thần cứ nhắc đi nhắc lại tôi rằng xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi. Nhưng mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng là gì, miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận từ Chúa Giêsu là long trọng làm chứng cho Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa”(Cv 20,22-25).

    Về hoạt động tông đồ của thánh Phao lô, ngoài 13 bức thư mục vụ là tài liệu thần học vô cùng quý giá, chứa đựng giáo lý sâu sắc, làm kim chỉ nam cho Giáo Hội qua mọi thời, ta phải đặc biệt đề cao ba cuộc hành trình truyền giáo của ngài: hành trình I từ năm 45 đến 48, hành trình II từ năm 49-52, hành trình III từ 53-57. Trong các cuộc hành trình này, ngài có cơ hội đi truyền giáo nhiều nơi như: đảo Chypre, miền Tiểu Á, xứ Macedonia và Hy lạp, đến nơi nào trước hết thánh nhân rao giảng cho người Do thái trong các hội đường, nhưng khi bị họ chống đối quá kịch liệt thì ngài quay sang giảng cho dân ngoại và thế là nơi đó nảy sinh một trung tâm Kytô giáo…Trong 12 năm trời(45-57), thánh nhân gầy dựng được nhiều giáo đoàn và biến những trung tâm ấy thành bào thai của tôn giáo hoàn cầu. Thế nhưng chính vì nhiệt tâm truyền giáo này mà ngài đã phải trả giá bằng chính mạng sống mình. Ngài đã bị kết án chém đầu vào năm 67 ở Tre Fontane (Rôma) dưới thời hoàng đế Nêron.

 

                2.CUỘC BIẾN ĐỔI MẦU NHIỆM

 

        a.Biến cố Damas

    Bàn về thánh Phaolô mà không nhắc tới biến cố ngã ngựa của ngài trước cổng thành Damas là một thiếu  sót hết sức quan trọng. Thực vậy, bỏ qua điểm quy chiếu then chốt này, ta không thể hiểu trọn vẹn những điều vừa trình bày trên liên quan đến tình yêu mạnh liệt của ngài đối với Đức Kitô, niềm hăng say truyền giáo cũng như nhiều sự kiện quan trọng khác mà chú yếu là cuộc hoán cải đột ngột của ngài. Quả thế, nếu không biết rõ về biến cố Damas, người ta không sao giải thích được người biệt phái vừa thông thái vừa quá khích như thánh Phaolô, vốn đã tiêu diệt Kytô giáo và danh thánh Đức Kitô lại đội nhiên trở thành một chiến sĩ hăng say truyền bá tôn giáo ấy và tự nguyện làm “đầy tớ” vô điều kiện cho vị giáo chủ là Đức Kitô. Phải chăng vì biến cố Damas có một tầm quan trọng đặc biệt như vậy nên đã được sách Công Vụ Tông Đồ tường thuật đến ba lần: một lần do tác giả là thánh Luca (Cv9,1-23), còn hai lần kia do chính Thánh Tông Đồ kể lại để tự biện minh cho minh hoặc trước mặt người Do thái(Cv 22,1-21) hoặc trước mặt tống trấn Festô và vua Agrippa(Cv 26,13-18). Để có một nhận thức thấu đáo hơn về những điều vừa nói ở đoạn trên cũng như những vấn đề sắp trình bày, chúng ta hãy nghe thánh Phaolô thuật lại biến cố”ngã ngựa” đầy cảm kích của ngài: “Tôi là mgười Do thái sinh ở Tac xô miền Kilikia nhưng tôi đã được nuôi dưỡng tại thành này; dưới chân ông Ga-ma-li-ên, tôi đã được giáo dục để giữ Luật cha ông một cách nghiêm nhặt, Tôi cũng nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa như tất cả các ông hiên nay. Tôi đã bắt bớ Đạo này, không ngần ngại giết kẻ theo Đạo, đã đóng xiềng và tống ngục cả đàn ông lẫn đàn bà, như cả vị thượng tế cũng như hội đồng kỳ mục có thể làm chứng cho tôi. Tôi còn được các vị ấy cho thư giới thiệu với anh em ở Damas, và tôi đi bắt trói những người ở đó, giải về Gierusalem trừng trị”(Cv 22,3-5)

    Thế là sau khi được các thượng tế trao quyền và uỷ nhiệm, tôi lên đường đi Damas.(…) Đang khi đi đường, vào lúc trưa, tôi đã thấy một luồng ánh sáng lạ hơn mặt trời, từ trời chiếu tỏa xuống quanh tôi và các bạn đồng hành. Tất cả chúng tôi đều ngã nhào xuống đất và tôi nghe có tiếng nói với tôi bằng tiếng Hip-ri: “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ ta? Đá lại mũi nhọn thì khốn cho ngươi” Tôi hỏi: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Chúa đáp: “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ. Nhưng ngươi hãy chổi dậy, đứng thẳng lên. Ta hiện ra với ngươi là để chọn ngươilà đầy tớ và lám chứng nhân về những điều ngươi đã thấy cũng như những điều Ta sẽ hiện ra và tỏ cho ngươi biết. Ta sẽ cứu ngươi thoát khỏi tay dân Do Thái và các dân ngoại: Ta sai ngươi đến với chúng và mỡ mắt cho chúng, khiến chúng rời khỏi bóng tối mà trở về cúng ánh sáng, thoát khỏi quyền lực Sa-tan mà trở về cùng Thiên Chúa. Như vậy, nhờ tin vào Ta, chúng sẽ được ơn tha tội và được hưởng gia tài cùng với các người đã được thánh hiến” (Cv 26, 13 – 18). Tôi nói: “Lạy Chúa, con phải làm gì?” Chúa bảo tôi:Hãy đứng dậy, đi vào Damas ở đó người ta sẽ nói cho ngươi biết tất cả những gì Thiên Chúa đã chỉ định cho ngươi phải làm. Vì ánh sáng chói loà xưa kia làm cho tôi không còn trông thấy nữa, nên tôi đã được các bạn đồng hành cầm tay dắt vào Damas.

    Ở đó, có ông Kha-na-ni-a, một người sống đạo, sống theo lề luật và được mọi người Do Thái ở Damas chứng nhận là tốt. Ông đến, đứng bên tôi và nói: “Anh Sa-un, ấy lại đi! Ngay lúc đó, tôi thấy lại được và nhìn ông. Ông nói: Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã con anh để anh được biết ý muốn của Người, để được thấy Đấng Công Chính và nghe tiếng từ miệng Người phán ra. Quả vậy, anh sẽ là chứng nhân cho Đấng ấy trước mặt mọi người về các điều anh đã thấy và đã nghe. Vậy, bây giờ anh còn chần chừ gì nữa? Anh hãy đứng lên, chịu phép rửa và thanh tẩy mình cho sạch tội lỗi, miệng kêu cầu danh Người” (Cv 22, 10 – 16).

    Qua những lời tường thuật trên, hẳn chúng ta thấy chỉ biến cố “ngã ngựa” của thánh Phaolô do Chúa Giêsu gây ra mới giải thích được trạn vẹn cuộc hoán cải của ngài cũng như các đường hướng các suy tư thần học của ngài mà tất cả đều tập trung vào Chúa Giêsu là Đấng đã Phục Sinh và hiện nay vẫn sống và hoạt động trong Giáo Hội của ngài.

 

         b.Vào Sa Mạc

    Ngay sau khi lãnh nhận bí tích thanh tẩy ở Damas để gia nhập Kitô giáo, thánh Phaolô được Chúa đưa vào sa mạc Ả-rập để truyền thụ cho ngài kho tàng mạc khải. Đây quả là điều làm cho thánh Phaolô vô cùng sung sướng, bời vì sau biến cố Damas, thánh nhân chỉ muốn thụ huấn với Đấng đã đánh ngã mình và coi đó là một mối lợi tuyệt vời (x. Pl 3,8). Chính vì được mạc khải trực tiếp như vậy mà thánh Phaolô, dù không được Chúa Giêsu huấn luyện như các tông đồ khác, ngài vẫn có một xác tín cực kỳ mãnh liệt về tính chính thống của Tin Mừng do ngài rao giảng. Bằng chứng là, khi bị một vài kẻ phá rối bằng cách đưa ra một Tin Mừng khác, thánh nhân đã tự bào chữa cách quyết liệt: “Tôi xin nói cho anh em biết: Tin Mừng tôi loan báo không phải do loài người, vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Kitô đã mạc khải (Gl 1, 11 – 12)… Nếu có ai, kể cả chúng tôi hay một thiên thần nào từ trời xuống loán báo cho anh em Tin Mừng khác với Tin Mừng mà chúng tôi đã loan báo cho anh em thì xin Thiên Chúa loại trừ kẻ ấy đi” (Gl 1, 8 – 10).

    Sách Công Vụ Tông đồ cho biết: thánh Phaolô đã ở trong sa mạc Ả-rập hai năm, sau đó, ngài trở lại Damas. Như vậy, phải ba năm sau, thánh nhân mới lên Giêrusalem bàn luận với các tông đồ. Và thánh nhân lại trở về Tác-xô. Trong khảng mười năm (34 – 44), người ta không còn thấy thánh nhân rao giảng công khai. Đây hẳn là khảng thời gian mà đưới sự hướng dẫn của Thánh Linh, trí khôn sắc sảo của thánh nhân đã xây dựng những giáo lý nền tảng cho Kitô giáo, chứa đựng trong mười ba lá thư mục vụ sau này. Ngài đã khai triển và làm sáng tỏ những gì ngài đã lãnh nhận được từ cuộc mạc khải của Chúa Giêsu, đặc biệt là biến cố ngã ngựa ở Damas.

 

        c.Đỉnh cao của chiêm niệm

    Kinh nghiệm thường ngày cho ta thấy, trên bình diện tự nhiên, cách riêng trong lãnh vực sự sống, vsật chất cũng như tinh thần, hệ khi nào có kết hiệp thì cũng có biến hoá xảy ra . Chẳng hạn, khi ta ăn uống tức là tạo sự kết hiệp giữa thân xác ta với đồ ăn đồ uống, thì lúc đó biến hoá sẽ xảy ra, tức là đồ ăn đồ uống sẽ được tiêu hoá để biến thành thịt máu ta và thân xác ta nhờ đó trở nên khoẻ mạnh hơn. Cũng thế, học tập là gì, nếu  không phải là tạo ra sự kết hợp của trí khôn ta với đối tượng nhận thức? Và chính nhờ sự kết hợp này mà đối tượng kia biến thành nhận thức và trí khôn ta tiến bộ hơn trên đường học vấn.

    Trên bình diện siêu nhiên cũng thế. nếu linh hồn ta kết hiệp với Thiên Chúa, biến đổi tất cả sẽ xảy ra. Tuy nhiên, sự biến đổi này chỉ có tính chất đơn phương, nghĩa là chỉ linh hồn chúng ta thay đổi thôi. Tại sao? Thưa bởi vì chỉ linh hồn ta, vốn là hữu thế tương đổi mới thay đổi nên Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối nên muôn đời không bao giờ biến dịch. Là thụ tạo, linh hồn chúng ta sẽ biến đổi dưới tác dụng của ân sủng và được thông phần bản tính Thiên Chúa. Sự biến đổi này được các nhà thần học tặng cho danh xưng hết sức trang trọng là: “thần hóa”.

    Về phần thánh Phaolô, từ khi gặp Chúa Giêsu trong cuộc ngã ngựa, ngài đã được Chúa Giêsu chiếm đoạt hoàn toàn và có thể nói, Chúa Giêsu trở nên trung tâm điểm của đời ngài. Từ đây, ngài kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu đến nỗi ngài tuyên bố: “Tôi sống nhưng không còn phải là tôi nhưng là Đức Kitô sống trong tôi”(Gl 2, 19-21). Câu nói thời danh này, tuy được trưng dẫn rất nhiều nên trở nên quyen thuộc đối với mọi tín hữu. Thế nhưng, phải chân thành nhìn nhận rằng, hễ mỗi lần được nghe lại, hẳn ai trong chúng ta cũng không thấy ngỡ ngàng và tự hỏi làm sao giữa một người hèn yếu và Chúa Giêsu vốn là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, lại có thể xảy ra một sự kết hiệp kỳ diệu đến nỗi Giêsu và con người tuy “là hai” mà đã trở “nên một” như vậy?

    Sự kết hiệp ấy mang lại cho thánh Phaolô một hạnh phúc vô biên, một mối lợi tuyệt vời, không gì ở trần gian này sánh ví được: “Những gì xưa kia tôi cho là có lợi thì nay, vì Đức Kitô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa tôi cho tất cả là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là Đức Kitô là được biết Đức Giêsu Kitô, Chúa của tôi, vì ngài tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như đồ bỏ, để được Đức Kitô và được kết hiệp với ngài”(Pl 3, 7-8).

    Như vậy, trong sự kết hiệp kỳ diệu này, phải chăng ta có thể khẳng định rằng Đức Kitô đã trở nên chủ thế mọi hành động của thánh Phaolô, còn thánh Phaolô chỉ là phương tiện của Ngài? Ôi, kỳ diệu thay là cuộc biến hoá ấy! Và phải chăng ta cũng có thể nói rằng thánh phao lô đã được “Kitô hoá”?  Vâng, thiết tưởng có lẽ không có danh xưng nào thích hợp với cuộc biến hoá “đặc loại” ấy hơn nữa! Vậy thì, phải chăng ta cũng có thể kết luận rằng, khi thánh Phaolô truyền giáo thì không phải thánh Phaolô truyền giáo mà là chính Đức Kitô truyền giáo trong thánh Phaolô? Và như vậy, kết quả thu được từ cuộc truyền giáo phối hợp kỳ lạ này sẽ to lớn đến mực nào! Điều này hẳn giúp ta hiểu được tại sao cuộc truyền giáo trong ba thể kỷ đầu của Giáo Hội có thể mang lại một thành quả phi thường như đã nói trên.

    Vì thế, ngoài biệt danh “tông đồ dân ngoại”. Thánh Phaolô còn được xưng tụng là “Tông đồ số một”, “Tông đồ cột trụ” của Giáo Hội. Phải chăng chính vì thế mà mỗi lần nhắc đến thánh Phaolô, chúng ta nghĩ ngay đến khuôn mặt một vị tông đồ hăng say rao giảng Tin Mừng mà quên rằng Ngài cũng là một nhà chiêm niệm, hơn nữa, một bậc thầy về chiêm niệm.

    Thật vậy, thánh Phaolô quả là một nhà chiêm niệm với tất cả ý nghĩa của danh từ ấy. Trong một đoạn trên, chúng ta đã nói thánh Phaolô đã sống đời chiêm niệm trong một khoảng thời gian dài đến 12 năm: 2 năm ở sa mạc Ả-rập và 10 năm (34 – 44) tại quê hương Tác-xô. Mãi đến năm 44, thánh Barnaba mới đến tìm Ngài và đưa về Antiôkia à chỉ từ đây, thánh nhân mới từ giã đời sống chiên niệm để hiến trọn đời mình cho công cuộc truyền giáo. Ngài bỏ vai trò của Maria và lãnh lấy vai trò của Mat-ta theo thánh ý Thiên Chúa được biểu lộ qua trung gian thánh Banaba.

    Thánh Phaolô quả là một nhà chiên niệm, hơn nữa, là nhà chiêm niệm bậc nhất của Giáo Hội, do những thành quả phi thường Ngài đã đạt được trong lãnh vực này. Quả thế, những điều vừa trình bày ở đoạn trước liên quan đến sự kết hiệp của thánh Phaolô với Chúa Giêsu sẽ giúp ta hiểu rõ vấn đề này hơn. Thực vậy, qua câu nói: “ Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi” của thánh Phaolô người ta thấy ngài đã đạt tới bậc cao nhất của đời sống chiêm niệm, tức là bậc “hiệp nhất siêu biến” cũng gọi là “Hôn phối thiêng liêng”.

 

                3.CÒN CHÚNG TA

 

        a.Một thoáng phản tỉnh

    Như chúng ta vừa nêu trên, thánh Phaolô không những là một vị tông đồ vĩ đại mà còn là một nhà chiêm niệm bậc nhất của Giáo Hội. Thánh nhân đã trở “nên một” với Đức Kytô, đã đồng hóa với Người đến mức có thể nói: “Anh em hãy nêu gương tôi như tôi đã nêu gương Đức Kitô”(1Cr 11,1).

    Vậy, chiêm ngưỡng cuộc đời gương mẫu của thánh Phaolô quả là cơ hội rất tốt để chúng ta kiểm điểm bản thân xem ta đã noi gương thánh Phaolô đến mức độ nào.

    Thánh Phaolô đã được “Kitô hoá” đến mức có thể nói: “Tôi sống không phải là tôi sống nhưng là Đức Kitô sống trong tôi”(Gl 2,21). Vậy ta có thể nghĩ và nói như thế về mình không? Đáng buồn thay, nếu chúng ta không những không nói được như thế vì chưa “nên một” với Đức Kitô  mà thậm chí là một bức hiếm hoạ về Ngài và dĩ nhiên công trình đầy tính chất bôi bác ấy vừa tố cáo sự phản bội lý tưởng của chúng ta vừa gây gương xấu cho bao người khác.

    Theo thánh Biển Đức, một trong những điều mà người đan sĩ nhiệt thành phải đạt tới là: “Tuyệt đối không lấy gì hơn Chúa Kitô”(Tu luật BĐ 72,11). Vậy, ta đã đáp ứng đòi hỏi ấy đến mức độ nào? Đáng sợ thay, nếu ta đã không nhiệt thành yêu Chúa Kitô mà tệ hơn nữa còn say mê các đối tượng ham muốn của mình hơn chính Ngài.

    Tại sao ta đã theo đuổi lý tưởng đan tu chiêm niệm trong bao năm mà không đạt được thành quả mong muốn mà thậm chí ngày càng suy thoái bởi đánh mất niềm hăng say ban đầu? Phải chăng vì một lý do đơn giản là: Ta chưa kết hiệp với Chúa Giêsu? Quả thế, nếu không sống mật thiết với Chúa Giêsu, không gắn bó với Ngài, ta sẽ tìm đâu ra sức mạnhđể chiến đấu và vươn lên? Thiếu sự trợ lực của ân sủng Ngài, ta sẽ không đủ nghĩ lực để đương đầu với bao thử thách, bao khó khăn trở ngại của con đường tu luyện, như vậy, đầu hàng trước nghịch cảnh là lẽ tất yếu. Lúc bấy giờ, đối với người đan sĩ đã biến chất, cuộc sống đan tu với những yếu tố căn bản của nó như: các lời khấn, cầu nguyện, thần vụ, khổ chế.v.v sẽ trở nên , một ghánh nặng họ không kham nổi. họ sẽ sống trong tình trạng buông xuôi thất vọng.

    Đáng buồn và đáng sợ thay là trường hợp suy thoái của một đan sĩ. Hẳn không ai trong chúng ta muốn rơi vào tình trạng đáng thương ấy, vậy, ước gì mỗi người trong chúng ta, dưới tác động của ân sủng, quyết tâm noi gương thánh Phaolô, luôn kết hiệp thân mật với Đức Kitô để nhờ đó, có đủ sức mạnh siêu nhiên, tiến lên mãi trên đường thánh hoá bản thân hầu có thể đáp ứng sứ mệnh cứu chuộc đã ghi trong Hiến Pháp Hội Dòng: “Đan sĩ Thánh Gia là chứng tá tình yêu Thiên Chúa giữa nhân loại, bằng sự thông hiệp với Chúa Giêsu Cứu Thế, trong hy sinh thầm lặng và cầu nguyện tha thiết để cứu giúp những người chưa nhận biết Chúa”(x. Hiến Pháp Hội Dòng Xitô Thánh Gia VN tr 149).

 

       b.Gắn bó với Đức Kitô

    Có những đan sĩ chân thành thú nhận rằng, mỗi lần gặp lại câu hỏi của thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không phải là tôi nhưng là Đức Kitô sống trong tôi”, là tự nhiên họ cảm thấy một xúc động  mạnh mẽ bừng dậy trong tâm hồn, nhưng cũng ngay lúc đó, lại thầm nghĩ chỉ thánh Phaolô và những linh hồn đặc tuyển mới có thể đạt tới mức hoàn thiện đó, chứ bản thân mình, dù có “lột da sống hoài”, chắc cũng không hy vọng vươn lên tới đó được. Nhưng nghĩ như vậy là lầm to. Họ quên mất những nhân thức căn bản rất cần để thúc đẩy mình tiến lên trên đường hoàn thiện!

    Thực vậy, trước tiên họ đã quên rằng mọi người đều được mời gọi trở nên hoàn thiện. Chúa Giêsu đã chẳng nói: “Các con hãy nên hoàn hoàn thiện như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện” đó sao? Nếu mọi Kitô hữu đều được ơn gọi như thế thì phương chi một đan sĩ Xi-tô đã tuyên các lới khấn dòng, đặc biệt là lời khấn “cải tiến” để luôn vươn lênđức ái hoàn hảo!

    Họ cũng quên mất rằng hết mọi thánh nhân, kể cả các vị đại thánh, đều là phàm nhân, nghĩa là đều có những bất toàn, những yếu đuối. Một tác giả nói: Không thánh nhân nào không có quá khứ, và không có tội nhân nào mà chẳng có tương lai. Thế nghĩa là: bất cứ cứ thánh nhân nào, trong quá khứ, cũng đã từng có những sai lầm, những tội lỗi và bất cứ tội nhân nào cũng có khả năng trở nên một bậc đại thánh. Vậy thì một đan sĩ, dù là hèn kém, yếu đuối đến đâu lại không có khả năng trở thành một thánh nhân sao?

    Chính thánh Phaolô cũng đã nhiều lần tự nhận mình là kẻ yếu hèn, tội lỗi hết sức một cách khiêm tốn, chẳng hạn: “Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: đó là Đức Kitô đã đến thế gian để cứu những người tội lổi mà kẻ đầu tiên là tôi” (1Tm 1, 15). Nơi khác, ngài còn tự thú bằng những lời cảm động hơn nữa: “Vẫn biết rằng lề luật là bởi Thần Khí, nhưng tôi lại mang tính xác thịt, bị bán làm tôi cho tội lỗi. Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu. Vì điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm… Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm (…). Bởi đó tôi khám phá ra luật này: Khi tôi muốn làm sự thiện thì tôi lại thấy sự ác xuất hiện ngay. Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Thiên Chúa; nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: Luật này chiến đấu và chống lại luật của lý trí và giam hảm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể của tôi. Tôi thật là người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?” (x. Rm 8, 14 – 24).

    Qua những lời tự thú trên, ta thấy thánh Phaolô cũng yếu đuối chẳng kém gì thánh nhân. Vậy mà, ngài đã trở nên vị đại thánh. Vậy thì sao ta lại không thể vươn lên Ngài? Ngoài ra, còn một điều rất quan trọng khác mà những kẻ bi quan nói trên đã quên mất, đó là: Ta có thể làm được mọi sự với Đức Kitô là Đấng ban sức mạnh cho ta. Y tưởng này đã được thánh Phaolô nêu lên một cách quyết liệt trong thư gởi tín hữu Phi-líp (Pl 4, 13).

    Cũng trong đường hướng tư tưởng trên, thánh Phaolô đã tuyên xưng rằng, chính nhờ quyền năng cứu độ của Chúa Giêsu mà ngài được giải thoát khỏi ách thống trị của thân xác tội lỗi (Rm 7, 25), đã có khả năng bảo tồn và phát huy kho tàn mạc khải đã lãnh nhận, mặc dụ ngài vốn mkỏng dòn, yếu đuối (2Cr 4, 7). Cũng vì được Đức Kitô hằng nâng đỡ, khích lệ mà Thánh nâhn đã lướt thắng mọi nỗi lo sợ để can đảm rao giảng Tin Mừng, không chút nao núng trước các cơn bách hại (Cv 18, 9-10). Chính vì Chúa Giêsu luôn che chở phù trì như vậy mà thánh nhân không ngần ngại tuyên bố: “ Tôi có thể làm được tất cả rong Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4, 13). Và khi xác quyết cách mạnh mẽ như thế, hẳn ngài có dụng ý tiết lộ cho tất cả chúng ta cái bí quyết sâu xa nhất của ngài vậy.

    Qua những điều vừa trình bày trên, ta có thể đưa ra một kết luận dứt khoát. Dù hèn yếu đến đâu, ta cũng có thể trở nên một vị đại thánh, với điều kiện tiên quyết: luôn bám chặc lấy Chúa Giêsu Kitô.

 

                KẾT

    Qua trình bày trên, chúng ta đã cùng nhau khám phá cuộc đời thánh Phaolô, một vị Tông Đồ vĩ đại, đồng thời cũng là một nhà chiêm niệm bậc nhất của Giáo Hội. Vì tình yêu Chúa Kitô, thánh nhân đã hiến trọn đời mình để rao giảng Tin Mừng với một lòng nhiệt thnàh không mệt mỏi và cuối cùng phải lấy chính mạng sống mình để trả giá cho lòng nhiệt thành ấy. Đáng thánh phục thay là con người và cuộc đời của thánh Phaolô!

    Tuy nhiên càng ngưỡng mộ tấm gương sáng chói của đời ngài, chúng ta càng cảm thấy đau lòng khi nghĩ rằng hiện nay, trên thế giới, có một số người đang cố tận dụng hết mọi phương tiện truyền thông xã hội để phổ biến những tư tưởng hoàn toàn trái ngược với giáo lý của thánh Phaolô. Theo họ, Đức Kitô khhông phải là “Thiên Chúa làm người” để cứu độ thế gian mà chỉ là một “người trần mắt thịt” như bao nhiêu người khác.

    Là những người tận hiến đời mình để tìm kiếm Thiên Chúa, hẳn ai trong chúng thánh nhân cũng ước ao đạt tới mức độ khả dĩ nói như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống mà chính Chúa Kitô sống trong tôi”.

    Muốn được vậy, thánh nhân phải noi gương ngài từ bước đầu, tức là phải “hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực” để tìm kiếm Chúa. Khi Chúa thấy thánh nhân đã nỗ lực tìm kiếm Ngài cách nhiệt thành như vậy, ắt Ngài sẽ tỏ mình cho chúng thánh nhân như đã tỏ mình cho chúng thánh nhân như thánh Phaolô trong biến cố Damas. Một khi được Chúa tỏ mình ra như vậy, thánh nhân sẽ hiểu Ngài rõ hơn và do đó, cũng sẽ yêu mến Ngài hơn. Tình yêu này, nếu được vun trồng bồi dưỡng, sẽ phát triển thành niềm say mê. Đến lúc này, thánh nhân sẽ kết hiệp một cách sâu xa bền chặt với Chúa Giêsu, và do đó cũng sẽ nói được như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống mà chính Chúa Kitô sống trong tôi”. Hơn nữa, thánh nhân cũng sẽ nói được như ngài: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng đã ban sức mạnh cho tôi”.

    Quả thật, nhân loại hôm nay đang cần những tông đồ, những đan sĩ  được trang bị đầy đủ về sức mạnh tâm linh như thế. Thực vậy, nhân loại hôm nay, tuy đã đạt đến một trình độ văn minh rất cao về vật chất cũng như tinh thần. Nhưng phải khách quan nhìn nhận rằng, về mặt tôn giáo, một phong trào suy thoái trầm trọng đã và đang lan rộng khắp nơi. Một số người rất đông đảo không còn tin có Thượng Đế, linh hồn bất tử, thiên đàng hoả ngục… Chính cuộc khủng hoảng đức tin này là đầu mối phát sinh bao tệ nạn xã hội: phá thai, ly dị, xì ke ma tuý, nô lệ tiền bạc, bạo lực khủng bố… Và chính những tội ác này là nguyên nhân khiến cho bao người cảm thấy cực kỳ bất hạnh giữa cuộc  sống sung túc, đầy tiện nghi hiện đại của mình. Khách quan mà nói, những tệ nạn nêu trên vốn là những căn bệnh tâm linh nên không thể chửa lành bằng những phương tiện đaơn thuần vật chất. Do đó người thánh nhân đương chờ mong sự cứu vớt từ những con người đầy “sức mạnh của Thần Khí”. Phải chăng đây là cơ hội để các đan sĩ, với sự trợ lực của ân sủng, biết noi gương thánh Phaolô, dám đứng lên để góp phần thoa dịu những nỗi khổ đau, tinh thần cũng như vật chất, của các anh em đồng loại? Mong thay!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

AUGUSTINO, CON NGƯỜI THAO THỨC

 

 Phan Sa
       Dẫn                                                                                                         

      Ngay tiếng khóc khi mở mắt chào đời, con người đã biểu lộ mối tương quan, cùng bao nỗi thao thức khát vọng. Tương quan để được đáp ứng mọi nhu cầu, thao thức để hy vọng tìm ra lời giải đáp cho những khắc khoải, để niềm vui được thăng hoa và làm dịu vơi những ưu tư phiền muộn. Riêng người kitôhưũ, thì nhờ đức tin và ánh sáng Tin mừng soi dẫn để sống mối tương giao với Thiên Chúa và tha nhân cũng như để hoàn thiện bản thân. Hơn nữa,  con người có tính nội tâm, nghĩa là con người có khả năng chinh phục và xây dựng chính mình. Đời sống nội tâm sẽ giải phóng con người khỏi mọi ràng buộc tự nhiên để vượt ra khỏi chính mình và dâng hiến bản thân cho Thiên Chúa và tình yêu tha nhân. Vì thế, đời sống nội tâm chỉ có thể sinh hoa kết quả khi con người luôn thao thức được tiếp cận với Thiên Chúa, được gặp gỡ với Đấng Siêu Việt, Đấng luôn yêu thương, gần gũi với con người. Thế nhưng, với bản chất yếu đuối, nhiều lúc con người cũng chẳng nhận ra chính mình, cứ luôn mệt nhoài trong những thao thức, băn khoăn, mà chẳng tìm ra mục đích cuộc đời “Chúa ở trong con mà con lại ở ngoài con, Chúa ở với con mà con đã không ở với Chúa” [1] Cảm nghiệm tâm linh này phát xuất từ một người được coi là “vĩ nhân” của lịch sử nhân loại và giáo hội, qua bao thăng trầm cuộc sống, đã vượt thoát khỏi vũng lầy tội lỗi để trở về với Chúa, một tâm hồn có một con tim cởi mở, khiêm tốn và chân thành, muốn chia sẻ cho hậu thế kinh nghiệm sống trên hành trình tìm kiếm Chân lý, đó là thánh Augustino .

 

                  1.Sơ lược tiểu sử

      Thánh Augustino sinh năm 354 tại Thagaste (Bắc phi), cha của ngài (Patricius) là người ngoại và cho đến lúc gần chết mới được lãnh bí tích Thanh tẩy, trái lại mẹ của ngài (Monica) là một tín hữu đạo đức, một người mẹ tuyệt vời đã có ảnh hưởng rất lớn trên cuộc đời Augustino. Trong thời gian lầm đường lạc lối tại Carthage, Augustino đã gia nhập nhóm Manike (chủ trương thuyết nhị nguyên) [2] để cố tìm ra ý nghĩa cuộc đời và nguồn gốc của thiện ác, nhưng ngài đã thất vọng vì giáo thuyết này không giải đáp thoả đáng. Nhờ đời sống cầu nguyện suốt 18 năm trường trong nước mắt của mẹ ngài, cuộc đời Augustino bắt đầu chuyển hướng…; ngài say mê nghiên cứu triết học tân Platon, tìm hiểu Kinh thánh, thấm nhuần những lời giáo huấn của thánh Ambrosio, đặc biệt ngài nỗ lực tham khảo, học hỏi lịch sử đời sống các đan sĩ Aicập. Lễ Phục sinh năm 387, Augustino được lãnh nhận bí tích Thanh tẩy, ngài trở về Phi châu (388) và lập một tu viện tại Thagaste,  được thụ phong linh mục năm 391 tại Hippone. Tại đây ngài lập thêm tu viện nữa. Khoảng năm 395, Augustino được tấn phong giám mục và trở thành giám mục Hippone, ngài qua đời vào năm 430 và được giáo hội tôn phong là Tiến Sĩ giáo hội. Lịch sử cũng trân trọng và đã tặng cho ngài những danh vị thời danh như “Phượng Hoàng Hippone; Tiến Sĩ Ân Sủng…”[3]

      Augustino viết rất nhiều sách dưới nhiều thể văn: giảng thuyết, biện luận, chú giải Thánh kinh…; đặc biệt cuốn Tự Thuật (Confessions) như là một nỗi thao thức tâm linh mà thánh nhân đã thân thưa với Thiên Chúa trong kinh nguyện và chiêm niệm với những suy tư sâu sắc về Triết và Thần học để tìm ra lẽ sống đích thực, để được sống trong ân sủng của Thiên Chúa và  được  đồng hoá với Người.

 

                   2.Đi tìm lẽ sống

      Sau cú “vấp” cuộc đời, Augustino đã bừng tỉnh cơn mê, ngài quyết tâm đi tìm ý nghĩa đích thực của cuộc đời. Nhờ đức tin, ngài được thúc bách bởi nỗi khát khao trở về nguồn cội của phận người. Nỗi khát khao đó “là khởi đầu cho một tiến trình đi lên nguồn cội. Là yếu tố chuyển một vật còn ở trong tiềm năng đạt tới hiện thể” [4]Augustino sống và chấp nhận quy luật tập chú (recueillement) không được phân tâm và muốn đi vào đời sống nội tâm, con người phải tuân theo quy luật thanh lọc (loi de purification), tách rời những yếu tố hạ đẳng, loại bỏ những gì thuộc về thân xác để đi vào hồn, phải nỗ lực trực quan (intuition) để trở thành thần trí (esprit) và nhất là đạt tới sự xuất thần (extase)  để trở về, sống kết hiệp với Thiên Chúa.

      Say mê triết học tân Platon, Augustino được soi lối trên con đường tìm kiếm Thiên Chúa là Đấng Duy nhất. Dựa theo nguyên lý nhân quả và những chân lý trường cửu cùng với những chứng lý lương tri cũng như căn cứ vào thế giới hữu hình để khẳng định sự hiện hữu của Thiên Chúa “con tin Chúa tối cao, tối cận rất bí nhiệm và rất hiện tại…” [5]

      Thật vậy, sự hiện hữu của Thiên Chúa, đối với Augustino không thể đặt thành nghi vấn được, vì khi con người xác tín sự hiện diện của bản thân, là khi con người khẳng định sự hiện diện của Thiên Chúa:“Chúa dựng nên tạo vật, Chúa xinh đẹp vì chúng xinh đẹp; Chúa tốt lành nên chúng tốt lành, Chúa hiện hữu vì chúng hiện hữu..” [6]  Augustino nêu rõ bản tính của Thiên Chúa là chân lý tự hữu, các ưu phẩm của Thiên Chúa đều hiện hữu trong Ngôi Lời. Augustino đồng hoá thế giới ý niệm (Platon) với Ngôi Lời (Logos) nghĩa là Ngôi Lời là nguyên nhân mô phạm của vạn vật và vạn vật được thông phần vào chính hữu thể của Người tức là Thiên Chúa. Hơn nữa, dù Thiên Chúa bất biến trường cửu nhưng trí khôn con người vẫn có thể nhận ra Người qua mọi công trình hiện hữu (Rm 1,20) Khi chiêm ngắm mọi kỳ công sáng tạo của Thiên Chúa, Augustino nhận thấy cuộc sống thật sinh động, dễ thương, mang đậm ấn tích của tình yêu Thiên Chúa. Ngài cảm nhận được sự tác động của Lời Chúa:“Chúa đã kêu gọi con để hiểu biết về Ngôi Lời – là Thiên Chúa ở cùng Chúa và cũng là Thiên Chúa….Lời Chúa thật là bất tử và vĩnh cửu như Chúa mà đồng thời và từ muôn thuở, Chúa nói lên mọi sự Chúa nói, và được tác thành những gì Chúa phán dạy phải được tác thành; và Chúa chỉ tạo dựng nhờ Ngôi Lời mà thôi.” [7] Trong sự chiêm ngưỡng thánh thiện đó, Augustino  suy tư  Mầu nhiệm Nhập thể: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm” (Ga1,14) và sự hiện hữu của Ngôi Lời là Thiên Chúa đã có từ muôn thuở nơi Thiên Chúa và mọi vật đều nhờ Ngài mà thành sự. Augustino xác tín: linh hồn con người dù làm chứng được về sự sáng, nhưng nó không phải là sự sáng, mà là Ngôi Lời, đó là Sự Sáng thật soi sáng cho thế gian.Vì đã vấp ngã và thấy được sự nguy hiểm của bóng tối tội lỗi sẽ làm cho cuộc đời con người u ám, mất hạnh phúc, nên Augustino khẳng định: Anh sáng đó dựng nên con người, ai biết chân lý là biết ánh sáng đó, kẻ nào biết ánh sáng đó là biết sự vĩnh cửu. Augustino đã thốt lên: “Ôi chân lý vĩnh cửu! Ôi vĩnh cửu mến yêu! Chúa là Chúa của con, ngày đêm con khao khát Chúa; Chúa nâng con lên để xem cái gì phải xem, nhưng con chưa thể xem thấy gì được. Chúa chiếu soi quá mạnh vào con. Làm chói con mắt hèn kém của con”[8]  Luôn xao xuyến như vậy, vì Augustino ý thức thân phận hèn yếu  của con người và luôn đặt mình trước mặt Chúa với những băn khoăn của vấn nạn: ý niệm tạo dựng [9]; các quan niệm sai lầm về Thiên Chúa, về vĩnh cửu và thời gian[10], thánh nhân cảm thấy cần phải nỗ lực  sống đức tin trọn vẹn: thờ phượng kính tôn Thiên Chúa, yêu mến tha nhân thật đúng mức trong cuộc sống thường ngày, đồng thời tìm nhiều phương thế thiêng liêng chống lại các đam mê xác thịt, ăn uống, kiềm chế con mắt, hãm dẹp tính kiêu ngạo trần thế…; những thứ mà Augustino cho rằng đã và đang làm ngài chùn bước trên con đường hoàn thiện, nhiều lúc Augustino cảm thấy hụt hẫng, bối rối, cuộc đời thật là vô nghĩa. Ngài thấy hậu quả xấu của đam mê danh vọng, lợi lộc, ngài so sánh mình với người ăn xin: anh ta nhảy nhót vì say rượu, còn ngài vui vẻ vì thích danh vọng. Tuy nhiên Augustino đã kịp phản tỉnh: “điều quan trọng là phải tìm ra lý do của sự vui mừng. Sự vui mừng của hy vọng dựa trên đức tin thì xa cách sự vui mừng hư ảo” [11] và khiêm tốn ghi nhận lời chia sẻ của người bạn Nebridius: “hãy xua đuổi những nỗi băn khoăn hư ảo! Hãy tập trung mọi nỗ lực vào việc tìm kiếm chân lý” [12] bởi khi nào con người tìm được Chân lý, thì lúc đó tìm ra lẽ sống đích thực. Lẽ sống đó ở trong Thiên Chúa – nguồn mạch mọi ân sủng .

 

                  3.Sống trong ân sủng

      Nhiều lúc tuyệt vọng vì quá khứ tội lỗi, bất an vì lương tâm áy náy, nhưng Augustino luôn tin tưởng, thành tâm ca ngợi tình yêu bao dung của Thiên Chúa và khẩn nài Thiên Chúa tha thứ cho bản thân. Ngài cầu nguyện “Lạy Chúa là sự êm dịu lành thánh của con, người ta nói gì khi nói về Chúa? Nhưng khốn cho những kẻ làm thinh về Chúa, họ là những kẻ nói nhiều, mà lại là những người câm” [13] 

      Bởi vậy, những lời tự sự của Augustino trong cuốn Tự thuật  đều chứa đựng ý nghĩa của lời tán tụng, tuyên xưng; khi tán dương tình yêu Thiên Chúa, thì  con người được ca ngợi Ngôi Lời, tức là ca ngợi ơn thánh hoá, ngài cảm nghiệm“ ân sủng của Đức Kitô là một nguyên lý hành động, tự do và giải phóng nội giới cho con người” [14]

      Augustino đã cảm nhận:“con người là một phần nhỏ mọn trong tạo vật của Chúa, nó muốn ngợi khen Chúa..; dù mang nơi mình tính mỏng dòn nhưng Chúa thúc dục con người tìm sự vui thoả trong việc ngợi khen…; Chúa dựng nên con cho Chúa, nên tâm hồn chúng con áy náy không ngừng, cho tới khi được nghỉ yên  trong Chúa [15] 

      Qua tác động của ân sủng, Augustino càng ý thức về tình yêu Thiên Chúa toàn năng, suy phục quyền làm chủ của Thiên Chúa trên sự sống và ý chí của con người. Từ kinh nghiệm bản thân, Augustino luôn suy tư, và tâm đắc khái niệm “thông dự”: Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự, mọi sự thiện hữu hạn cũng đều do Thiên Chúa, mà tất cả việc làm tự do của con người là những việc thiện hữu hạn. Cho nên con người là một sự thông dự vào sự tốt lành của Thiên Chúa. Nhờ Thiên Chúa mọi sự thiện đều ở trong mỗi một người chúng ta. Bởi vậy, Augustino áp dụng cho bản thân: ngài trở về với Thiên Chúa không phải do những cố gắng cá nhân, mà là do ơn nhưng không của Thiên Chúa. Xác tín điều này, mà Augustino đã gắn bó, cầu nguyện, xin ơn Chúa để đối phó và giải thích một cách thuyết phục cho học thuyết Pelage (đề cao ý chí con người), đồng thời ngài luôn suy tư thần học về ân sủng từ góc độ con người sa ngã và tội lỗi. Augustino hiểu và nghiệm ra Thiên Chúa dựng nên con người mà không cần con người, nhưng Thiên Chúa không thể cứu độ con người nếu không có sự cộng tác của con người. Điều này diễn tả tính cách nhưng không và hữu hiệu của ân sủng.

      Do đó, Augustino luôn đề cao đời sống kết hiệp với Thiên Chúa, tức là đời sống nội tâm, một đời sống giúp con người có khả năng yêu mến sự thiện và làm sự thiện, một đời sống hoàn toàn tự do để xa lánh tội lỗi, một đời sống đích thực là con người công chính nhờ ơn Chúa (không phải là hình nộm), và luôn làm tăng triển ơn Chúa. Trong ân sủng, Augustino đặt mối tương giao với Thiên Chúa qua giáo hội là Nhiệm thể của Đức Kitô, mà Đức Kitô là Đầu, để cùng với giáo hội ca tụng Thiên Chúa, không phân biệt người nào trong giáo hội, dù là thánh thiện hay trong tình trạng tội lỗi. Ngài viết: “Lạy Chúa, Chúa đã rõ con là người thế nào, và vì lợi ích mà con ca tụng  Chúa. Con làm việc này không phải với những lời lẽ và tiếng nói của xác thịt, mà là với những lời lẽ của linh hồn và tiếng kêu của tâm tư. Khi con xấu thì việc xưng tụng của con là chán nản về con, khi con tốt thì việc xưng tụng của con là không gán sự  đó cho con, vì Chúa giáng phúc cho người công chính, trước đó, Chúa đã công chính hoá tội nhân….; nên việc xưng tụng của con vừa thầm lặng, vừa không thầm lặng. Thật vậy, tiếng con thầm lặng mà lòng con kêu gào…” [16]. Augustino tâm sự như vậy vì ngài muốn đề cao tính thánh thiện của giáo hội. Không phải bởi sự thánh thiện của các thành phần trong giáo hội cho bằng sự  thánh thiện của Đức Kitô. Chắc hẳn, Augustino nhấn mạnh vấn đề này để phản bác lại chủ trương: chỉ có những người thánh thiện mới thực sự là phần tử của giáo hội (nhóm Đonatô)[17] đồng thời xác định mối hiệp thông với giáo hội mà Đức Kitô vừa là Thiên Chúa vừa là Đấng trung gian đích thực, Người “đã xuất hiện giữa những con người tội lỗi sống trong phận tử vong và chia sẻ phận tử vong với loài người…; quả thật xét như một con người, Người là trung gian; nhưng xét như Ngôi Lời thì Người không phải là trung gian, bởi lẽ Người ngang hàng với Thiên Chúa, là Thiên Chúa bên cạnh Thiên Chúa và là Thiên Chúa duy nhất.” [18]

      Tóm lại với nỗi thao thức triền miên, Augustino cảm nhận được mối tương quan mật thiết giữa con người và Thiên Chúa, mối tương quan này được xây dựng trên nền tảng của ân sủng. Trong tiến trình cứu độ, con người cần được ân sủng tác động để trở về với Thiên Chúa và được đồng hoá trong Người.

 

                  4. Đồng hóa với Thiên Chúa

      Mãi băn khoăn với nỗi ám ảnh của những triết thuyết duy vật, hoài nghi, dù đam mê xác thịt, kiêu ngạo, thích háo danh, đã tác động xấu tới cuộc đời Augustino, nhưng tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa đã thúc bách Augustino tiến bước và nhận ra đích điểm đời mình là Đức Kitô–Đấng là con đường dẫn con người đến với Thiên Chúa. Hiệp thông với giáo hội, Augustino rất trân trọng và coi đó là môi trường thánh để con người sống trọn vẹn tình huynh đệ cộng đoàn nhằm hoàn thiện bản thân và để tăng triển đời sống nội tâm cho chính mình. Thiết nghĩ, mọi nơi mọi lúc, mẹ Monica là người bạn đồng hành tin cẩn nhất trong bước đường hoàn thiện của ngài, là người bạn chí cốt đã chia sẻ những cảm nghiệm và thao thức tâm linh quý giá nhất cho ngài. Khi đón tàu ở Ostia, hai mẹ con đã chuyện vãn với nhau về mối tương quan với Thiên Chúa, Augustino viết: “ chúng con bỏ quên dĩ vãng để hướng về tương lai…; cùng nhau tìm tòi trong chân lý hiện hữu là chính Chúa.; chỉ có Chúa là vĩnh cửu”[19] và họ đã ngất ngây trong niềm hạnh phúc thánh thiện tựa như được thả hồn bay lên trời cao vậy. Rõ ràng đời sống nội tâm nơi Augustino thật phong phú dồi dào, ngài luôn đặt mình trước mặt Chúa trong mọi hoàn cảnh khác nhau: “con sẽ biết Chúa, ôi, Đấng biết con, con sẽ biết Chúa, như con đã được Chúa biết con…” [20]; ngài luôn yêu mến, suy tư Lời Chúa vì đó là phương thế tuyệt hảo để đi vào đời sống nội tâm, ngài xác tín: trở về đời sống nội tâm không nhằm mục đích nhận ra con người thật của mình, nhưng là để gặp gỡ, thân thưa với Chúa. Tuy nhiên, Augustino cũng nhiều lần xao xuyến và cảm nhận được sự khiếp sợ, hãi hùng khi đối diện với Thiên Chúa mà con người vẫn đầy bất xứng, tội lỗi. Những lúc như thế, Augustino đã dùng đức tin để thi thố: “Lạy Chúa, con có một cảm thức không phải là nghi nan, mà là chắc chắn rằng Chúa đã dùng Lời Chúa mà đánh động lòng con, con yêu Chúa và con luôn yêu Chúa” [21]Thật vậy, con đường đến với Chúa của Augustino khởi đầu bằng sự ăn năn hối cải, những giọt nước mắt của ngài vừa có tác dụng gột rửa lỗi lầm, vừa diễn tả lòng khát khao mãnh liệt như “nai rừng tìm về suối mát trong…”(Tv41), để luôn vươn tới “quên đi chặng đường đã qua và lao mình về phía trước” (Pl 3, 13)

      Trong cuộc biến đổi tâm linh này, Augustino luôn ý thức rằng Thiên Chúa  chủ động tất cả và cũng là đích điểm cho con người nhắm tới, đồng thời ngài cũng suy tư sự chóng qua, hữu hạn của con người theo nghĩa tích cực “quá trình biến đổi theo thời gian có thể tạo ra một kết quả tốt đẹp hơn, đầy đủ ý nghĩa hơn. Mỗi lúc trong thời gian phải qua đi, đó là điều kiện để cho mọi sự tiến triển và tạo ra cái mới trong đời người” [22] Vì thế ngài lạc quan, tin tưởng vào sự tác động của ơn Chúa.

       Nhờ ý chí mà Augustino khiêm nhường sống đời cầu nguyện, ngài cầu nguyện với lòng khát khao như  là phương thế thanh luyện tinh thần và thể xác để tái tạo hình ảnh Thiên Chúa nơi con người mà bấy lâu nay hình ảnh này bị lu mờ vì tội lỗi. Augustino đã sống kinh nghiệm bản thân: tội là quy thuận (conversio) tạo vật và từ bỏ (aversio) Thiên Chúa [23] Thật vậy, Augustino luôn dùng ý chí để vươn lên, vì theo ngài con người không thể sống ngay thẳng nếu không có ý chí tự do. Do đó, sự tự do chọn lựa đối tượng duy nhất của ngài là Thiên Chúa với lòng yêu mến kính tôn. Cho dù cũng có lúc Augustino ở trong trạng thái trằn trọc“ Ôi, con yêu Chúa quá muộn màng!” [24] nhưng ngài cũng cảm nghiệm được hiệu quả của sự kết hợp thần thiêng giữa con người và Thiên Chúa (Ga15) và trong những thời khắc lắng đọng trong cuộc sống, Augustino luôn suy gẫm tính chất  toàn thể nơi Đức Kitô(le Christ total) và sống niềm hy vọng là được đồng hoá với Người (nos ipse sumus)

 

                  Kết

      Xuyên qua cuộc đời và những cảm nghiệm tâm linh của thánh Augustino, chúng ta cũng được suy tư và đồng cảm phần nào nỗi lòng của một tâm hồn luôn thao thức tìm kiếm  Chân lý của tình yêu. Chỉ có tình yêu nơi ĐứcKitô mới bao dung tha thứ, mời gọi con người trở về. Một tình yêu giải đáp mọi ưu tư, khắc khoải của kiếp người. Cuộc đời thánh Augustino đã minh hoạ cho chúng ta một  tâm hồn sống đời chiêm niệm, luôn kết hiệp với Thiên Chúa qua những nỗi băn khoăn, thao thức về đời sống thiêng liêng. Không như các giáo phụ Đông phương thuở xưa tìm kiếm Thiên Chúa trong sa mạc hoang vắng, xa cách tất cả, trái lại Augustino đã tìm kiếm, gặp gỡ Thiên Chúa trong những lời tự sự cá nhân cũng như trong khung cảnh đời sống cộng đoàn. Đối với ngài, sống đức ái chân thành  trong cộng đoàn là linh hồn của sự trọn lành,  làm cho đời nội tâm của mỗi người có chiều kích vô biên và giá trị vĩnh cửu.

      Thiển nghĩ, nỗi thao thức của Augustino thời xưa  cũng là nỗi băn khoăn  của đan sĩ hôm nay. Băn khoăn, thao thức,tìm kiếm, khát vọng vươn lên và đi tới… vẫn là hành trang cố hữu của mỗi người cho dù đang ở trong giai đoạn nào, không phân biệt chức vụ, tuổi tác, địa vị… Cách riêng các đan sĩ (trẻ) thì có nhiều thao thức hơn, bởi vì ngàn đời tuổi trẻ vẫn là giai đoạn của ước mơ, đầy cao vọng, rất lý tưởng, hăng say nhiệt tình và rất nhạy cảm trước mọi vấn đề trong cuộc sống, nhưng cũng rất mỏng dòn, thiếu kinh nghiệm, dễ vấp ngã… Cầu mong chúng ta cùng nhau tìm ra nhiều phương thế để được yêu mến và sống kết hiệp với Chúa trong tình huynh đệ cộng đoàn, như lời thánh Agustino đã tâm sự: Hãy Yêu! Rồi muốn làm gì thì làm. Đó là nỗi thao thức tuyệt vời nhất.

 

 


 

[1] Augustino, Tự thuật,  q.X ,27,38

[2] Lm Phan Tấn Thành OP,  Đời Sống Tâm Linh, tập  II, tr 93

[3] Lm JMT Nguyễn Thế Thoại, Giáo Hội Đi Trong Nhân Loại, tr.128

[4] Lm Phạm Văn Hiền O.C, Giáo trình Triết học “ Triết Sử Tây Phương ”, tr.31

[5] Augustino, Tự thuật, q I ,4,16

[6]  Augustino, Tự Thuật, qXI,6,6

[7]  Agustino, Tự Thuật, q XI,7,9.28

[8]  Augustino, Tự Thuật,q VII,9,13;10,16

[9]   Augustino, Tự Thuật, q XI,10,12

[10]   Augustino, Tự Thuật, q XI, 11,13

[11]  Augustino, Tự Thuật, q VI,6,10

[12]  Augustino, Tự Thuật ,q VI, 10 ,17 –11,19

[13] Augustino, Tự Thuật, q I,4

[14] Sư huynh Hoàng Gia Quảng FSC, Giáo trình Thần học“Mầu nhiệm Ân sủng”, Tp HCM,tr 21

[15] Augustino, Tự Tthuật,  q I,1,1

[16] Augustino, Tự Thuật, q X,2,.2

[17] Lm Phan Tấn Thành OP,Đời Sống Tâm Linh, tập II, tr.125

[18] Karl-Heinz Ohlig, Kitô học qua các tác gi, dịch theo Christologie, tr.308

[19] Augustino, Tự Thuật, q IX,10,24

[20]  Augustino, Tự Thuật, qX,1,1

[21]  Augustino, Tự Thuật, q X,6,8

[22] Georg Lange Meyer,Nhân văn luận Thần học qua các tác gi, , dịch theo Anthropologie, tr.107

[23] Hoành Sơn, Thần Học Thiêng Liêng, tập I, tr .361

[24] Augustino, Tự Thuật, qX,27,38

 

 

 

 

 

 

 

CON ĐÃ GẶP NGÀI:

THỰC TẠI VÀ THAO THỨC

MỘT KINH NGHIỆM CỦA THÁNH BÊNAĐÔ

 

FM. Theophane Phạm Hữu Ái

 

    “Không ai là một hòn đảo” là một xác tín và là một kinh nghiệm sống mà mỗi người chúng ta đã từng kinh qua ngay từ khi còn là một đứa bé nằm  trong nôi, cho đến khi trở về với lòng đất mẹ. Giả sử có một ai đó muốn tự tách ra để trở thành một ốc đảo thì họ cũng không thể không liên đới với vũ trụ mà trong đó họ là một thành viên. Bởi vì, con người tự bản chất có xã hội tính. Con người cần người khác để hiện hữu và cùng tồn tại với một ai đó.

    Nói đến tính xã hội là nói đến những cuộc gặp gỡ, những cuộc trao đổi và những tương tác giữa các hữu thể. Nhờ đó, con người được lớn lên và trở thành một con người bình thường. Phải nói rằng: nhu cầu gặp gỡ là một nhu cầu cần thiết và cấp bách trong cuộc sống con người. Do đó, làm người mà không gặp gỡ thì cuộc sống của họ không còn là một cuộc sống của một con người bình thường và trọn vẹn. Cũng thế, gặp gỡ là khởi điểm để có một đời sống thiêng liêng tròn đầy và mạnh mẽ, vì “ Khởi đầu cho cuộc sống Kitô hữu không phải là một quyết định đạo đức hay một tư tưởng vĩ đại, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một biến cố, với một con người, Đấng mang lại cho chúng ta một chân trời mới và từ đó một định hướng dứt khoát[1].

    Là Kitô hữu, chúng ta đã gặp gỡ và sống cho một cuộc gặp gỡ, nhưng vẫn còn thao thức vì một cuộc gặp gỡ. Cái nghịch lý ấy đan chéo trong cuộc hành trình đức tin và làm cho cuộc gặp gỡ này khác với bao cuộc gặp gỡ khác. Dưới cái nhìn của thánh Bênađô, đó là một kinh nghiệm; nhưng không phải là một kinh nghiệm thường nghiệm, trái lại là kinh nghiệm thần bí. Một kinh nghiệm mà chúng ta như hòa tan trong Đấng ta gặp gỡ và tự hỏi ai gặp gỡ ai?

 

        1. Về một cuộc gặp gỡ

    Có những cuộc gặp gỡ do tình cờ hay ngẫu nhiên, con người gặp nhau đó rồi nhanh chóng đi vào quên lãng; nhưng cũng có những cuộc gặp gỡ dẫn chúng ta đến một tình bạn tri kỷ. Có những gặp gỡ đọa đày, đau khổ; bên cạnh đó có những cuộc gặp gỡ mang lại sự sống, niềm vui và hạnh phúc, định hướng cho cuộc đời, như cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với bà Maria Madalena, đã thay đổi cuộc đời của bà từ một phụ nữ bê tha đến một thánh nhân; cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với thánh Phaolô trên đường Damas, biến ông thành một nhà truyền giáo đại tài và can đảm. Tuy nhiên, cho dầu cuộc gặp gỡ nào đi nữa thì những cuộc gặp gỡ ấy phải là cuộc gặp gỡ  của riêng tôi, nó để lại trong tôi một dấu ấn, một kinh nghiệm và một sắc thái riêng. Tôi có một cảm nghiệm rất khác với người khác cho dù cùng chung một cuộc gặp gỡ. Tôi không thể cảm nghiệm thay cho người khác hay cảm nghiệm điều mà người khác cảm nghiệm được. Như thế, gặp gỡ dẫn tôi vào sự hiểu biết, nhưng không phải cái biết của trí khôn; trái lại là cái biết của tình yêu, cái biết của con tim. Hai cái biết này có cách diễn tả hoàn toàn khác nhau: một bên nghiêng về lý trí với cách thức diễn tả có chủ ý; bên kia là ngôn từ của biểu cảm, vì có sự đồng nhất giữa cảm xúc với con người diễn tả ra nó. Cái biết này có vẻ như câm lặng, nhưng nó vượt lên trên cái biết của lý trí, vì trong cái vẻ bên ngoài câm điếc đó, nó ẩn chứa một nội hàm rất lớn, đến nỗi nó có thể nói lên điều mà lý trí không thể diễn tả được.

    Vì phát xuất từ con tim và ngôn ngữ của nó là ngôn ngữ của tình yêu, nên gặp gỡ là một lời mời gọi hướng đến đối tượng của cuộc gặp gỡ. Lời mời gọi luôn luôn đợi chờ một tiếng đáp trả, chứ không phải là một câu trả lời. Vì câu trả lời được dành cho sự hạch hỏi, tra vấn và một khi đã trả lời thì vấn đề xem như đã chấm dứt; trái lại, lời mời gọi đòi hỏi một sự đáp trả liên tục và điều đó cũng hàm ẩn một sự vượt ra khỏi chính mình để bước vào một cuộc phiêu lưu, một sự dấn thân liên tục, như Samuel thốt lên với Thiên Chúa: “Lạy Chúa con đây, này tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe[2] hay như Phaolo trên đường Damas : “ Lạy Ngài, Ngài là ai?”[3].

    Là ngôn ngữ của con tim, nên gặp gỡ dẫn đưa con người lại gần nhau hơn, đồng thời giải phóng con người khỏi tính vị kỷ và cái nhìn duy ngã. Chính vì thế nó thật hơn là lý trí. Ở đây không muốn nói lý trí dối trá, nhưng lý trí có thể dối trá; còn ngôn ngữ của con tim là ngôn ngữ của tình yêu, nên nó rất thật. Nó thật một cách trần trụi, vì nó có thể cho đi mà không tính toán hơn thiệt và dám dùng sự sống mình để sống cái thật của tình yêu phát sinh từ cuộc gặp gỡ.

    Thế nhưng để sống với cái thật đó, cần phải giải mã sứ điệp đang ẩn chứa trong cuộc gặp gỡ. Sứ điệp càng thiết thân, càng gắn liền với sự sống còn của chúng ta, thì chúng ta càng dấn thân hết mình. Dưới cái nhìn đó, là Kitô hữu, chúng ta phải giải mã sứ điệp của Thiên Chúa qua cuộc gặp gỡ “Thiên Chúa-Con Người”. Thế mà cuộc gặp gỡ ấy đang diễn ra trong mỗi người, trong Giáo Hội, thân mình của Chúa Kitô và trong suốt dòng chảy của thời gian, của lịch sử nhân loại. Chính vì thế, truyền thống của Hugues de saint Victor mời gọi con người giải mã sứ điệp của Chúa qua cuộc sống. Vì cuộc sống mà chúng ta đang sống được coi như là cuốn sách, nơi đó chúng ta “Đọc thấy” Thiên Chúa rất gần và rất thân thiện, để dấn thân vào cuộc gặp gỡ với Ngài[4]. Trái lại, trong bài giảng thứ ba về Diễm tình ca, thánh Bênađô nhấn mạnh đến “cuốn sách của kinh nghiệm”. Khi sử dụng thuật ngữ này, thánh nhân muốn nói rằng gặp gỡ Thiên Chúa không phải là khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời chúng ta, nhưng là sống với Chúa bằng tất cả những gì chúng ta có, với kinh nghiệm rất ư là riêng tư. Dưới cái nhìn này, gặp gỡ Thiên Chúa là một sự đón nhận và trầm mình trong suối nguồn yêu thương của Thiên Chúa. Sự đón nhận ấy in đậm sắc thái của mỗi cá nhân trong lúc này, chứ không phải ở một chân trời khác. Bởi thế, kinh nghiệm cá nhân là điều không thể thiếu trong cuộc gặp gỡ.

 

     2. Về kinh nghiệm cá nhân

    Đối với thánh Bênađô, kinh nghiệm cá nhân đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống thiêng liêng của các Đan sĩ, và kinh nghiệm của người này không thể là của người kia. Có một điều khá độc đáo trong cuộc gặp gỡ Thiên Chúa, sự độc đáo này hệ tại ở chỗ chúng ta gặp được Thiên Chúa vô hình trong thân phận hèn yếu của con người hữu hình. Sự gặp gỡ này lại không thực hiện bằng cách thức thông thường của con người, nhưng lại là một cuộc gặp gỡ thật sự;  nó không có cảm giác là một cuộc gặp gỡ, nhưng nó chứa chan một niềm vui, một sự hiện diện và một sự no thỏa với ai đó.

    Có lẽ không gì hơn là lắng nghe chia sẻ của thánh Bênađô về những kinh nghiệm mà Ngài đã kinh qua trong cuộc đời; những kinh nghiệm đã biến đổi cuộc đời và dẫn Ngài vào một chân trời mới:

    Trước hết, đó là kinh nghiệm mang đậm nét thời thơ ấu. Nhân một đêm Giáng Sinh, Ngài cũng tham dự Thánh Lễ như các con trẻ khác; tuy nhiên, Ngài lại có một kinh nghiệm thật tuyệt vời, vì qua việc cử hành phụng vụ, Ngài cảm được rằng Chúa Giêsu không chỉ được sinh ra trong quá khứ, nhưng đang được sinh ra và nhất là được sinh ra trong lòng Ngài. Đây cũng là kinh nghiệm của Giáo Hội, vì Giáo Hội, hôm nay và bây giờ không chỉ cử hành lại quá khứ của mầu nhiệm Giáng Sinh; trái lại, cử hành một Chúa Giêsu đang được sinh ra ở hiện tại. Như vậy,  khởi từ thánh Bênađô việc Chúa sinh ra biến thành kinh nghiệm bên trong. Nhưng làm sao việc sinh ra hữu hình có thể trở thành nơi chốn cho một kinh nghiệm bên trong được?

    Sau khi Chúa Giêsu về trời, Ngài không thể sống như kinh nghiệm bên ngoài; nên chúng ta không thể gặp gỡ Ngài, đụng chạm đến Ngài như các môn đệ đã làm khi họ sống với Ngài lúc còn ở  tại Palestine. Vì thế, chúng ta không thể gặp được một Chúa Giêsu lịch sử, mà chỉ gặp được Chúa Giêsu của lòng tin; một Chúa Giêsu đang hiện diện trong Giáo Hội và hiện diện trong cõi lòng chúng ta. Do đó, điều mà thánh Bênađô kinh nghiệm cũng là điều Giáo Hội kinh nghiệm xuyên suốt dòng chảy của của lịch sử.

    Kế đến, cũng như bao đứa trẻ khác, thánh Bênađô đã từng thán phục những chiến binh trở về từ đất thánh. Việc họ được đụng chạm mảnh đất Chúa Giêsu từng sống và uống cùng mạch nước Chúa Giêsu đã uống… làm tăng thêm lòng tin cho các tín hữu. Tuy nhiên, đối với thánh Bênađô, điều quan trọng không phải là kinh nghiệm của các chiến binh có về đất thánh, nhưng là để cho Chúa được sinh ra trong chúng ta và hãy để cho kinh nghiệm của cuộc viếng thăm của Thiên Chúa trong chúng ta tạo nên một sự biến đổi. Vì thế, kinh nghiệm ở bên ngoài chỉ hữu ích khi và chỉ khi kinh nghiệm ấy dẫn chúng ta đến gặp gỡ một Chúa Giêsu đang sống trong lòng thế giới và trong cõi lòng chúng ta. Sự gặp gỡ Thiên Chúa không còn bị giới hạn vào một nơi nào đó, nhưng lệ thuộc vào việc gắn bó với một Thiên Chúa sống động đang có đó.

    Cuối cùng, vào thế kỷ thứ XIIe là thế kỷ kế tiếp người ta đợi chờ Chúa lại đến vào lần thứ hai. Thế mà một ngàn năm qua rồi nhưng Chúa vẫn chưa đến, nên người ta nghĩ đến một thời gian trung gian giữa hai thời kỳ Chúa đến. Đối với thánh Bênađô, thời gian trung gian này chính là thời gian mà Chúa Giêsu chưa đến và cũng là thời gian mà Giáo Hội, với tư cách là hiền thê, đang khẩn nài Chúa Giêsu trở lại. Như thế, sự đợi chờ này luôn hàm ẩn một sự hiện diện, sự hiện diện của Đấng mà người ta đang đợi chờ. Điều độc đáo ở đây là: không phải đợi chờ một Đấng chưa đến hay một Đấng sẽ đến, nhưng đợi chờ Đấng đang có đó. Phải chăng là một nghịch lý? Thánh nhân lý giải, việc Chúa đến lần thứ ba này mang tính trung gian và ẩn dấu, đồng thời nội tại, nên cần phải có kinh nghiệm bên trong mới có thể nhận ra và sống sự đợi chờ này được. Người nào không có kinh nghiệm này thì sẽ không cảm nếm được sự hiện diện và ngọt ngào của Thiên Chúa. Do đó, chỉ có những ai được Chúa tuyển chọn mới có thể nhận ra sự hiện diện này[5]. Như vậy gặp gỡ Thiên Chúa phải chăng là một ân huệ, hay là một nổ lực của bản thân? Chúng ta gặp Thiên Chúa hay Thiên Chúa gặp gỡ chúng ta? 

 

            3. Ai gặp ai?

    Theo học thuyết của thánh Augustino, con người luôn luôn hướng về Thiên Chúa như “ Nai vàng tìm kiếm suối trong”. Thiên Chúa là nguồn sự sống con người phải hướng về và đến kín múc. Con người không thể sống mà không có Thiên Chúa, vì thế con người luôn thao thức hướng về để kết hiệp trọn vẹn với Thiên Chúa: “Lạy Chúa, lòng con thao thức mãi cho đến khi nào được nghĩ yên trong Chúa”[6]. Tuy nhiên, theo thánh Bênađô, ở dương thế này, không thể nào có sự kết hợp trọn vẹn với Thiên Chúa mà thánh nhân gọi là sự thần hóa. Sự kết hợp ấy chỉ diễn ra một cách tròn đầy khi con người lìa bỏ thế giới này và về ở bên Thiên Chúa[7]. Cũng theo thánh nhân, để hướng về cuộc gặp gỡ trọn vẹn này, con người không thể bỏ qua tiến trình của sự gặp gỡ mà khởi đầu là một tình yêu vụ lợi gắn liền với bản tính yếu hèn của con người. Từ đó, qua sự thanh luyện, con người lột bỏ dần dần tham, sân, si để biến tình yêu rất ư là trần tục trở thành tình yêu như Chúa Kitô, Đấng đã đến và yêu con người cho đến chết bằng một tình yêu vô vị lợi. Trong suốt quá trình ấy, con người luôn tự phủ định chính mình để vươn lên đến sự thành toàn trong Chúa Kitô. Ở đây, chúng ta thấy hai quá trình song song nhau mà đôi khi gần giống như là đối chọi lẫn nhau: một đàng con người không thể đến với Thiên Chúa được nếu Thiên Chúa không lôi kéo; hay nói một cách khác, tất cả các cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa đều phát xuất từ sáng kiến của Thiên Chúa. Mặt khác, con người luôn luôn cố gắng đuổi theo để nắm bắt Thiên Chúa. Điều này đòi hỏi một nổ lực tối đa của con người, nếu không con người không thể nào thỏa được nỗi niềm khao khát của chính mình. Tại sao?

    Thánh Bênađô cho chúng ta ba lý do khả dĩ lý giải được sự chuyển động trong tiến trình này:

    Trước hết, thật không có gì tốt hơn để Thiên Chúa lôi kéo con người, vì làm như vậy con người không thể nào chạy theo những lời mời gọi ngọt ngào nhưng mau qua. Thật vậy, kinh nghiệm của tiên tri Giêrêmia cho thấy sức mạnh của sự cuốn hút nơi Thiên Chúa: “ Lạy Thiên Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con để cho Ngài quyến rũ. Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng”[8].

    Kế đến, sự lôi kéo ấy nói lên sự trung tín của Thiên Chúa, “Vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”[9] và sự trung tín ấy cũng đánh dấu một sự đảm bảo của niềm tin, mà qua đó con người nương tựa vào Đấng mà con người cần được tựa nương.

    Cuối cùng, khi lôi kéo con người Thiên Chúa giải thoát họ khỏi sự cô độc, khép kín lòng mình để mở rộng cõi lòng hướng đến tha nhân, đang cần sự chia sẻ của mình[10].

    Với những lý do đó, thánh Bênađo chứng minh rằng việc lôi kéo của Thiên Chúa là một điều cần thiết để con người có thể bước theo và khám phá ra sự khôn ngoan, ngọt ngào nơi Thiên Chúa. Thật vậy, mỗi lần Thiên Chúa lôi kéo con người thì con người như đang bước vào sự khôn ngoan của Thiên Chúa; và mỗi khi như vậy, con người nổ lực bước theo Đức Kitô, để trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, nhờ đó con người được kết hợp với Thiên Chúa trọn vẹn. Nói cách khác, cuộc gặp gỡ của con người với Thiên Chúa trở nên trọn vẹn hơn.

    Tuy nhiên, trong thực tế sự gặp gỡ giữa chúng ta với Thiên Chúa đôi khi giống như trò chơi tình ái mà sách Diễm Tình Ca diễn tả qua mối tình “Chàng” và “Nàng”. Nàng đi tìm Chàng và tưởng như đã bắt gặp nhưng lại bị vuột ra khỏi tầm tay; Chàng đang hiện diện đó, nhưng Nàng cứ mãi tìm kiếm. Nàng càng khát khao, Chàng dường như mất dạng…Thế nhưng khi Chàng có đó, Nàng vẫn như đang còn ngỡ ngàng…Cứ như thế, cuộc tình giữa Chàng và Nàng tạo nên một thiên tình ca và một nét đẹp của sự gặp gỡ, bởi vì đã gặp rồi nhưng hình như chưa bao giờ gặp; đã nắm bắt một thực tại nhưng vẫn còn thao thức.

 ***

    Gặp gỡ Thiên Chúa là một thực tại mà hình như ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần cảm được điều đó, nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng có thể nhận ra, vì nó tuy gần nhưng lại rất xa; xa mà lại rất gần. Chính vì thế, đôi khi chúng ta cũng có tâm tình như thánh Augustino: Thiên Chúa luôn có đó nhưng chúng ta vẫn cảm thấy cô đơn, lẽ loi và vì thế cõi lòng chúng ta như ray rứt và thao thức mãi. Một sự thao thức như Tagore khi đứng trước vẻ đẹp của Thương Đế qua cảnh vật của trời đất, nhận ra đó là Ngài mà vẫn còn chờ mong. Chúng ta phải chờ mong mãi vì cuộc sống dương thế là một cuộc hành trình đi về quê trời và sự thao thức làm cho cuộc sống của mỗi người trở thành đáng yêu hơn và đẹp hơn.

 

 

 


 

[1] ĐGH BENEDICTO XVI, Thông điệp “Thiên Chúa là tình yêu”, số 1.

[2] I Sm 3, 10.

[3] Cv  9, 5.

[4] M. FALQUE, kinh nghiệm và đồng cảm  nơi Thánh Bênađô, p 657, trong « Tạp chí nghiên cứu về triết học và thần học», t 89, n° 4, 2005.

[5] THÁNH BÊNAĐÔ, Bài giảng số 5 Mùa Vọng.

[6] THÁNH AUGUSTINO, Đối thoại 5

[7] THÁNH BÊNAĐÔ, Khảo luận về Tình Yêu Thiên Chúa, số 27

[8] Gr 20, 7.

[9] Tv 136.

[10] THÁNH BÊNAĐÔ, Bài giảng 21 về Diễm Tình Ca.

 

 

 

 

 

 

 

SỐNG HOÀI NỖI KHÁT KHAO

ĐỒNG CẢM VỚI R.TAGORE QUA TÁC PHẨM LỜI DÂNG

 

Ân Đức Trần Ngọc Hoan

            Khai đề

Năm 1973, lúc mới 20 tuổi lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với tư tưởng của Rabindranath Tagore[1]  qua tác phẩm có tựa đề “Lời Dâng (Gitanjali)[2]”, tôi cảm thấy lời văn rất hay nhưng nội dung tôi không hiểu được nhiều. Mãi đến năm 1980 lúc tôi chuẩn bị khấn trọng, tôi được ai đó tặng cuốn sách “Lời Dâng” này. Không có vị giảng phòng, nhưng chính Tagore đã theo tôi trong cuộc hành trình tĩnh tâm chuẩn bị ngày vĩnh khấn. Tôi đã cảm nếm say sưa và đã học thuộc lòng từng đoản khúc trong tác phẩm này. Đúng như tựa đề của bài viết, Tagore đã sống hoài nỗi khát khao và hy vọng, đã khắc khoải đợi chờ, đã bật lên tiếng lòng đầy bi ai của kiếp phận con người. Tới đây cũng nên xác định Tagore không phải là nhà thơ Kitô giáo, ông vừa là nhà thơ, vừa là sáng tác nhạc, vừa là nhà giáo dục và vừa được coi như bậc thánh hiền của Ấn Độ giáo, tuy ông đã được tiếp xúc với Kitô giáo khá sâu đậm, thể hiện qua những tâm tình rất gần gũi với Kitô giáo.

 

            1.NỖI KHẮC KHOẢI CỦA PHẬN NGƯỜI

Tagro đã dùng thi ca để diễn tả nỗi khắc khoải khôn nguôi của thân phận con người. Cho dù cuộc đời có ra sao, có đi về đâu, hạnh phúc và đau khổ, giàu có hay nghèo túng, thì nỗi khắc khoải muôn đời vẫn chính là Thượng Đế. Có khác chi tâm tình của thánh Augustino sống hoài nỗi xuyến xao bao lâu chưa được nghỉ an trong Chúa[3].  

        Nếu số phần không để tôi gặp Người trên cõi đời này,

        Thì xin cho tôi luôn luôn cảm thấy thiếu vắng bóng Người.

        Đừng để tôi quên, dù quên giây lát,

        Mai xin để tôi gánh chịu buồn này ray rứt

        Trong những giấc mơ

        Hay những giờ thao thức, Người ơi.

Con người trong cuộc nhân sinh lăn lội với miếng cơm manh áo, với bao vất vả bon chen tìm kiếm bạc tiền, thì đối với Tagore cuộc kiếm tìm vẫn còn chưa dứt, bao lâu chưa tìm được “Viên Ngọc Qúi” mà chính chúng ta cũng cảm nhận được là ai.

        Suốt ngày vì sống trong chợ đời đông đúc,

        Hay tay đầy lợi tức bán buôn,

        Thì xin cho tôi luôn luôn cảm thấy

        Là chưa kiếm được gì.

        Đừng để tôi quên, dù quên giây lát,

        Mà xin để tôi gánh chịu buồn này ray rứt

        Trong những giấc mơ

        Hay những giờ thao thức, Người ơi.

Đời người là một cuộc hành trình về Quê Hương đích thực, lắm khi ta mệt mõi chán chường, muốn ngủ vùi trong quên lãng lãng quên. Tagore tâm sự:

        Khi tôi ngồi bên vệ đường, mệt nhoài, hổn hền,

        Khi tôi nằm ngủ trong đất bụi,

        Thì xin cho tôi luôn luôn cảm thấy

        Cuộc hành trình trước mặt dài dằn dặc còn nguyên.

        Đừng để tôi quên, dù quên trong giây lát,

        Mà xin  để tôi gánh chịu buồn này ray rứt

        Trong những giấc mơ

        Hay những giờ thao thức, Người ơi.

Rồi cũng có những lúc cuộc đời ta rộn rã những tiệc vui, căn phòng hồn ta bao khách khứa vào ra. Thì nỗi trống vắng quạnh hiu vẫn còn nguyên đó, bao lâu chưa tiếp được “Vị Khách quí duy nhất”.

        Khi căn phòng tôi đã trang hoàng,

        Tiếng sáo, tiếng cười ở đó ngân vang.

        Thì xin cho tôi luôn luôn cảm thấy

        Là chưa mời được Người vào nghỉ bên trong.

        Đừng để tôi quên, dù quên trong giây lát,

        Mà xin  để tôi gánh chịu buồn này ray rứt

        Trong những giấc mơ

        Hay những giờ thao thức, Người ơi. (Lời Dâng, 79)

Vẫn biết là con người là thế đó: đầy trớ trêu mâu thuẫn, đầy lầm lỗi. Ai trong chúng ta đã không từng cảm nghiệm được cuộc tâm chiến dằng co này trong chính bản thân, như tháhn Tông Đồ Phaolô đã không từng than thở như thế ư?[4]

        Chướng ngại trong tôi thường dai dẳng,

        Nhưng khi rắp tâm đập tan tôi lại thấy lòng dạ nhói đau.

        Tôi chỉ thèm có tự do giải thoát,

        Nhưng lại thấy hổ thẹn khi mong đợi ngóng chờ.

        Vải liệm bao thân tôi à khăn liệm bụi bậm và chết chóc,

        Tôi ghét vô cùng,

        Ấy thế mà vẫn cứ yêu thương ôm vào lòng.

        Tôi nợ nần nhiều lắm,

        Tôi thất bại lớn lao,

        Tôi xấu hổ âm thầm và ê chề sạn mặt.

        Tuy nhiên khi tới hỏi xin lạc phúc,

        Tôi lại run rẩy sợ lo,

        Những e lời nguyện cầu được chấp nhận. (Lời Dâng, 28)

 

            2.NỖI KHÁT KHAO CỦA NGƯỜI CA CÔNG

Hình ảnh nhân vật mà Tagore ưa dùng và hóa thân trong tác phẩm “Lời Dâng” là chàng ca công của Thượng Đế. Trong dàn nhạc đại hợp xướng vĩ đại của trần gian, mà Thượng Đế là vị ca Trưởng tối cao, mỗi người là một ca viên lĩnh xướng “bất khả thay thế”.

        Khi người ban lệnh cất lời ca,

        Tôi thấy tim mình như rạn nứt,

        vì hãnh diện khôn cùng.

        Ngước nhìn mặt người, mắt tôi ướt lệ.

        Những gì trong tôi lỗi điệu, đục khàn

        Đã biến thành hòa khúc dịu êm.

        Như chim vui náo nức băng qua biển cả,

        Lòng tôi đê mê giang cánh bay xa.

Chàng ca công luôn thấy mình hèn mọn nhỏ nhoi trong  một góc của thế giới này. Ấy thế mà chàng luôn cảm thấy hạnh phúc, nao nức chờ đến phiên mình được đàn ca trước mặt Thượng Đế, Đấng mà chàng gọi là “Bạn” trong cơn mê.

        Say nhừ vì nguồn vui ca hát,

        Tôi quên bẵng thân mình;

        Tôi gọi Người là Bạn,

        Thượng Đế của lòng tôi. (Lời Dâng, 2)

Hãy nghe chàng ca công tự sự:

        Tôi đã được mời dự đại hội trần gian;

        Đời tôi thật có ân phúc diệm kiều.

        Đến đây tôi đã được nhìn và được nghe.

        Tại hội vui này, phần tôi là mang đàn dạo khúc;

        Và tôi đã làm hết sức mình…

        Tôi tới đây để hát hầu Người.

        Trong căn phòng thênh thang này,

         tôi sẽ ngồi vào một xó.

        Trong thế giới của người tôi hoàn toàn thất nghiệp;

        Cuộc đời vô dụng của tôi chỉ còn biết rắc reo giai điệu không ngừng. (Lời Dâng, 15,16)

Phải chăng hình ảnh những đan sĩ Biển Đức – Xitô khoác áo ca công mỗi ngày hát Thần vụ trong ca tòa cũng là hình ảnh Tagore gợi lên cho chúng ta. Chàng ca công của chúng ta vẫn thường hồn nhiên tự hào vì biết rằng tiếng hát của chàng đã làm Thượng Đế vui thích.

        Tôi biết lời tôi ca làm người vui thích.

        Và tôi biết:

        Chỉ khi khoác áo ca công

        Tôi mới đến trước mặt Người.

        Lời tôi ca vươn cánh rộng dài bay

        đến nhẹ vuốt chân Người,

        Bàn chân trước kia nào dám ước mơ chạm tới. (Lời Dâng, 2)

Đối với chàng, ca hát là một niềm vui, một hạnh phúc, hơn thế nữa ca hát trước mặt Thượng Đế lại là một ân huệ vô ngần; chẳng phải vì chàng là một danh ca lừng lẫy, cũng chẳng phải tiếng hát của chàng ngọt ngào điêu luyện.

Chàng kể cho chúng ta nghe câu chuyện đẹp như một giấc mơ, khi nói đến sự chiếu cố của Thượng Đế trên cuộc đời của chàng. Ca khúc “Ngôi nhà tranh đơn sơ”[5]  như một đồng ca đồng điệu với Tagore khi cảm nhận được mầu nhiệm “Nhập thể” của Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng đã “vì yêu” đã trở nên xác phàm và ở với chúng ta.

        Rời ngôi báu, người tới đứng ở cửa nhà tôi,

        ngôi nhà tranh đơn sơ.

        Tôi đang hát một mình trong xó tối;

        Điệu du dương quyến rũ tai Người.

        Rời hoàng cung, người đến đứng ở cửa nhà tôi,

        ngôi nhà tranh đơn sơ.

        Trong cung điện chẳng thiếu nhạc sư lừng lẫy;

        Ở đó người ta ca, người ta hát suốt ngày đêm.

        Nhưng đơn khúc của nhạc công này non dại

        đã khiến lòng Người vấn vương.

        Một ca khúc nhỏ bé, bi ai

        đã hòa vào bản nhạc trần gian vĩ đại;

        Với bông hoa làm giải thưởng,

        Người đã rời hoàng cung, dừng bước ở cửa nhà tôi,

        Ngôi nhà tranh đơn sơ. (Lời Dâng, 49)

Thượng Đế, vị Quân Vương, vị Ca Trưởng tối cao không những biết vui thích lắng nghe tiếng đàn ca non nớt của con người, mà còn hơn ai hết, Ngài là người Nghệ Sĩ toàn bích

Lời Ngài ca, tiếng Ngài hát không một danh ca nào sánh ví được. Trước mặt Ngài, mọi loài chỉ còn biết lặng thầm kính lạy, và chàng ca công của chúng ta chỉ còn biết rưng rưng nước mắt vì thấy nỗi đớn hèn bất lực của mình. Hãy nghe chàng thở than cùng Thượng Đế:

        Tôi không hiểu lời Người đang hát, Người ơi!

        Tôi lắng nghe im lặng, ngỡ ngàng.

        Ânh âm bản người sáng tạo soi sáng cùng thế giới.

        Hơi thở cuộc đời trong giai khúc người gieo

        lan tỏa mọi phương trời.

        Giòng suối thiêng liêng trong điệu khúc người tấu

        vượt từng vách đá cản đường

        rồi băng mình chảy miết.

Làm sao hát được bài ca nhiệm mầu của Thượng Đế, bài ca mà phận hèn nhân thế không thể nào hiểu được nếu đã không được chính Thượng Đế mặc khải và dạy cho con người qua Người Con Một yêu dấu của Ngài.[6] 

        Lòng tôi khát khao nhập vào bài ca người hát,

        song hoài công cất tiếng chẳng thành.

        Tôi muốn nói, nhưng lời lại rã rời, lạc điệu;

        Sượng sùng tôi nức nở lệ rơi.

        A ha! Người đã giam tim tôi

        trong lưới nhạc trùng trùng. (Lời Dâng, 3)

        Giai điệu nào đã làm tôi nín lặng,

        Hòa âm nào đã làm tôi say sưa,

        Lời Người ca tôi nghe mãi chưa vừa,

        Bởi chính Người là bài ca tuyệt diệu.[7]

Vậy thì, trước mặt Thượng Đế, chàng đã hát những gì? Và lời chàng ca có gì để cho Thượng Đế phải vui thích? Trong thơ Tagore chúng ta sẽ bắt gặp những chủ đề mà chàng ca công hát:

        Lời tôi ca, chính là cuộc sống

        Tôi hát về Ngài

        Tôi hát về tôi.

        Hát về thiên nhiên

        Hát về con người.

        Hát về Tình yêu

        Và hát về sự Chết…[8]

Tuy nhiên, chừng ấy bài ca chàng đã hát trong cuộc đời này đã chưa làm chàng cạn vơi đi một nỗi khát khao lớn lao nhất hằng canh cánh trong lòng, đó là cuộc hẹn hò: Được chiêm ngưỡng Thượng Đế, diện đối diện. Bài ca cuối cùng chàng vẫn chưa được hát. Chàng tâm sự:

        Bài ca tôi tớ để hát đến hôm nay vẫn chưa được hát.

        Đã bao ngày lên dây đàn rồi lại tháo dây ra.

        Tiết điệu chính xác vẫn chưa tìm thấy,

        Lời chưa đặt xong.

        Trong tim chỉ một niềm khao khát khắc mà thôi.

        Hoa chưa nở, chỉ có gió đang thở than bên cạnh.

        Tôi chửa nom thấy mặt Người ấy,

        Chửa nghe giọng nói

        mà chỉ vẳng nghe tiếng chân nhẹ bước trên đường

        trước cửa mà thôi.

Ước chi chúng ta cũng cảm nhận được như Tagore để sống hoài khát khao tràn trề niềm vui và hy vọng:

        Trong khi dọn chỗ trong nhà cho Người ấy,

        Ngày dài đời tôi đằng đẵng trôi qua;

        Nhưng đèn chưa thắp,

        và tôi chẳng thể mời người ấy vào trong.

        Tôi sống với hy vọng gặp mặt người ấy;

        nhưng cuộc gặp gỡ vẫn chửa đến nào. (Lời Dâng, 13)

Vâng, chàng đã từ lâu chờ đợi đến lúc được hát bài ca cuối cùng ấy. Sự chết đối với chàng không là một ngõ cụt, một nỗi mất mát, một tai họa đau thương, nhưng là cánh cửa cuối cùng để đi vào tiệc cưới thiên thu. Một sự trở về như cánh hạc hoài bay tìm về tổ ấm, bởi như chàng xác tín:

        Bởi yêu cuộc đời

        Nên tôi hiểu: Tôi cũng yêu cả sự chết (Lời Dâng, 95)

Chàng nói với thần chết như nói với một người bạn. vị Thánh nghèo Phanxicô Assisio cũng đã từng hân hoan thân thưa với sự chết như với người “chị” yêu dấu.[9]

        Ôi Thần Chết!

        Ngươi làm cuộc đời tràn đầy lần cuối,

        Thần Chết của ta,

        Hãy ở lại, và thì thầm cùng ta chứ!

        Ngày lại ngày, ta canh chừng ngóng đợi,

        Vì ngươi ta đeo đẳng buồn vui, buồn vui của cuộc đời.

        Những gì ta là, những gì ta có,

        Những gì ta hoài mong, những gì ta yêu thương,

        Tất cả vẫn sâu xa bí mật trôi chảy về ngươi.

        Chỉ cần một ánh nhìn từ mắt ngươi lần cuối,

        Là đời ta vĩnh viễn thuộc về ngươi.

        Đẹp là sao hình ảnh mà Tagore gợi lên cho chúng ta đoạn kết của một cuộc đời được đi vào tiệc cưới với Đức Lang Quân.[10]

        Hoa đã kết thành tràng,

        sẵn sàng chờ đợi tân lang.

        Sau tiệc cưới, giai nhân sẽ rời nhà,

        một mình ra đi gặp Tân Lang trong đêm tối quạnh hiu. (Lời Dâng, 91)

Ôi, một kiếp ca công của Thượng Đế hạnh phúc làm sao. Suốt đời chàng chỉ biết hát ca để phụng sự Ngài, dầu chỉ là như một kiếp du ca, như khách lữ hành trên đời xa vạn dặm, mong ước tới ngày kết thúc cuộc hành trình. Tâm hồn chàng náo nức dặn dò:

        Vào lúc tôi ra đi, anh em ơi!

        Cầu cho tôi may mắn nhé.

        Bầu trời rực ánh bình minh,

        và đường tôi đi trải dài thật đẹp.

        Xin đừng hỏi tôi mang theo những gì tới đó.

        Tôi ra đi với trái tim hoài vọng và hai tay rỗng không.

        Tôi sẽ choàng vòng hoa tân hôn…

        Khi cuộc hành trình kết thúc,

        sao hôm sẽ xuất hiện trên trời;

        Và từ cổng Hoàng cung,

        Ca khúc hoàng hôn sẽ vắng âm thanh non nỉ, vắn dài. (Lời Dâng, 94)

Còn phần thưởng nào lớn lao hơn điều chàng mong đợi. Nhìn lại cuộc đời ca hát của mình, chàng cảm nhận được bao ân huệ, bao nỗi niềm. Chàng nói:

        Suốt đời, tôi ca hát để tìm người.

        Lời ca dẫn tôi lang thang hết nhà này đến nhà kia.

        Nhờ thế, khi rờ rẫm, kiếm tìm thế giới của mình,

        Tôi cảm thấy xung quanh.

        Lời ca dậy tôi những gì tôi đã học,

        Chỉ cho tôi những nẻo đường bí mật

        và những vì sao nơi chân trời của trái tim tôi.

        Lời ca dẫn tôi đi suốt ngày

         tới Quê Hương huyền bí của buồn vui;

        Nhưng bây giờ, khi cuộc hành trình kết thúc,

        Lời ca đã đưa tôi tới cổng Hoàng cung nào nhỉ,

        lúc hoàng hôn? (Lời Dâng, 101)

 Có thể nói, bài ca cuối cùng của người ca công chúng ta là bài ca đẹp nhất, thi vị nhất, nồng nàn nhất. Nguyện ước của chàng là được đi vào thế giới của Thượng Đệ. Chàng đã từng kêu lên khi chiêm ngưỡng trái đất này khi vành nôi yêu thương mà Ngài đã ban tặng cho con người:

        Người là bầu trời và cũng là tổ ấm.

        Ôi, người đẹp vô ngần!

        Nơi ấy trong tổ ấm tình yêu của Người

        Lấy mầu sắc, hương thơm ấp ủ linh hồn…

Và chàng khắc khoải chờ mong một trời mới, đất mới, nơi không còn “hình hài, sắc tướng” của cõi vô thường, nơi mà bài hát đạt tới chỗ “vô thanh” huyền bí.

        Ở đấy, nơi bầu trời vô hạn trải rộng

        để linh hồn bay bổng vào trong,

        Vẫn ngự trị vẻ huy hoàng nguyên vẹn, trắng tinh.

        Ở đấy, không có ngày đêm,

        không có hình thù, mầu sắc

        và chẳng bao giờ, chẳng bao giờ có lấy một lời. (Lời Dâng, 67)

        Ở đó chỗ nương thân tầm thường nhất cũng thú vị;

        Ở đó cuộc đời hèn mọn nhất cũng thơm tho.(Lời Dâng, 92)

 

THAY LỜI KẾT

Tôi không phải là một nhà nghiên cứu về Tagore – một tác giả lớn của Ấn Độ và nhân loại. Tôi cũng không có tham vọng truyền đạt hết được nội dung của tư tương Tagore. Tôi chỉ có thể nói được rằng: Đọc thơ Tagore, tôi đã cảm thấy như mình được đồng cảm, đồng điệu với Tagore qua những tâm tình vừa thi vị trầm bổng như thơ ca và âm nhạc, vừa đầy màu sắc linh hoạt như hội họavà nhất là vừa sốt sắng thiết tha như những lòi nguyện cầu. Chắc hẳng là những nỗi khắc khoải và niềm hy vọng của Tagore cũng là nỗi trăn trở và hy vọng của mỗi người chúng ta, khi chúng ta đang sống trong kiếp phận con người và nhất là những đan sĩ khoác áo ca công mỗi ngày hát ca trước mặt Thượng Đế.

 

 


 

[1] Thi hào Ấn Độ (1861-1941), giải Nobel văn chương 1913.

[2] Bản dịch của Đỗ Khánh Hoan, An Tiêm xuất bản 1972.

[3] St. Augustino “Tự Thuận”

[4] Rm 7,15-20.

[5] Ân Đức dệt thành ca khúc năm 1987 tại Nông trường Lô 6, Củ Chi.

[6] Dt 1,1-2.

[7] Khúc dạo đầu tập ca khúc Lời tôi ca, Ân Đức 1988.

[8] Khúc dạo đầu tập ca khúc Lời tôi ca, Ân Đức 1988.

[9] Trường ca tạo vật.

[10] Kh 21,1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KHAO KHÁT THIÊN ĐÀNG

CHA BIỂN ĐỨC THUẬN

VÀ NIỀM THAO THỨC SỐNG MÃI BÊN CHÚA

 

Duyên Thập Tự

 

      Người ta thường ví con người như một thần minh bị đầy xuống trần gian, và vì thế luôn mang một nỗi hoài mong thiên đàng. Bao nhiêu áng thơ, bao nhiêu tiểu thuyết diễn tả lòng khao khát trở về này với óc tưởng tượng phong phú. Một Augustinô với trái tim thao thức mãi chờ ngày nghỉ yên trong Chúa, vì “Chúa đã dựng nên con cho Chúa”. Thi sĩ Ấn Độ Tabindranath Tagore coi mình như một ca công, đã bao ngày lên giây đàn để gảy lên điệu nhạc vào ngày hạnh ngộ, nhưng “vẫn còn chưa tới cuộc gặp gỡ chờ mong”. Thao thức mãi, chờ mong mãi.

   Trong bài viết này, tôi muốn chia sẻ với độc giả tìm hiểu cá nhân về một trong những đối tượng của lòng khao khát của cha Biển Đức Thuận : lòng khao khát sống mãi bên Chúa được diễn tả qua sự “khao khát thiên đàng”.

   Để có thể đồng cảm với tâm tình của ngài về nỗi hoài mong này, chúng ta sẽ cùng nhau đọc lại một số trích đoạn thư tín hay lời giáo huấn mà ngài đã viết lên hay khuyên dạy như là nơi cô động kinh nghiệm cá nhân. Nhưng để đào sâu vấn đề hơn, một phần tìm hiểu về truyền thống đan tu về lòng khao khát trời cao sẽ được lồng vào giữa những trình bày về tư tưởng và kinh nghiệm của cha Biển Đức Thuận.

 

      1.Khao khát thiên đàng

   Trước khi tìm hiểu điều Cha Tổ Phụ mong chờ và trao lại cho chúng ta chính kinh nghiệm sống của ngài về lòng khao khát sống mãi bên Chúa trong cõi vĩnh hằng, thiết tưởng, một lần nữa, chúng ta cùng nghe lại lời giáo huấn của ngài “Về sự khao khát thiên đàng”[1].

   “Chúng ta hãy xét mình xem, lòng chúng ta có mong mỏi khát khao Thiên Đàng chăng?

   Khi chúng ta suy một ít nữa được về Thiên Đàng, một ít nữa chúng ta được nhìn thấy Chúa và Đức Mẹ yêu dấu chúng ta. Khi chúng ta suy như vậy, trong lòng có lấy làm vui, có mong mỏi mau về cùng Chúa không?

   Nếu thấy trong mình vui sướng, và mong mỏi về với Chúa, ấy là dấu tốt, là linh hồn khỏe mạnh. Nếu suy về Thiên Đàng, mà trong lòng cũng thế đó, không lấy làm chi, ấy là dấu linh hồn không khỏe mạnh, vì không lấy Thiên Đàng làm chi, không lấy phước của Chúa làm chi, vì thiếu đức cậy.

   Thiếu đức cậy, thì cũng thiếu đức tin và đức mến nữa. Nghĩa là hãy còn yêu thế gian. Cha Thánh Biển Đức hằng suy xét về sự đời sau luôn. Và các thánh cũng đều thế cả.

   Xin Chúa, xin Đức Mẹ thêm đức tin, đức cậy, đức mến Chúa vào lòng chúng ta hơn nữa.”

   Cha Tổ Phụ khởi đầu lời giáo huấn về niềm khao khát thiên đàng bằng cách mời các đan sĩ trở về với lòng mình để xét xem có một niềm khao khát, một nỗi thao thức được sống mãi với Chúa chăng? Như vậy, thiên đàng không phải là một việc đến từ bên ngoài như bất cứ một sự việc gì không có liên quan mật thiết với cuộc sống con người. Trái lại, thiên đàng phải là đối tượng của chính lòng khao khát của con người, ở trong con người, vì đó là đích điểm phải nhắm tới và đạt cho bằng được.

   Sự trở về với lòng mình sẽ giúp chúng ta kiểm chứng được tình cảm của mình, nghĩa là tâm hồn chúng ta đang hướng về điều gì. Cha Tổ Phụ rất thực tế khi nói rằng tình cảm của chúng ta đối với thiên đàng là một dấu chỉ khá rõ ràng Thiên Chúa và những thực tại “trên cao” có vị trí nào trong cõi lòng chúng ta. Điều này minh định rằng “kho tàng ở đâu thì lòng ở đó”. Không những tình cảm – trong trường hợp này là “vui” – mà còn đi xa hơn chính tình cảm, là mong mỏi, là thao thức. Mong mỏi, thao thức là thái độ chờ đợi, nhưng có tính chất “sốt ruột”; như thể đẩy nhanh thời gian, thu hẹp khảng cách không gian, để mau gặp được Chúa. Khi đề cập đến thiên đàng, Cha Tổ Phụ nói ngay đến “việc nhìn thấy Chúa và Đức Mẹ”, và “mong mỏi mau về cùng Chúa”; qua đó, ngài nhấn mạnh đến chính “đối tượng” của lòng khao khát của đan sĩ. Đan sĩ khao khát thiên đàng như một không gian để sống kết hiệp với Thiên Chúa trong tình yêu.

   Việc kiểm tra tình cảm và tâm hồn của mình có gắn bó với Thiên Chúa và những thực tại “trên cao” cho phép chúng ta thẩm định tình trạng “sức khỏe thiêng liêng” của tâm hồn. Tại sao? Vì rằng những tình cảm chúng ta có – hoặc không có, nghĩa là trơ trơ, trái tim chai đá – nói lên sự rung cảm hay không của trái tim trước những thực tại thiêng liêng. Đây không là những tình cảm mau qua, một thứ “lửa rơm”, nhưng là một “môi sinh” giúp linh hồn tiến triển. Nói cách khác, “hướng về những thực tại trên cao”, là một cách đang tìm hạnh phúc đích thực của cuộc đời, là không để những “thực tại trần gian” lôi cuốn và làm mất hướng tiến.

   Cuối cùng, Cha Tổ Phụ dẫn vấn đề đến một chiều kích “thần học”, khi đề cập đến ba nhân đức đối thần : tin cậy mến. Tại sao sự kiện không cảm thấy lòng khao khát thiên đàng lại là triệu chứng của sự thiếu lòng trông cậy? Vì rằng lúc đó linh hồn không còn trông chờ vào điều Thiên Chúa hứa là hạnh phúc mà mà thiên đàng là một biểu thị, khi ấy đối tượng mà linh hồn yêu mến là trần gian và các thực tại dưới đất. Vì thế, khi lòng trông cậy bị hao tổn, thì cũng ảnh hưởng tới đức tin và đức mến.

   Phân tích một cách khái quát lời giáo huấn của Cha Tổ Phụ “về sự khao khát thiên đàng”  cho phép chúng ta khám phá ra những khiá cạnh của vấn đề và tầm ảnh hưởng trong đời sống thiêng liêng. Nhưng phải chăng Cha Tổ Phụ, khi đề cập đến thiên đàng, là ngài nói lên những cảm xúc riêng tư, một kinh nghiệm cá nhân; mà nếu là cá nhân có thể trở thành một lộ trình thiêng liêng cho người khác?

   Để tìm hiểu vấn đề một cách sâu rộng hơn, thiết tưởng chúng ta cần xét xem lòng khao khát thiên đàng có một vị trí nào trong linh đạo đan tu? Và đâu là tầm ảnh hưởng cuả nó trong đời sống đan sĩ?

 

      2. Một nền văn hóa ngưỡng vọng trời cao

   Nền văn hóa đan tu thời trung co[2] có hai nguồn. Những nguồn thuộc loại thứ nhất có tính chất văn chương : những bản văn như kết quả của nghiên cứu hay suy niệm. Những nguồn thuộc loại khác khởi từ kinh nghiệm thiêng liêng. Đây là những nguồn quan trọng nhất cho phép các nguồn khác nối kết hài hòa. Như vậy, nội dung của văn hoá đan tu xuất hiện như được biểu thị và tổng hợp bằng hai từ : văn chương và cánh chung. Nhưng phải luôn luôn vượt qua văn chương để hướng về đời sống vĩnh cửu.

   Một trong những chủ đề đầu tiên và quan trọng nhất và các đan sĩ suy tư, đó là lòng sùng mộ trời cao. Một thứ ngôn ngữ mới mà các đan sĩ sáng chế ra và rất thích sử dụng để quảng diễn lòng khao khát trời cao, một thứ văn hóa của những tâm hồn chiêm niệm được hình thành và đó là đặc điểm của đời sống đan tu. Đời sống chiêm niệm là một đời sống trong đó người ta chỉ khao khát những thực tại trên cao. Đó là điểm nhắm của những đan sĩ cũng như các ẩn sĩ[3]. Như vậy, nói đến khát vọng trời cao là gợi lên bầu khí thiêng liêng trong đó nền văn hóa đan tu triển nở. Khi suy nghĩ về trời cao, các đan sĩ cũng được nuôi dưỡng trong niềm ước mong là một ngày kia sẽ đạt tới, và như vậy, họ cầu xin ơn để điều đó được thực hiện. Nói cách khác, là ước mong có một kinh nghiệm khôn tả.

   Khi đề cập đến hạnh phúc trên trời, các đan sĩ thường nêu ra một số chủ đề để diễn tả, trong mức độ có thể, niềm hạnh phúc của cõi vĩnh hằng.

 

   a. Trước hết là chủ đề Thành Đô Giêrusalem

   Thánh Benađô định nghĩa đan sĩ là một cư dân Giêrusalem : monachus et Ierosolymita. Đan viện tham dự vào phẩm tước của Sion : đan viện thông truyền cho mọi người sống trong đó những thiện hảo thiêng liêng dành riêng cho những nơi thánh đã được cuộc sống, sự Khổ nạn và Thăng thiên của Chúa thánh hóa, và họ sẽ thấy ngày Ngài trở lại trong vinh quang.

   Ngọn núi, khi Chúa trở lại, là biểu tượng của mầu nhiệm đan tu. Đan sĩ như được cư ngụ mãi mãi trong nơi được chúc phúc này. Đó là nơi – tức là đan viện – có thể nối kết với Thành Đô chân thật. Thánh Bênađô nói thêm : “Giêrusalem chỉ những người, ở đời này, đang theo đuổi cuộc sống tu trì : tùy theo sức lực và với điều kiện là sống một cuộc đời trung thực, họ bắt chước những phong tục của thành Giêrusalem trên trời.[4]

   Và đây thánh nhân nói về một trong những tập sinh của mình :

   “Anh đã trở nên không phải một du khách chiêm ngưỡng thành đô như một người tò mò, nhưng là một trong những cư dân tận tình, một công dân dấn thân : không phải của thành Giêrusalem dưới đất có mối tương giao với núi Sion trong miền đất Ả-rập, nơi đã sống kiếp nô lệ với tất cả con cái mình; nhưng là của thành Giêrusalem trên trời, tự do và là mẹ chúng ta. và nếu anh em muốn biết, đó chính là đan viện Thung Lũng Anh sáng (Claravalle). Nơi đó tìm thấy một Giêrusalem trong mối tương giao với Giêrusalen trên trời, bằng con tim tràn đầy sùng mộ, bằng lời mời gọi đến với sự sống, và bằng một tình thân thiêng liêng thật sự. Từ nay nơi đó là nghỉ ngơi muôn đời của Chúa, như lời Ngài đã hứa; Ngài đã muốn cư ngụ nơi đó, bởi vì người ta thấy nơi ấy, không phải bằng thị kiến, nhưng là qua nỗi mong chờ trong niềm xác tín bình an chân thật, như đã được nói đến : “Bình an của Thiên Chúa vượt mọi tình cảm[5].

   Như vậy, đan viện là một Giêrusalem đi trước : một nơi của nỗi thao thức và của lòng khao khát, của sự chuẩn bị cho thánh đô thiên quốc nơi người ta dõi mắt ngước trông trong niềm vui dạt dào.

   Chính vì thế, một trong những chủ đề được thần bí đan tu ưa chuộng trong thời trung cổ là sự chiêm ngắm vinh quang mà Thiên Chúa đang vui hưởng và Ngài chia sẻ cho những người Ngài tuyển chọn trong một cuộc sống thật hạnh phúc. Thành đô Giêrusalem trên trời là mục đích đan sĩ phải luôn vươn tới vậy.

 

      b. Chủ đề thứ hai liên kết với chủ đề Giêrusalem là chủ đề lều tạm ; nơi hiện diện của Thiên Chúa và của cuộc sống vĩnh cửu trong thánh điện của Ngài.

   Đan sĩ phải vươn lên tới đó với tất cả nỗ lực, và thực hiện một sự thăng thiên. Và việc thăng thiên này kéo theo một loạt những chủ đề khác.

   Trước hết, đó là sự thăng thiên tuyệt vời của Chúa Kitô: đó là một trong những chủ đề về mầu nhiệm Chúa Kitô mà thánh Bênađô đã để lại nhiều bài giảng, nhiều hơn cả về cuộc Thương khó của Người[6].

   Đan sĩ lìa bỏ trần gian. Anh sống trong cô tịch, thường là nơi núi đồi, để thực hiện tốt hơn chương trình mà Giáo Hội dạy trong ngày lễ Thăng Thiên : “cư ngụ trong cõi trời” – in caelestibus habitemus”.

   Và đây đan sĩ được ưu đãi tiếp tục nhìn ngắm. Họ biết rằng mình sẽ không còn nhìn thấy Chúa : họ sống trong đức tin. Nhưng dầu vậy, họ còn ở lại đó. Thập giá của họ sẽ là yêu mà không thấy, nhưng dù sao vẫn cứ nhìn, vẫn cứ dán mắt vào chính Thiên Chúa, Đấng vô hình nhưng hiện diện. Chứng từ của họ đối diện với trần gian sẽ là qua chính đời sống mình, chỉ cho thấy hướng phải nhìn lên. Bằng cầu nguyện và thao thức, sẽ là làm cho Nước Thiên Chúa mau hoàn thành.

      c. Một chủ đề khác là mối tương giao giữa đời sống đan sĩ và đời sống các thiên thần (vita angelica).

   Điều đó có nghĩa gì? Phải chăng là ly thoát khỏi thế giới hữu hình, là xuất thế, là làm “thiên thần”? Hoàn toàn không phải vậy. Nhưng việc các thiên thần tôn thờ Thiên Chúa trên trời cao giúp chúng ta hiểu được việc cầu nguyện trong đời sống đan sĩ. Khi nói đến đời sống thiên thần, người ta ít nghĩ đến bản thể của các thiên thần cho bằng chức năng ca ngợi mà các vị chu toàn. “Chính ở trên trời mà con người sẽ giống như các thiên thần.”

   Nhưng vì chúng ta đã ở ngưỡng cửa của Nước Thiên Chúa và đã tham dự vào ơn đầu mùa của đời sống vĩnh cửu, cho nên không phải là chuyện bình thường khi cuộc sống hiện tại, trong đức tin, được nhìn trong mối tương giao với đời sống thiên thần hay sao?

   Biểu tượng của việc cất cánh bay lên cao, được tìm thấy tràn ngập trong các bản văn. Các tác giả sử dụng câu trong thánh vịnh 54 như khởi điểm : “Ai sẽ cho tôi đôi cánh bồ câu, để tôi bay, và an nghỉ.” Từ ông Origène đến thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, các nhà thần bí thích diễn tả qua hình ảnh này lòng khát khao Thiên Chúa của họ. Họ nhấn mạnh đến khía cạnh tích cực : đà tiến về phía Thiên Chúa, hướng chiều về cùng tận của con người là chiếm hữu được Thiên Chúa một cách viên mãn và vĩnh cửu.

   Lòng khao khát trời cao còn được diễn tả trong nhiều bản văn qua hình ảnh những dòng châu lệ. Những giọt lệ của lòng khát khao, phát xuất từ tâm tình thống hối, là những ơn huệ của Thiên Chúa : những dòng châu lệ của tình yêu. Vì thế, người ta phải cầu xin, và tìm ra ý nghĩa của chúng. Những “giọt lệ của lòng bác ái”, những “giọt lệ êm ái”, được sản sinh từ lòng nhân hậu của Thiên Chúa, từ lòng kháo khát được vui hưởng Thiên Chuá một cách vĩnh cửu, thường được song hành với những tiếng thở dài, không phải là những dấu chỉ của sự buồn tủi, nhưng như là của niềm thao thức.

   Để diễn cái vinh quang thiên đàng, các tác giả thời trung cổ đã sử dụng một chuỗi những hình ảnh thật thơ mộng nhưng cũng gắn kết với đời thường mà bất cứ ai cũng hiểu : hoa tươi, trái ngọt, mùa xuân muôn thuở, đồng cỏ đầy ánh sáng mặt trời, vinh quang của các thánh và vẻ huy hoàng của Chiên Con, hoà hợp giữa thể xác và tinh thần, sức khoẻ, tuổi xuân trường cửu, v.v.; nghĩa là không còn thiếu thứ gì mà một kitô hữu có thể ao ước nhận được từ Thiên Chúa khi bước vào vinh quang của Người. Nhưng hạnh phúc này không trong trạng thái tĩnh, được ấn định một lần cho tất cả trong giới hạn mà không có thể vượt qua : hạnh phúc tăng triển theo mức độ nó nhận được sự thoả mãn, mà nó được thoả mãn trong mức độ nó tăng triển. Như thế, lòng khao khát và sự chiếm hữu làm tăng triển lẫn nhau, vì Thiên Chúa không bao giờ cạn kiệt. Thánh Phêrô Đamianô viết : “Vì luôn luôn trống rỗng, luôn luôn no đầy, những người được Thiên Chúa ưu tuyển sở hữu điều mà họ khao khát : sự no đầy không bao giờ trở thành nhàm chán, và cái đói mà lòng khao khát nuôi dưỡng sẽ không bao giờ là là khổ đau. Khao khát, họ không ngừng hưởng nếm; và khi hưởng nếm, họ không ngừng khát khao.[7]

   Những cư dân của Thành Đô Thiên Quốc, là con người và thiên thần : họ không bao giờ lìa xa nhau, niềm hạnh phúc của họ đến từ Thiên Chúa, niềm hạnh phúc thẩm thấu hữu thể họ : thân xác cũng dự phần.

   Từ sự chiêm ngưỡng Thành Đô Thiên Chúa phát sinh lòng khao khát được ở nơi đó, và là một lòng khát khao năng động ; nhưng đồng thời nó là một sự đợi chờ và một thiên hướng, nó chính là niềm hy vọng vậy.

   Từ đó nảy sinh  những đòi hỏi sống khổ chế. Những đòi hỏi này phát sinh từ sự chiêm ngưỡng thần bí : sự thoát ly trần gian chỉ là mặt trái của sự gắn kết với Chúa Kitô; ngay từ bây giờ, nó là điều kiện và chứng từ của tình yêu. Ai muốn bay lên tới Thiên Chúa của mình, phải hướng về Người : giang rộng đôi tay, cầu nguyện, đôi mắt đẫm tuôn dòng châu lệ của niềm hoan lạc.

   Chúng ta biết rằng văn chương đan tu thời trung cổ phần lớn là một thứ văn chương của lòng thống hối, để bảo tồn và phát huy lòng kháo khát Thiên Chúa. Và sự kiện này cho thấy một quan niệm về văn hoá và đời sống đan tu. Đời sống đan tu là một sự tham dự trước vào đời sống trên trời : nó là một khởi đầu thực sự của đời sống vĩnh cửu. Tất cả mọi sự đều được đánh giá trong mối tương giao với sự hoàn tất mọi thực tại : như vậy, hiện tại chỉ là thời gian tạm quyền, là nơi trung chuyển.

   Vì đời sống đan tu là khởi đầu của đời sống vĩnh cửu, nên đan sĩ đã được nếm cảm trước những thực tại trời cao. Sự tiên hưởng này phát sinh trong tâm hồn một niềm vui, sự hoan lạc, một loại ngất ngây, nhưng là ngất ngây trong đức tin và khổ chế, không mốt chút gì là kích động tự nhiên. Vì được tiên hưởng thiên đàng, nên đan sĩ cũng được nghỉ ngơi. Vì được tham dự vào sự nghỉ ngơi trường cửu, nên đời sống đan tu, một đời sống trong “thiên đàng nội vi” (paradis claustral), là một cuộc sống hoan lạc.

   Tóm lại, văn chương đan tu thời trung cổ là một thứ văn chương của lòng khao khát, của niềm thao thức. Thứ văn chương đó đã tạo nên một loại văn hoá “ngưỡng vọng trời cao”. Khao khát trời cao là khao khát Thiên Chúa, và yêu mến Thiên Chúa bằng một thứ tình yêu đôi khi mang đặc tính nôn nóng. Khao khát càng lớn lên, linh hồn lại càng được an nghỉ trong Thiên Chúa; sự chiếm hữu Thiên Chúa gia tăng theo tỷ lệ với lòng khát khao. Nhưng sự thoả mãn hoàn toàn này sẽ phải được điều kiện hoá bởi cái chết, sự tiên hưởng giả thiết phải chết cho trần gian : không thể có sự chiêm niệm mà lại không có cái chết mầu nhiệm, không có sự hãm mình khổ chế. Điều bắt buộc này dành cho mọi kitô hữu : mọi tín hữu đều được mời gọi phải ly thoát trần gian để gắn kết với Thiên Chúa, được biểu thị bằng hình ảnh của trời cao.

   Để kết luận phần này, chúng ta mượn những lời của một tác giả đan tu vô danh vào thế kỷ thứ 12, đã diễn tả rất hay là làm sao sự kết hiệp với Thiên Chúa được thực hiện trong lòng khát khao, và hoàn lẫn với nó :

   “Người nào muốn đáng được đi tới ngưỡng cửa của đời sống vĩnh cửu, thì Thiên Chúa chỉ muốn người đó có một lòng khao khát thánh. Nói cách khác : nếu chúng ta không có những nỗ lực xứng đáng với vĩnh cửu, thì ít ra bằng lòng khao khát những thực tại vĩnh hằng, dù rằng chúng ta còn ở quá thấp và chậm chạp, chúng ta cũng đang chạy đến đó. Người ta chỉ tìm ăn uống trong mức độ người ta đói khát, tìm an nghỉ khi mệt mỏi; cũng vậy, chính qua phẩm chất của một lòng khao khát thánh mà người ta tìm kiếm Thiên Chúa, kết hợp với Người và yêu mến Người.[8]

   Sau khi đã tìm hiểu loại “văn hóa ngưỡng vọng trời cao”, chúng ta trở lại với Cha Tổ Phụ với kinh nghiệm về lòng kháo khát thiên đàng.

 

      3. Thiên đàng dọi chiếu trần gian

   Trong bài viết thứ nhất về Cha Tổ Phụ “Cha Biển Đức Thuận và đời sống đan tu chiêm niệm”, tôi đã đưa ra nhận định cá nhân : “Đọc lại những lời này (giáo huấn), chúng ta có cảm tưởng nhãn quan của ngài về cuộc nhân sinh mang mầu sắc bi quan yếm thế : tất cả đều chóng qua, mau tàn. Nhưng nếu cha Biển Đức Thuận nhìn thấy mọi sự mau qua, là vì ngài nhìn thấy chúng trong mối tương quan với cái trường cửu là Tình Yêu Chúa.[9] Thật vậy, nhãn quan đó càng rõ ràng hơn khi ngài đề cập đến thiên đàng, đến lòng khao khát cõi trời cao.

   Trong các thư gởi cho song thân hay cho bà kế mẫu (khi thân phụ đã qua đời), chúng ta như đọc thấy có một cái gì trăn trở, đúng hơn là một nỗi niềm thao thức trong cha Biển Đức Thuận, khi cuộc sống này có nhiều nỗi buồn và cả vất vả.

   Sau khi kể lại cho song thân về sự kiện nhiều người đến xin ngài giúp đỡ – vì là cha xứ Nước Mặn – để rồi ngài rơi vào cảnh khánh kiệt và nợ nần, ngài như than vãn :

   “Làm các việc ấy chẳng vui đâu, cực chẳng đã con mới phải làm để kiếm tiền giúp kẻ bần hàn kẻo nó chết đói. Ôi cuộc đời con nó buồn dường nào! Bao giờ con mới được về Thiên Đàng cho vui chút.”[10]

   Trong một lá thư gởi cho bà kế mẫu, cha Biển Đức Thuận kể chuyện nhà dòng Phước Sơn với những biến cố vui buồn, và cả những mất mát về vật chất như cọp bắt bê, nước chảy siết cuốn trôi cặp trâu kéo xe qua suối, ngài kết luận :

   “Các chuyện ấy minh chứng đất này không phải là thiên đàng, khỏi 50 năm nữa các sự ấy bảo nhau qua đi hết, không phải nói đến nữa…”[11]

   Không những các biến cố bên ngoài, mà cả những nỗi khổ nội tâm, bệnh tật, v.v. : tất cả những thứ đó đều là cơ hội nhắc nhở rằng trần gian này không phải là thiên đàng, và rằng sẽ đến ngày tất cả đều chấm dứt. Nhưng phải chăng là chúng ta cứ chờ đợi “ngày ấy” đến một cách thụ động, phải cam tâm “chịu vậy” hay sao?

   Cha Biển Đức Thuận dạy chúng ta phải mong chờ một cách tích cực bằng cách hành động ngay “bây giờ và lúc này”.

   Hành động tích cực đang khi chờ đợi ngày “hạnh ngộ” không là gì khác là chính yêu mến đáp lại tình yêu Thiên Chúa, như ngài đã viết cho bà kế mẫu :

   “Mẹ con ta chưa phải ở thiên đàng, nhưng không bao lâu nữa, đang khi trông đợi thi ta hằng ra sức kính mến Chúa hết lòng, vì Người thương yêu ta biết là chừng nào!”[12]

   Trong một lá thư khác, ngài cũng diễn tả cùng một tư tưởng trên :

   “Phần mẹ con ta hãy kính mến Chúa hết lòng, hết sức, thì sẽ được vào thiên đang ngay từ đời này; được vậy, thì khổ cực đến đâu, ta cũng luôn luôn vui mừng tươi tỉnh cả ngày được.[13]

   Cha Biển Đức Thuận coi cuộc sống trần gian này như một chuẩn bị trở về quê thật, cho nên sống trong “thung lũng đầy nước mắt” này là thực hành việc thanh luyện và tích lũy “công phúc”, mà đau khổ, thánh giá là những cơ hội thuận tiện cho công việc này, như ngài đã viết cho bà kế mẫu cũng như khuyên dạy các đan sĩ của mình :

   “[…] vậy, thì con còn sống, nhất là mẹ còn sống lâu nữa, lập công cho nhiều, để chết rồi, từ nhà thương các bà, bay thẳng về thiên cung.”[14]

   “[Vì] khi chúng tachiụ khó vì mến Chúa, thì được thêm công nghiệp, giúp chúng ta tập các nhân đức, nhất là đức nhịn nhục, lại thêm phước thanh nhàn trên thiên đàng.[15]

   Như vậy, đối với cha Biển Đức Thuận, những gì xảy ra trên trần gian này đều có ý nghĩa và lợi ích với điều kiện chúng được nhìn và được sống trong mối tương giao với vĩnh cửu, với cuộc sống đời đời. Nói cách khác, chính thiên đàng dọi chiếu và định hướng cho những thức tại trần gian. Và chính định hướng này làm cho chúng ta sống niềm hy vọng và là những con người khôn ngoan.

   “Một người khôn ngoan thật, chỉ lo về đời sau mà thôi, là biết mình sống ở đời này là lo sửa soạn về nhà thiên đàng đời sau. Tin thật chắc chắn không hồ nghi chi hết, lại ra sức nên thánh mà thôi. Đức khôn ngoan chúng ta phải tập, là biết dùng mọi phương thế mà nên thánh, cả khi lúc buồn bực, lúc đau đớn, hay khi bị xấu hổ… Cho nên, chúng ta phải tập đức khôn ngoan, và đón nhận đức khôn ngoan của Chúa đổ vào lòng.[16]

   “Nếu như có thiên đàng, thì chúng ta là người khôn ngoan thật; bằng không có thiên đàng, thì chúng ta là những kẻ điên cuồng.[17]

 

      4. Đan viện : thiên đàng tại thế

   Nếu yêu mến là cách thế thích đáng nhất để chuẩn bị ngày “hạnh ngộ”, thì chính tình yêu là nơi cư ngụ của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu; mà tình yêu luôn dẫn đến sự kết hiệp, luôn sống gần gũi với người mình yêu. Chính vì thế cha Biển Đức Thuận tìm thấy mẫu số chung giữa thiên đàng và trần gian :

   “Sự nguyện gẫm là chính việc chúng ta tập cho được kết hiệp với Chúa, ấy là chính việc nguyện gẫm. Chúng ta hãy tập cho được sự ấy, vì cũng là việc các thánh đang làm trên thiên đàng, là hằng kết hiệp với Chúa luôn, hầu được kính mến Chúa không khi nào nhàm chán.”[18]

   “[Vậy] Chúng ta hãy biết, việc chúng ta là việc quan trọng lắm, vì cùng làm một việc như các thánh trên thiên đàng đang làm bây giờ là kính mến Chúa. Chúng ta ở thế gian này, cũng phải lo việc kính mến Chúa, cho nên không khác chi; chỉ có khác điều này, là các thánh ử trên trời xem thấy Chúa, hiểu biết Chúa rõ ràng hơn chúng ta mà thôi. Vì chúng ta ở đời này cũng kính mến Chúa, cho nên chúng ta cũng làm một việc như các thánh trên thiên đàng.”[19]

   Như vậy, phận vụ trên hết của đan sĩ là yêu mến Thiên Chúa. Và nơi nào có tình yêu Thiên Chúa là có bầu khí thiên đàng, như cha Biển Đức Thuận đã nhận định :

   “Một phương thế để có thể giúp chúng ta nên thầy dòng và để kết hiệp với Chúa là tưởng nhớ Chúa hềng ở kế bên chúng ta luôn ngày đêm.

   Vậy trong mọi việc chúng ta làm hằng ngày, hãy chăm chỉ coi Chúa Giêsu làm thế nào, thì ra sức soi gương.[…]

Nếu cả nhà dòng chúng ta ai nấy cứ chăm lo làm như vậy, chắc là tốt lành biết mấy! Người ta trông vào thì thấy Giêsu, Giêsu thay thảy. Ay sự sống thiêng liêng là đó. Cha xin chúng con thử coi, chắc sẽ sinh ích, và nhà dòng chúng ta sẽ ra khác, vì là thiên đàng ở dưới đất mà chớ.[20]

   Nhưng tình yêu đối với Thiên Chúa phải đi đôi với tình yêu huynh đệ. Vì thiên đàng không chỉ là nơi Thiên Chúa ngự, mà còn là nơi Thiên Chúa ngự giữa dân Người. Nói cách khác thiên đàng là nơi qui tụ những con người yêu thương chung quanh Thiên Chúa Tình Yêu. Đan viện muốn trở thành một nơi nếm cảm trước hạnh phúc của tình yêu thiên đàng, thì các thành viên được mời gọi sống chân thành mối tình huynh đệ. Chính vì thế, cha Biển Đức thuận khuyên dạy các đan sĩ của mình :

   “[Nhưng] muốn biết chúng tôi có kính mến Chúa hay không, hãy xét coi chúng tôi có thương yêu anh em không. Nếu chúng tôi có, ấy là dấu chúng ta có lòng kính mến Chúa. […]

   Cái đạo ăn chay, cái đạo đánh tội, cái đạo chầu Thánh Thể, các đạo ấy dễ mà không chắc chi; còn cái đạo yêu thương anh em, đạo ấy thì chắc là đạo. […]

   Chúa đã phán : “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát các ngươi đã cho uống… Ấy là những lời Chúa phán cùng chúng ta, để ngày sau ban phần thưởng cho chúng ta. Khi ấy vui mừng biết mấy; rầy chúng ta hãy chịu khó đã.[21]

 

      KẾT LUẬN

   Đọc lại những lời giáo huấn cũng như một vài trích đoạn các thư tín của cha Biển Đức Thuận, chúng ta thấy nơi ngài như có một thiên hướng ngưỡng vọng trời cao, một thao thức khôn nguôi muốn trở về thiên đàng để sống mải bên Chúa. Nỗi chờ mong đó không phải là một thứ trốn chạy thực tế phủ phàng của cuộc đời, những gian lao vất vả của iếp nhân sinh; tuy rằng khi đối diện với những điều không may xảy ra, ngài thêm xác tín “thế gian này không phải là thiên đàng” và ước ao may “bay về cùng Chúa”.

   Khao khát thiên đàng, chính là khao khát Thiên Chúa : chỉ có những ai yêu mến Thiên Chúa thì mới khao khát sống với trong mọi nơi mọi lúc. Và đó là niềm vui đích thực của con người yêu thương dạt dào. Đó cũng là một nỗi “nhớ nhung”, là tỉnh thức, vì “ngủ mê là không tỉnh thức gặp Chúa, không nói khó với Chúa, không kết hiệp với Chúa,… là không mấy khi nhớ đến nước thiên đàng, không nhớ đến đời sau”[22].

   Một tâm hồn dạt dào yêu thương và khao khát khôn nguôi như cha Biển Đức Thuận như một lời mời gọi chúng ta luôn “tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa… hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ không chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” (Col 3,1-2), vì chúng ta đã là những con người của Phục Sinh.

   Dù còn sống giữa cảnh thăng trầm của thế sự, dù thập giá vẫn có trong cuộc đời, dù đôi vai vẫn oằn với bao gánh nặng, dù tâm hồn vẫn có những thứ quả của tội lỗi, chúng ta “hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa” (Dt 12,1-2). Hay nói như cha Biển Đức Thuận : “Can đảm lên, THIÊN ĐÀNG LÀ CỦA TA[23].

 

 

 


 [1] Di Ngôn Cha Biển Đức Thuận, Sáng Lập Hội Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam (DN), số 148 : “Về sự khao khát thiên Đàng”, tr. 193.

[2] Để triển khai vấn đề này, tôi sử dụng cuốn sách L’amour des letres et le désir de Dieu của Dom Jean Leclercq, chương V “La dévotion au ciel”, từ trang 55 đến 69, nxb Cerf, Paris, 1990.

[3] “Theoretica, ad quam iste liber tendit, est contemplativa, quae solis caelestibus facit inhiare, sicut sancti monachi faciunt et heremitae”, Le commemtaire du Cantique des cantiques attribué à Anselme de Laon,  dans Rech. de théol. anc. et médiév., 1949, pp. 29-39.

[4] Sup. Cant., 55, 2. P.L., 183, 1045.

[5] Epist. 64. P.L. 182,169.

[6] “Le mystère de l’Ascension du Christ dans les sermons de saint Bernard”, trong  Collect. Ord. Cist. Ref. ; 1953, pp. 81-88

[7] Thánh ca về vinh quang thiên đàng, P.L., 145,  980.

[8] “Ad promerendum aeternitatis solium, solum quaerit Deus ab homine sanctum desiderium, id est : si laborare pro aeternis digne non possumus, saltem per desiderium aeternorum iacentes curramus. Equidem juxta famis memsuram cibus queritur, iuxta lassitudinem requies; sic ex qualitate sancti desiderii Christus colitur et quaeritur et Christus amatur”, Speculum virginum, éd. M. BERNARDS, Cologne-Graz, 1955, p. 193, n. 220.

[9] “Cha Biển Đức Thuận và đời sống đan tu chiêm niệm”, trong Hạt Giống Chiêm Niệm, số 1, tr. 70.

[10] DN, số 10 (HT, tr. 55), tr. 31

[11] DN, số 50, tr. 72, (HT, tr. 157), thư đề ngày 22.11.1920.

[12] DN 22, tr. 42, (HT, tr. 76).

[13] DN, số 27, tr. 46, (HT, tr. 87).

[14] DN, số 6, tr. 87, (HT, tr. 175, thư đề ngày 08.03.1922.

[15] DN, số 126, “Về sự yêu mến thánh giá”, tr. 157.

[16] DN, số 147 “Về đức khôn ngoan”, tr. 192.

[17] DN, số 113 “Mọi sự đều vô ích, trừ ra sự kính mến Chúa”, tr. 137.

[18] DN, số 119 “Ích lợi của sự nguyện gẫm”, tr. 144-145.

[19] DN, số 142 “Các nhà trường, nhà dòng khác nhau thế nào?”, tr. 182.

[20] DN, số 136 “Một phương thế để giúp chúng ta nên thầy dòng… và để kết hiệp với Chúa”, tr. 174.

[21] DN, số 112 “Về đức mến”, tr. 135-136.

[22] DN, số 131 “Xiềng xích là nết xấu, ngủ mê là quên bỏ Chúa”, tr. 164-165.

[23] DN, số 23, tr. 42, (HT, tr. 77).

 

 

 

 

 

 

KHAO KHÁT YÊU

(J’ai soif d’amour)

 

 Dịch: Xuân Thu

 

Ôi lạy Chúa! Khi lưu đầy dưới thế,
Vì yêu con đã hủy tế tấm thân.
Hỡi Chúa Yêu xin nhận lấy đời con,
Con muốn khổ, muốn chết đi vì Chúa.

 

        Này, lạy Chúa, lời Ngài con ghi đó:
        “Chết vì yêu là tuyệt đỉnh ái tình,
        Nào điều chỉ còn có thể hy sinh?”
        Chỉ mình Chúa là tình yêu trên hết.

 

                   Chiều muộn, bóng kim ô dần khuất
                    Ở lại đây, hỡi lữ khách thiên cung.
                   Và giúp con vác Thánh Giá lên đường,
                   Chân mạnh mẽ dọc sườn đồi bước trải.

 

                            Lời của Chúa, hồn con đang vọng lại:
                            Con ước mong được nên giống như Ngài.
                            Con van nài được đau khổ, Chúa ơi
                            Lời lửa Chúa làm tim con, cháy rực!

 

        Trước khi được vinh quang nơi vĩnh phúc,
        “Thì Con Người đã khổ cực gian nan”.
        Thánh Giá kia đưa tới khải hoàn,
        Ôi, lạy Chúa, lời Ngài con ghi nhớ.

 

                    Xưa dương thế, bị cười chê nhục nhã,
                    Chỉ vì con, Ngài đã chẳng từ nan!
                    Con nguyện xin ẩn dật dưới gian trần,
                    Mong hèn kém, ước rốt cùng vì Chúa.

 

                            Chúa yêu hỡi, gương Ngài như nhắc nhở,
                            Phải hạ mình và khinh dể vinh quang,
                            Để Ngài vui, con là bé thơ ngoan,          
                            Quên mình đi để say sưa lòng Chúa.

 

                                    Con chẳng phải xin điều chi hơn nữa,
                                    Đã an bình ở giữa chốn cô liêu.
                                    Làm Cha vui, khoa duy nhất con yêu.
                                    Và hạnh phúc của con là chính Chúa!

 

    Ôi lạy Chúa, Đấng tạo thành vũ trụ.
    Mà đêm ngày phải giam giữ trong con:
    Mỗi phút giây văng vẳng tiếng trong lòng:
    “Này Ta khát, khát rất nhiều ân ái!”

 

            Con đây cũng là tù nhân Ngài vậy,
            Miệng vọng lên lời kinh nguyện du dương,
            Hỡi Người Anh, hỡi người Bạn Yêu Đương:
            “Này con khát, khát rất nhiều ân ái!”

 

                    Con khát yêu! Xin Ngài cho phỉ chí:
                    Xin cho lòng bùng cháy yêu đương!
                    Con khát yêu! Và càng khát đau thương.
                    Hồn con ước chóng bay về đất hứa.

 

                            Cuộc tử nạn con đây là yêu Chúa:
                            Lửa yêu đương càng bùng cháy nơi con,
                            Thì hồn con càng mong ước Chúa hơn.
                            Giêsu hỡi, vì yêu, con muốn chết!

                                                                                    Ngày 31.05.1896

 

(Têrêxa thi tập _ tr 34-36)

 

 

 

 

 

 

 

THAO THỨC VỚI ĐỜI

Một thoáng suy tư

 

FM. Ephrem trương cường

    Là một đan sĩ, khi nói đến cụm từ “thao thức với đời”, tôi tự đặt ra cho chính mình những vấn đề để giải quyết. Làm sao đan sĩ sống đời chiêm niệm mà thả tâm hồn “lãng du” với dòng chảy của cuộc sống? Sự thao thức, âu lo, khắc khoải của đan sĩ có giá trị gì cho thế giới? Đời là gì mà đan sĩ phải thao thức? Thao thức có phù hợp với linh đạo đan tu hay không? Cái định hướng cuối cùng của thao thức là gì?

            1. “Lãng du” với đời
    Nhiều người vẫn quan niệm rằng đời sống chiêm niệm có tính ổn định, không phải lo toan, cạnh tranh với cơm gạo hằng ngày, một số người không ít vẫn có quan niệm như vậy. Nhưng thực tế, tâm thức của đan sĩ không như những suy nghĩ cá thể đó. Chiêm niệm không thuần túy ngồi yên lặng tư duy, giữ luật thinh lặng, bóp trán xoa đầu, trầm tư mặc tưởng chân lý vĩnh cửu, chiêm ngưỡng một Thiên Chúa siêu việt để “thoát thai” cảnh giới nhục dục, khổ não sầu muộn của thân người, cấp tốc trở nên một vị thánh. Thật là huyền ảo khi đơn sơ thầm nghĩ như vậy! Và nếu có ai, thậm chí ngay cả đan sĩ đồng ý nuôi tư tưởng theo quan niệm “truyền thống” ấy là một sai lầm, bởi vì một Thiên Chúa mà chúng ta từ bỏ đi theo là một Thiên Chúa nhập thể và hiến thân mình cứu độ nhân loại chứ không phải là một Thiên Chúa được “vẽ” bởi những ước vọng của một tinh thần “đạo đức lỗi thời”.
    Một Thiên Chúa thật thì không khép kín nhưng hóa thân, hiện diện hữu hình, sống tương quan với mọi người. Điều đó nói lên rằng đời chiêm niệm đúng nghĩa là khi đan sĩ dám “lãng du” tâm tư với đời để “cưu mang” anh chị em đã, đang đơn điệu mãi hát lên bài tình ca buồn từ cuộc sống. Và chỉ có những con người lãng du vô định hướng về một tương lai vô biên bờ như các đan sĩ mới có một nội lực ôm trọn cuộc sống đổi thay này. Bởi lẽ Thiên Chúa mời gọi chúng ta không phải để phục vụ một Thiên Chúa già nua tuổi tác, nhưng dấn thân thầm lặng chuyển tải sự sống thiêng liêng từ Thiên Chúa cho một thế giới đang dần lạc hướng. Vậy đâu là sự thật của đời chiêm niệm?
    Chúng ta không nên vội vàng trả lời cho câu hỏi đó chỉ dựa trên nền tảng của những qui tắc, nội vi, thuần túy giới hạn đời sống chiêm niệm vào không gian, địa lý hay chiêm niệm theo nghĩa chữ là trở nên một Maria ngồi nghe Chúa và cầu nguyện! Nhưng cần phải tiếp cận thông tin, dám hãnh diện đan viện là một trung tâm “thông tấn xã” hơn là “khép kín”, cách biệt với thế giới bên ngoài; yêu đời hơn là bỏ đời. Diễn tả một cách khác, đời chiêm niệm thật thì không ở trong trạng tháng “tĩnh” mà là “động”, không phải ở trạng thái “bằng lòng” mà là “thao thức”, lãng du như vừa trình bày. Bởi vì chúng ta đang sống với sự sống khác. Hơn nữa, thao thức để biết ta là ai; và người tôi gặp gỡ là ai. Tôi thao thức để nhìn thấy đời phải chăng là:
                        Cuộc phù sinh có bao lăm,
                        Nỡ qua ngày bạc mà lầm tuổi xanh.
                                                                        (Nguyễn Huy Hồ)

                        Ôi nhân sinh là thế ấy,
                        Như bóng đèn, như mây nổi,
                        Như gió thổi, như chiêm bao!
                                                                         (Nguyễn Công Trứ)

                        Đời người là một cơn ảo mộng tan dần.
                                                                         (Napoleon đệ nhất)

    Tại sao đời phải như thế này như thế kia? Tại sao đời là khổ? Dẫu sao đi nữa đời chiêm niệm vẫn là phương tiện giúp chúng ta thấy sáng hơn ý nghĩa cuộc sống nhờ sự thao thức, khám phá không ngừng giá trị tâm linh ẩn hiện trong hữu thể tinh thần.

            2. Giá trị tâm linh của sự thao thức
    Không thao thức là con người chết. Thế nhưng, tại sao vẫn còn có những con người “mê ngủ” chỉ sống và biết chính mình? Bởi vì cái ngã nơi họ quá lớn làm mất đi cái huệ tinh, do đó không thể nhìn thấy cái tôi của người khác trong cái tôi của mình. Họ không thể đọc ra được cái triết lý của cuộc sống: trong người có ta trong ta có người; hay vận mạng của đời tôi được hình thành không do bởi tôi nhưng do những cái tôi khác; đời tôi không ngẫu nhiên hay tình cờ mà có nhưng có Đấng đã tạo dựng nên tôi…. Vậy đời tôi có một sự liên đới không thể tách với người khác.
    Liên đới có ý nghĩa gì cho cuộc sống? Ý nghĩa liên đới ở đây không chỉ mang tính chất triết lý biện chứng, mà là trong Đức Kitô chúng ta là một – một nguồn gốc – một Thượng Đế – một niềm tin – một định hướng. Bởi thế đan sĩ trăn trở, lo âu trước một thế giới máu của những người vô tội đã, đang đổ ra, đang tăng dần; khoảng cách giàu nghèo thật ghê tởm, nạn thất thất nghiệp; những thanh thiếu niên thiếu kinh nhgiệm đã lao đời mình cho những cuộc trao đổi, bán nhân phẩm bằng những hành vi ô nhục thuần bản năng; những thai nhi đã, đang bị nạo khoét ngay từ trong phôi thai ngày một theo chiều hướng đi lên. Nói chung, vấn đề luân lý và đức tin tôn giáo có tồn tại hay không đang là dấu chấm hỏi cho thế giới và cho đan sĩ chúng ta hôm nay.
    Đan sĩ đang bước đi, đang thao thức với những hoàn cảnh và tình trạng đời sống con người hiện tại để đồng hành, hòa mình trong khoảnh khắc hạnh phúc hay khổ đau với tương quan xã hội, kết nối những mảnh đời đơn côi đan xen giữa những dòng nước mắt tội lỗi và thất vọng, để minh định cho thế giới thấy cái giá trị tâm linh có đó nơi những góc đời nhỏ hẹp.
    Với lý do đó, đan sĩ sống sự liên đới với con người ở một cấp độ hoàn toàn khác với con người bình thường. Nếu con người sống với nhau là biểu lộ một sự hỗ tương nhân bản, thì đan sĩ cũng thế, và còn hơn thế nữa, đan sĩ là dấu chỉ của sự liên đới hướng đến cái tận cùng của ý nghĩa liên đới: đan sĩ là khí cụ của bình an, yêu thương và hiệp nhất. Vì thế, đan sĩ càng có lý do để trăn trở, chuyển tải một sứ điệp hy vọng của Tin mừng đến anh chị em mình xuyên qua đời sống chiêm niệm. Xét cho cùng, đời sống theo Đức Kitô cũng chỉ ra đi gặp gỡ, gần gũi với người khác, đồng thời để minh chứng cho một thực tại hiện hữu Thần Linh. Nếu con người chỉ sống với nhau bằng một chút vật chất san sẻ trong đời thường, cái gọi là tình bác ái cụ thể giữa con người với nhau e rằng cuộc sống sẽ có nhiều vấn đề. Vấn đề trứơc hết được đặt ra là những người không có của cải để chia sẻ, thì không có sống sự liên đới với người khác? Vì thế, đời đan tu, có thể nói là một hình ảnh sống chiều kích liên đới có ý nghĩa nhất, nó không dừng lại bất kỳ một đối tượng nào, nhưng cho hết mọi người bằng một đời sống hướng con người đến chiều kích liên đới tâm linh. Đó cũng là lý do cho chúng ta hiểu được tại sao đan sĩ phải mang một tâm thức trải rộng ra với thế giới bên ngoài. Hay nói một cách khác, thế giới và con người là một phần không thể thiếu trong cuộc đời của mỗi đan sĩ, bởi vì tôi không hiện hữu một mình hay bên ngoài thế giới hữu hình này. Đó là lý do để thao thức.

            3. Đời là gì mà phải thao thức?
    “Đời” ở đây là khoảng thời gian của một con người từ lúc sinh ra cho đến lúc chết: “đời người đến thế thì thôi”(Nguyễn Du). Ai sinh tôi ra và ai cho tôi lớn lên vào đời? Từ những vấn đề cơ bản bất toàn của một sinh vật, chúng ta mới nhận ra được cái toàn thể là sự cần thiết để tôi được lớn lên và hoàn thiện cuộc đời mình, mặc dầu vào đời tôi vẫn bước đi bằng đôi chân và nổ lực của riêng bản thân. Khi nào tôi tách đời mình ra khỏi những mảnh đời khác tôi mới thấy được sự cô đơn, lẽ loi và trống vắng. Vì thế, sự hiện diện của người khác không là cái ngẫu nhiên hay tình cờ trong việc tạo dựng của Thượng Đế, mà là tặng vật quý giá cho hành trình đời của mỗi con người.
    Cái qui luật trong cụm từ “người ta”- trong ta có người trong người có ta luôn được nối kết bằng mối dây thiêng liêng của sinh vật tinh thần mà các sinh vật khác không có. Do đó sự liên đới với nhau để tạo thành một xã hội là mỗi con người phải có trách nhiệm đối với nhau. Làm cách nào cảm thấu được cái đau của người khác là cái đau của tôi; cái khổ của người khác là cái khổ của tôi, có thể nói như vậy.
    Thế giới con người hôm nay, sở dĩ có chiến tranh, bạo loạn, tranh chấp, và con người hình như đang biến cảnh giới “thiên thai” trần thế thành một bãi chiến trường đổ máu, bởi vì họ đã không chấp nhận tha nhân – nhân tố để tôi hiện hữu và tồn tại. Vì thế, cái qui luật trong ngôn ngữ tình yêu chỉ “tôi với nàng” trên trái đất này đã trở thành một thứ sáo ngữ trong tình yêu chứ không phải là chân lý cho cuộc sống. Tôi không hiện diện trên đời này với một đối tượng khác nhưng nhiều đối tượng khác. Nhiều khi sống với nhau “lâu thành quen”, “quen thành nhàm” mà không nhận ra cái khác biệt với người lại là điều làm cho đời tôi nên phong phú.
    Vậy có thể nói, tôi liên hệ với đời bởi vì trong đời có tôi. Chứng nhân cho Đức Kitô cũng là chứng nhân cho đời, đó là sự thật. Chính Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho các Tông đồ: Thầy không cầu cho anh em ra khỏi thế gian này nhưng ở trong thế gian này. Hay Thầy không đưa anh em ra khỏi đời nay nhưng ở trong đời nay. Đời này đẹp. Đời đầy hi vọng. Đời là tiền ảnh thiên đàng mai sau, vì Chúa Giêsu đã vào đời. Sống giữa đời. Chết giữa đời. Đời là mỗi chúng ta. Chúng ta là hình ảnh Thiên Chúa. Chúng ta không nhận thức chân lý ấy, thì chúng ta cũng nhìn đời đầy bi quan chẳng khác một nhà tư tưởng tự hỏi chính mình:
            Hãy hỏi xem đời là gì- nhà hiền triết kia sẽ đáp, với nỗi thất vọng tràn trề ngập mắt ông:
            Một lối đi đau khổ trên trận lụt không ngơi.
            Một đeo đẳng hảo huyền của cái hào hoa giả dối.
            Một ý mừng vui tưởng tượng và sự âu lo của quả tim mất lối.
            Cuối cùng rồi khép lại giữa cõi âm u và tuyệt vọng não nề.

(Cowper)

    Nhưng thao thức đâu phải là ngồi đó khóc cho đời, buồn đời, chán đời để rồi trốn đời, hay cho đời là bễ khổ. Vì thế mà người ta vẫn đặt ra vấn đề, sự thao thức của các đan sĩ có phù hợp với linh đạo đan tu hay không.

            4. Sự thao thức thì không phù hợp với linh đạo đan tu?
    Sự thao thức như chúng ta vừa trình bày trên thì không có một sự đảo lộn nào đối với linh đạo đan tu. Vì thế, sự thao thức là làm giàu cho linh đạo của một đặc sủng. Linh đạo đan tu chiêm niệm hay bất cứ một linh đạo nào cũng phải sống với con người và với Thiên Chúa nhưng mô hình hành động khác nhau.
    Sống với con người, bởi vì từ đó nhu cầu thiêng liêng của một linh đạo ra đời.
    Sống với Thiên Chúa, bởi vì Ngài luôn là nguồn linh ứng cho một linh đạo xuất hiện.
    Vì thế, ngày hôm nay có nhiều dòng tu, tu hội, tu đoàn mọc lên khắp thế giới theo từng linh đạo, tức là để phục vụ ích lợi thiêng liêng của nhân loại. Nắm được nguyên tắc căn bản đó, chúng ta có quyền khám phá ra giá trị ân sủng trong linh đạo là gặp gỡ, là bảo vệ sự sống con người.
    Một linh đạo được Giáo hội chuẩn nhận, là bằng chứng mặc khải khơi nguồn cho chương trình dấn thân không mệt mỏi của người tận hiến sống dưới một linh đạo nào đó, nghĩa là thao thức, quằn quại để hình thành một con đường, một nếp sống khả dĩ thích hợp với đặc sủng được đón nhận. Cho nên, chúng ta không thể chấp nhận trong một ơn gọi với nhiều linh đạo khác nhau, nhưng có một linh đạo chung mà ai cũng phải chấp nhận, đó là thăng tiến mầm sống theo đúng với mỗi đặc loại, trong đó con người là mục đích cần được nhắm đến.
    Vì thế, sống linh đạo đan tu là đan sĩ ước mơ không ngơi nghỉ vươn đời mình ra khỏi những quan niệm chật hẹp của từ ngữ, “truyền thống” của những con người bảo thủ không dám suy nghĩ, đặt vấn đề. Một linh đạo chỉ có lề luật, lý thuyết và cách thức diễn giải sẽ trở nên nghèo nàn, không phù hợp với nguồn linh đạo Tin mừng.
    Có lẽ chúng ta không nên đặt vấn nạn sự thao thức có phù hợp với linh đạo đan tu hay không, nhưng nên đặt lại một cách khác: đan sĩ có sống sự thao thức ơn gọi trong linh đạo của mình hay không. Đặt ra vấn đề như thế là chúng ta gây nên nơi đã sĩ một cái nhìn, một sự khao khát mãnh liệt biền đổi cuộc đơi dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần để gặp gỡ con người và để con người gặp gỡ Thiên Chúa.
    Mặc dù linh đạo đan tu được giới hạn vào một tầm hoạt động âm thầm, lặng lẽ nơi thanh vắng, tĩnh mịch, nhưng tinh thần của các đan sĩ thì vô giới hạn, nó có thể vượt lên tất cả những hạn chế của lề luật, ranh giới của đan viện để nhìn thấy cảnh đời bềnh bồng của sự đau đớn tàn tật, một hơi thở dài, một tiếng rên siết…, để cầu khẩn với Đấng cứu độ mau đến giải thoát. Sự thao thức, hướng vọng đó làm sao có thể nói là không phù hợp với linh đạo đan tu!
    Hãy nuôn lấy sự thao thức. Đừng giết chết nó bởi một tinh thần ích kỷ và sợ hãi. Càng thao thức đời đan tu càng có ý nghĩa, và càng làm cho giá trị thiêng liêng đời tu nơi rừng xanh vắng bóng người, âm thầm chỗi dậy tựa như dòng sông tuôn trào mạch nước trong làm thỏa thuê cơn khát bao lữ khách suốt chặng đường dài.
    Dòng nước thiêng liêng đó thế giới sẽ không sản sinh được. Dòng nước ấy sẽ luôn là “nốt nhạc vui” cất lên giữa dòng đời lạc lối bơ vơ, niềm vui và nước mắt, hạnh phúc và cô đơn. Giữa bao thăng trầm của cuộc sống, sự thao thức với đời là chất liệu chính làm nên lời kinh nguyện chiều hôm trước tôn nhan Chúa, đã trở thành một linh đạo mà ai cũng phải thừa nhận, bởi vì nó thoa dịu bao nỗi thống khổ của con người, để tìm về hạnh phúc cảnh vườn địa đàng ngày xưa.
    Mỗi linh đạo của dòng tu chính là những nhánh riêng lẽ mà Thánh Thần đã khởi xướng, phân chia lưu chuyển trong thế giới để tẩy rửa những bặm bụi của những ai mang trong thân phận mặc cảm tội lỗi, đường đi không mục đích, sống chỉ biết có ngày hôm nay.
    Vậy sự thao thức về một linh đạo là chúng ta mở ra một hướng đi mới, một tương lai mới, một suy nghĩ mới, một cuộc sống mới. Với tư tưởng đó, chúng ta có quyền khẳng định chính những thao thức của đan sĩ là điều chính đáng sở hữu và canh tân trong từng hoàn cảnh sống. Có thế, chúng ta mới hãnh diện con đường thiêng liêng, tuy âm thầm nhưng sự sống Thiên Chúa sẽ chan hòa trên hết mọi người.
    Cho nên, thao thức sống linh đạo là chúng ta không đề cao, hay dám từ bỏ những hình thù bên ngoài như tìm màu áo, y phục, nhịp nhàng trong cung điệu sao cho người ta nhận ra mình là linh mục, tu sĩ, đan sĩ, nhưng cái cốt yếu của linh đạo là thao thức làm sao để cho người khác tiếp nhận được linh đạo sống của mình, bởi vì tiếp nhận linh đạo là tiếp nhận sự sống từ Thiên Chúa. Và đó cũng là trọng tâm câu trả lời thao thức không đi ra ngoài linh đạo đan tu. Hay nói đúng hơn, Thiên Chúa là đích định hướng cuối cùng cho sự thao thức biến đổi cuộc đời.

            5. Cái định hướng cuối cùng thao thức với đời
    Tâm tình thi sĩ Tagore có lẽ phần nào cũng như tâm tình của đan sĩ, qua những vần thơ mà ông diễn tả cái cuối cùng của thao thức đó là gì.
            Dòng đời ngày đêm tuôi chảy trong máu tôi cũng là dòng đời tuôi chảy qua thế giới múa nhãy theo nhịp khúc nhịp nhàng.
            Chui qua lớp bụi mặt đất, dòng đời ấy nẩy thành mầm vui, thành muôn vàn ngọn cỏ và lớp lớp hoa lá ồn ào.
            Dòng đời ấy đã được ra ngủ trong nôi đại dương của sự sống và sự chết lúc sống triều nhấp nhô.
            Tôi thấy chân tay mình huy hoàng rực rỡ khi dòng đời bao la ấy vuốt ve. Và tôi kêu hãnh, vì nhịp đập lớn lao của dòng đời từ bao thời đại, trong máu tôi nhịp đập ấy đang khiêu vũ lúc này.

(Gitanjali, 69)

    Vâng, cái thao thức theo dòng đời nó không dừng lại ở thời gian, năm tháng, thuần túy của những biến cố, sự kiện của lịch sử, mà là dòng chảy ấy phải lưu chuyển đến tận Thiên Chúa – qui hướng về Thiên Chúa. Đó là định hướng cuôi cùng của thao thức.
    Như vậy, có thể nói, những tương quan giữa cái hữu hạn với vô hạn, cái đơn lẽ với tổng thể, là một trật tự nhân sinh quan, nó chỉ có ý nghĩa trọn vẹn hướng đến một Nguồn, nơi phát xuất cái khả kiến, hữu hạn và đổi thay. Sở dĩ cái tôi của tôi tiếp nhận cái tôi khác là do sự bất toàn của tôi; do đó, vô hình chung mà Đấng làm chủ lịch sử thế giới đã tạo dựng con người hiện hữu trong thế giới này mang tính hỗ tương để tạo nên một xã hội có nhau.
    Con người sẽ mất hướng đi khi bên cạnh tôi không có người anh chị em. Và con người sẽ thấy lạc loài khi không có xã hội. Hơn nữa, dòng đời trôi chảy của tôi không có đích thì càng vô nghĩa. Vì thế, hành trình đời tôi đi là chuyển tải những mảnh đời neo đơn, bất hạnh, khổ đau và thất vọng có được định hướng cuối cuộc hành trình, ở đó có Chúa Kitô đang chờ đợi tất cả chúng ta.
    Dẫu biết đời là như vậy, thế nhưng tại sao còn có những con người sống với anh chị em mình mà con tim vẫn cứ băng giá, lặng yên, một tâm hồn cứ bằng an giữa những tiếng gào thét của những con người đang đói khổ, bệnh tật, những con người đang bị áp bức, bị chà đạp nhân phẩm, những tuổi thơ không có hạnh phúc? Tại sao vẫn có những khoảng cách quá xa “người ăn không hết người lần không ra”? Tại sao còn có những nụ cười vô tư giữa những giọt lệ rơi? Tại sao anh chị em với nhau còn có sự giận hờn ghen ghét? Tại sao…? Cuối cùng con người đã đánh mất khả năng suy tư và liên kết vấn đề. Hay nhiều khi sống với người khác chúng ta coi đó như là một sự mặc nhiên hơn là Thiên ý để rồi thiếu trách nhiệm đối với nhau. Và nếu chúng ta có thao thức, xót xa phận người đến cả hy sinh đổ máu thì cũng vô ích. Nhưng hành động, tư tưởng của chúng ta phải có một nền tảng, một nguyên lý bền vững, một chân lý bất hoại để nối kết cái gọi là “âu sầu và lo lắng của người môn đệ Chúa Kitô”(GS, 1). Hay nói đúng hơn, sự thật của thao thức đối với tất cả chúng ta-những Kitô hữu-những đan sĩ chỉ xác định được trong Chúa Kitô-con người của thao thức và hoàn tất cuộc đời mình treo trên thập giá.
    Chúa Kitô đã thao thức và biến đổi lịch sử con người trần thế thành lịch sử cứu độ. Đây không phải là câu chuyện huyền thoại, một màn kịch trên sân khấu để hấp dẫn cảm xúc khán giả trong một khoảnh khắc thời gian nhất định, nhưng trong cái bi kịch của Chúa Kitô, Người đã biến những giọt nước mắt thất vọng, tội lỗi trở nên niềm hy vọng và vinh quang.
    Cuối cùng ra sự lo toan, đồng hành trong nỗi vui cũng như nỗi buồn với những mảnh đời đáng quan tâm, người môn đệ Chúa Kitô nhìn thấy được hướng đi của đời mình và gặp gỡ anh chị em mình trong sự thông cảm, chia sẻ và có trách nhiệm.

            Kết luận
    Trở về với thời gian, chúng ta vẫn gặp thấy những câu nói đạo đức cổ điển: đi tu là từ bỏ thế gian. Thế gian là thung lũng của nước mắt và đau thương. Tạo sao chúng ta có những quan niệm bi quan về cuộc sống? Có thể là kiến thức hiểu biết về Chúa Kitô của chúng ta còn khiếm khuyết, “tàn tật” để rồi hôm nay hơn một lần Giáo hội lại khẳng định với chúng ta: “vui mừng và hy vọng ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô”(GS, 1).
    Còn chúng ta, những đan sĩ, vấn đề đặt ra là làm cách nào để đời mình có ý nghĩa lưu chuyển trong bầu không khí được coi là thiêng liêng nhưng không tách khỏi cái trần tục? Làm thế nào để bông hoa sen vươn lên giữa một “đầm bùn” cuộc sống mà hoa vẫn thơm, vẫn đẹp, vẫn quyến rũ được những ai thích hoa, thích cảnh đẹp thiên nhiên mà Đấng tạo dựng nên tự bao giờ?
    Đời vẫn là vườn địa đàng ngày xưa, nhưng cuộc sống vẫn còn tồn tại những góc đời của sự cô đơn, u minh và lầm lạc. Cho nên, đan sĩ vẫn phải thao thức, lãng du với đời mãi cho đến lúc mọi sự qui hướng về Chúa Kitô, đó là cùng đích của thao thức.

 

 

 

 

 

HIỆP NHẤT

Nỗi thao thức của đời sống cộng đoàn

 

Sr. Marmion Nguyễn Văn Tuyền

 

    Sống và xây dựng sự hiệp nhất trong đời sống cộng đoàn là điều ai cũng thao thức và khát khao! Bởi lẽ hiện hữu luôn là “hiện hữu với”. Con người “không ai là một hòn đảo”. Nói như thánh Basilio: “Thiên Chúa muốn chúng ta cần đến nhau”. Như thế việc thao thức được hiệp nhất yêu thương là nhu cầu rất tự nhiên của con người. Dĩ nhiên mỗi người trong chúng ta chẳng ai thao thức tìm cái mình đang có. Chúng ta chỉ tìm và sẽ mãi thao thức tìm cái mà mình chưa có hay có nhưng chưa trọn vẹn, chưa đạt đến tầm mức hoàn hảo. Điều chưa có, chưa thấy đây can hệ đến hạnh phúc, niềm vui, sự hoàn thiện và sự bình an trong ơn gọi của cuộc đời ta, của việc đạt đến lý tưởng của cộng đoàn ta đang sống thì ta lại càng phải tìm và thao thức tìm nó. Thế nên, việc xây dựng sự hiệp nhất trong đời sống cộng đoàn đã trở thành đối tượng, thành mục tiêu trực tiếp để những người biết suy nghĩ, những người đầy thiện chí – không thể chấp nhận một cuộc sống chỉ hoàn toàn do bản năng điều khiển như con vật – phải theo đuổi, phải đánh đổi bằng sự nỗ lực không ngừng và sống với tất cả sự kiên nhẫn và liên tục tìm kiếm để xây dựng cộng đoàn.

 

            1.THAO THỨC VỀ SỰ HIỆP NHẤT NÀO?

    Thao thức về sự hiệp nhất trong đời sống cộng đoàn là muốn diễn tả nỗi khát khao, nỗi lòng đau đáu đi tìm một hướng sống, duy trì và mở ra hướng phát triển cho cộng đoàn. Đúng hơn thao thức tìm về sự hiệp nhất yêu thương là tìm về “nguồn dinh dưỡng” để cộng đoàn được nuôi sống, được tăng triển đến mức sung mãn. Diễn tả cách trung thực ước nguyện cao cả của Chúa Giêsu khi sắp kết thúc sứ mạng ở trần gian “xin cho chúng nên một như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để chúng nên một trong chúng ta”. (Ga 17,21). Ý thức được sự cao cả và tầm quan trọng của sự hiệp nhất ấy nên thánh Benado đã khẳng định: “Trong các giá trị không gì trỗi vượt hơn sự sống hiệp nhất, được đặt lên trên tất cả chay tịnh, canh thức và lời kinh” (thánh Benado, bài giảng số 65,2).  Chẳng vậy mà trong thánh lễ đầu tiên sau khi được chọn bầu làm giáo hoàng, Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nói: “Hoạt động để tái thiết mối hiệp nhất  trọn vẹn và hữu hình của tất cả mọi thành phần môn đệ Chúa Kitô là một công việc quan trọng”. Quan trọng vì một Giáo Hội, một cộng đoàn khó có thể duy trì và phát triển khi mọi thành viên trong cộng đoàn đó thiếu tình thương, thiếu tinh thần hiệp nhất giữa bề trên với bề dưới và giữa anh em với nhau. Điều đó Chúa Giêsu đã chẳng quả quyết cho chúng ta rồi sao: “Nước nào tự chia rẽ thì sẽ điêu tàn, anh em trong một nhà mà chia rẽ thì sao có thể tồn tại được?” (Lc 11,17-18).

    Tuy nhiên, đâu là sự hiệp nhất mà mục tiêu đời sống cộng đoàn nhắm tới? Chúng ta phải hiểu sự hiệp nhất ấy như thế nào? Vì lẽ thao thức về sự hiệp nhất trong cộng đoàn mà không nhận thấy mặt trái, nghĩa là không tìm ra những hiện trạng mang những quan niệm sai lầm về sự hiệp nhất thì làm sao chúng ta có được cái nhìn đúng đắn để xây dựng cộng đoàn mình? Vậy một vài cộng đoàn nhằm loại bỏ ý thức cá nhân để có được sự hiệp nhất: mọi người phải suy nghĩ như nhau, con người sống trong cộng đoàn như những người máy. Đó có phải là sự hiệp nhất thực sự không?  Một số người  lại nghĩ rằng và có thể đang phải sống như thế là xây dựng sự hiếp nhất trên lòng sợ hãi: sợ bị cô độc nếu bị loại ra, tách rời ra khỏi nhóm  nên cắm đầu cắm cổ  mà vâng lời không cần đặt vấn đề, người ta suy nghĩ sao thì mình theo đó. Sống trong gò bó và mất tự do như thế phải chăng là đang thể hiện tinh thần hiện nhất? Phải chăng sự hiệp nhất trong đời sống cộng đoàn kiểu mẫu diễn tả bằng thứ tình yêu đồng quê, cùng lứa, cùng sở thích, sống theo nhóm để rồi tự mình, nhóm đó tuyệt thông khỏi mọi sinh hoạt của cộng đoàn sống theo ý riêng của nhóm mình, điều chi họ tưởng tượng hay yêu thích thì họ cho là thánh thiện? Phải chăng sẽ có sự hiệp nhất trong cộng đoàn khi người ta gắn bó với những người tự nhiên có thiện cảm với mình, biết ủng hộ những khát vọng của mình? Trái lại người ta sẽ xa lánh kẻ nào đi ngược đường lối của mình, để rồi trở nên lãnh đạm, gờm mặt với những ai không đồng tâm nhất trí với mình? Nếu phải sống tình trạng như thế trong đời sống cộng đoàn thì những con người ấy, họ không biết phát hiện nơi cộng đoàn mình một gia đình đích thực, cảm tính của họ là dễ thất vọng và tự co quắp mình lại trong một thứ tự kỷ ái mộ nên dễ có nguy cơ tìm thứ bù trừ nào đó ngoài đan viện. Điều đó minh chứng cho chúng ta rằng: sẽ chẳng bao giờ có sự hiệp nhất trong đời sống cộng đoàn nếu chúng ta không biết loại trừ những quan niệm sai lệch về tinh thần hiệp nhất.

    Như thế để tránh tình trạng ấy, không cách nào khác hơn là chúng ta cần nhìn nhận và cần hiểu rõ sự hiệp nhất mà chúng ta muốn xây dựng trong cộng đoàn và cho chính cộng đoàn mình đang sống. 

 

            2.HIỆP NHẤT: DUY NHẤT VÀ KHÁC BIỆT

  Nếu sự thao thức về sự hiệp nhất trong cộng đoàn là để giúp cộng đoàn tiến triển thì một cộng đoàn chỉ bắt đầu thật sự khi các thành viên trong cộng đoàn không còn che giấu nhau, không còn tìm cách chứng minh giá trị mình là thật hay giả tạo. Vì các rào chắn đã bị phá vỡ. Tuy nhiên, “Sự hòa thuận không phải là đồng nhất các ý kiến nhưng là hòa hợp các ý chí” (Thomas d’Aquin). Nó không đơn thuần diễn tả sự hợp tác hay kết hợp hữu cơ giữa các thành phần nhưng diễn tả chiều kích hiệp thông cách mầu nhiệm và vững bền với nhau trong Chúa Kitô. Hiệp nhất trong một Thân Thể Người chứ không phải đồng nhất. Vì vậy, sự hiệp nhất trong cộng đoàn cũng phải là sự hiệp nhất trong nhiệm thể Chúa Kitô, chứ không phải chỉ là một sự đoàn kết hay đại đoàn kết theo kiểu tổ chức chính trị hay xã hội. Sợi dây nối kết không phải là máu huyết mà là chính Đức Kitô. Ngài là nguyên lý liên kết các chi thể “chính Người làm cho toàn thân được nuôi dưỡng, được kết cấu chặt chẽ nhờ mọi thứ gân mạch và dây chằng” (Cl 2,19). Vì thế, Những khác biệt không phải là những rào cản không thể vượt qua mà là giới hạn cần  phải được bổ túc cho nhau để phục vụ  ích chung. Như thế tuy khác biệt nhau nhưng tất cả đều làm chứng cho sự duy nhất kỳ diệu trong Thân Thể Chúa Kitô. Thực vậy, chính sự  khác biệt về ân huệ, chức vụ và hoạt động của các thành viên lại là mối dây kết hợp con cái Thiên Chúa làm một vì “mọi sự ấy là công trình của cùng một Thần Khí duy nhất” (LG 32). Vì vậy sự khác biệt trong các chi thể vừa làm phong phú cho cộng đoàn, vừa cần thiết cho sự sống và sự phát triển của cộng đoàn. Bởi lẽ trong cộng đoàn có nhiều nhu cầu, nhờ sự khác biệt đó mà các nhu cầu được đáp ứng (1Cr 12,18,27). Thế nên, trong cộng đoàn hay sâu xa hơn trong Thân Thể Đức Kitô, các chi thể, tự nó được hiệp thông liên đới trong sự khác biệt và được tôn trọng theo nhu cầu và chức năng riêng. Một khi tính đa dạng biến mất, cộng đoàn chỉ còn là trật tự của một ngĩa trang. Vì thế, số phận thiêng liêng của chúng ta liên kết mật thiết với số phận của mỗi người anh em. Do đó, thành quả của sự hiệp nhất của cộng đoàn phải đến từ ánh sáng và tình yêu nơi từng thành viên cũng như từ cách họ sống yêu thương. Chẳng vậy mà thánh Benado nói: “Chỉ duy có đức tin thôi  mới là những gì kiến tạo sự hiêp nhất và được hiện thực nơi đức ái”. Nên Dietrich Bonhoeffer mới nói: “Ai yêu mến cộng đoàn thì tiêu diệt cộng đoàn còn ai yêu thương anh em thì xây dựng cộng đoàn”. Những cộng đoàn tốt đẹp nhất thật ra đến từ những con người và những tính khí rất khác nhau. Điều đó đòi buộc mỗi người phải vượt qua những mối dây thiện cảm để yêu mến người khác với tất cả sự khác biệt của họ. Do đó “mỗi bước tiến trong ơn thánh nơi bạn cũng là một bước tiến nơi cộng đoàn. Mỗi bước thụt lùi trong ơn thánh nơi bạn cũng làm cho cộng đoàn bị thụt lùi”. Có thể nói: đời sống cộng đoàn mang ý nghĩa là chỉ những ai sống trong hiệp thông, trong bác ái mới đáng được gọi là sống trong cộng đoàn.

 

            3.TÌNH YÊU: HỒN CỦA HIỆP NHẤT

    Là thành viên của cộng đoàn, là những người có trách nhiệm với tương lai của cộng đoàn mình, chúng ta cần phải không ngừng nung nấu tình gia đình cộng đoàn để góp phần xây dựng và vun đắp cho sự sống, cho sự phát triển an bình của các thành viên trong cộng đoàn. Cha Tổ Phụ HDXTTG đã nói: “Nhà dòng là một gia thất, cha con, anh em yêu thương nhau”(LGH 33). Sống tình gia đình trong cộng đoàn để nhờ nỗ lực mọi thành phần và sự hỗ trợ lẫn nhau giúp mỗi thành viên có khả năng đạt tới Thiên Chúa bằng cách thực thi giới răn yêu thương. Nếu lòng tự ái, sự ghen ghét ganh tỵ là con đường đưa tới những rạn nứt, những đổ vỡ trong cộng đoàn thì đức bác ái yêu thương chính là phương thế giải quyết được những khúc mắc trong cộng đoàn. Nói như Denys L’Aropagite: “Tình yêu có năng lực hiệp nhất”. Chính vì vậy, đời sống chung là một thành công không phải vì là đời sống chung nhưng vì những người hợp nhất xây dựng và sống tròn đầy, diễn tả trọn vẹn ý nghĩa của đức bác ái. Một cộng đoàn chỉ thật sự hiệp nhất khi phần lớn các thành viên trong cộng đoàn đang vượt qua từ “cộng đoàn cho tôi” đến “tôi cho cộng đoàn”. Thế nên “chúng ta đừng tự hỏi chúng ta đã làm gì cho Đan Viện, nhưng hãy tự hỏi Đan Viện đã làm gì cho chúng ta?” khi bình tâm suy nghĩ chúng ta sẽ thấy mọi người trong đan viện đã hy sinh quá nhiều cho chúng ta. Nhiều hơn chúng ta tưởng và nghĩ đến. Thấy được điều đó, chắc chắn chúng ta sẽ thốt lên: tôi sẽ phải làm gì cho gia đình đan viện của tôi đây nếu không phải là vun đắp và xây dựng tình gia đình cộng đoàn bằng những sự cố gắng không ngừng yêu thương và sống hòa đồng với mọi người? Vì nếu việc gia nhập cộng đoàn là để được hạnh phúc thì khi sống trong cộng đoàn là để làm cho anh em tôi cũng được hạnh phúc. Mẹ Terexa nói: “Tại sao ngày nay có nhiều trẻ em bụi đời, nhiều người lang thang đầu đường cuối phố…? Thưa là vì họ thiếu tình thương yêu: thiếu tình thương giữa cha mẹ với con cái, giữa anh em với nhau trong gia đình.” Vì thế, mọi người muốn sống đời cộng đoàn “phải trở nên cái khâu cần thết cho cùng một sợi xích: chỉ khi nào mọi cái khâu từ lớn chí nhỏ đều giữ chặt lấy nhau thì sợi xích mới không thể bị đứt” (Dietrich Bonhoeffer).

     Như thế, với cái nhìn đức tin, cộng đoàn là nơi mà tình yêu Chúa Kitô đã quy tụ chúng ta lại, là hồng ân của Thiên Chúa, được khơi nguồn từ chính mầu nhiệm hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa. Xuất phát từ giá trị cao đẹp ấy, cộng đoàn phải được phát huy, diễn tả nét đẹp đó theo ý của Chúa Kitô trong kế hoạch cứu chuộc của Thiên Chúa là tái lập sự hiệp nhất trọn vẹn nhờ mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu và ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần. Chính vì thế, mỗi thành viên trong cộng đoàn cần thấm đượm bài học yêu thương để dám cho đi cách vô vị lợi, hy sinh cách quảng đại cho cộng đoàn mình vì biết rằng, trong Chúa Kitô tôi đang liên kết cách mầu nhiệm mật thiết với mọi người trong cộng đoàn. Hay khẳng định cách mạnh mẽ hơn tôi là cộng đoàn. Để rồi, khi thao thức về sự hiệp nhất trong cộng đoàn không phải là cái gì trừu tượng mà phải hành động bằng việc quan tâm đến từng con người cụ thể: những người anh em đang sống với tôi và bên tôi để nhờ họ và với họ tôi cũng như họ thể hiện ơn gọi của mình.  Có như vậy thì chắc chắn cộng đoàn tôi sẽ mãi phát triển và tràn trề sức sống, tình huynh đệ vẫn đẹp mãi, đời sống cộng đoàn vẫn luôn có ý nghĩa dù cho có gặp phải những hoàn cảnh bất thuận lợi.

 

 

 

 

 

 

 

 

NỖI THAO THỨC

 ĐỐI VỚI VIỆC HUẤN LUYỆN ĐAN TU

TRONG HỘI DÒNG XITÔ THÁNH GIA

 

Dominico Phạm Văn Hiền

 

    Được coi như thâm niên trong công tác huấn luyện, tôi được ban biên tập Tìm Chúa mời viết bài nói lên nỗi thao thức của một người chuyên trách huấn luyện đan tu trong Hội Dòng. Tôi vui mừng nhận lời vì coi đây như cơ hội ngài năm một thuở để chuyển giao cho thế hệ đàn em một số kinh nghiệm được tích luỹ gần 40 năm qua.
    Vừa đặt bút, tôi nhớ ngay câu nói của sư huynh Tấn, giám tỉnh dòng Lasan Việt Nam trong dịp đại hội các Bề Trên thượng cấp Việt Nam tai Sài Gòn, trung tuần tháng 9 năm 2006. Trong bài nói chuyện về việc huấn luyện đời tu, sư huynh coi tính yêu nghề như điều kiện tiên quyết. Phải rồi, chưa yêu ngể thì làm sao hành nghề cho có kết quả ! Há thánh Augustino đã chẳng nói : “ama et fac quod vis” (yêu đi rồi hãy làm điều bạn muốn).
    Ai cũng biết: công tác trồng người thật không đơn giản vì nó vừa khó, vừa lâu vừa huy động toàn bộ khả năng nhà huấn luyện. Khi tôi huấn luyện thế hệ trẻ tôi không đem kiến thức của tôi phát cho họ như nhà băng phát tiền. Dĩ nhiên để chu toàn công tác cao quý này tôi phải trải qua các giai đoạn học nghề, biết nghề, giỏi tay nghề và yêu nghề.

                Học nghề
    Trong hai thập niên vừa qua, phong trào du học trong hội dòng Xitô Thánh Gia dâng cao. Con số sinh viên du học tại nước ngoài lên đến 30, và dám chắc con số ấy còn được nhân thừa trong những năm tới. Hội Dòng ta đang thiếu nhân sự giáo dục. Các giáo sư hiện thời phải đứng lớp nhiều môn, ngoài ra còn kiêm thêm những công tác phục vụ khác nữa. Do đó, chúng tôi rất mong anh em đi học không những thâu thái kiến thức để có bằng đại học, mà còn như người học nghề, phải chuẩn bị làm sao sau này có thể hành nghề nữa. Muốn vậy, thiết nghĩ anh em sinh viên nên chọn trước, cùng với sự đồng ý của ban giáo học cộng đoàn mình, một ngành chuyên môn trong triết học, thần học hay một khoa nào đó. Nếu có thể hội ý với nhau, giữa các cộng đoàn, để đừng rơi vào tình trang: môn này thừa giáo sư , còn môn khác chưa kiếm được người đứng lớp.
Riêng sinh viên du học, họ cần có sự nhạy bén vì có những môn hay những lãnh vực dành cho thế giới Âu Mỹ hơn là cho con người Việt Nam. Thú thật, cách đây 40 năm, chúng tôi đã đầu tư chất xám của mình cho nhiều môn học, mà hiếm khi có dịp “xài” tại nhà. Vì thế, học không chỉ nhắm cho mình “thông thái” mà trước hết nhắm tới hướng phục vụ anh em trong vai trò đứng lớp. Nói thế không có nghĩa học “lơ mơ”, trái lại, một khi biết mình sẽ phải cho thế hệ trẻ tương lai những gì, thì phải nghiên cứu thật sâu rộng bộ môn mình đã chọn.

                Biết nghề
    Người việt ta, nhất là thế hệ trẻ, nổi tiếng biết nhiều chuyện. Nhưng khốn nỗi chẳng biết chuyện gì sâu sắc. Âu Tây có câu phương ngôn : “đáng sợ thay con người chỉ có một sách”! Chỉ có một sách nghĩa là tập chú vào một vấn đề để chuyên sâu và tìm cách quán triệt nó. Dĩ nhiên, không ai nắm trọn vẹn ý nghĩa của một vấn đề, trừ phi Thiên Chúa, nói chi đến những đối tượng mang tính siêu viện như con người, vũ trụ và Thiên Chúa.
    Vì chúng ta không thể quát triệt vấn đề, hay mọi khía cạnh của một bộ môn, nên cái biết của ta luôn phải là một “kiến thức mở”. Chính “kiến thức mở” cho ta khả năng cập nhật những tư tưởng mới về vấn đề ta đang dạy hay đang học. Có một giáo sư kia, mặc dù đã dọn sẵn một giáo trình, nhưng hầu như mỗi lần đứng lớp luôn soạn lại để ghi thêm những kiến thức vừa đọc ở sách vở hoặc sắp xếp các tư tưởng mạnh lạc hơn, hầu sinh viên thu nhận tư tưởng mình dễ dàng hơn.

                Giỏi tay nghề
    Nhờ cập nhật hóa, nhà huấn luyện sẽ tích luỹ thêm nhiều kiến thức và trở nên thành thạo trong việc dạy dỗ. Còn gì vui hơn khi thấy học sinh khao khát lắng nghe lời dạy, đồng thời tin tưởng vào khả năng của mình; thậm chí mỗi ngày chính mình cũng thêm tự tin trong công tác giáo dục. Niềm phấn khởi, xuất phát từ sự chuyên cần nghiên cứu và học hỏi, sẽ là chất xúc tác mãnh liệt cho công tác giáo dục của mình. Lúc đó, giáo sư đứng lớp nhận rõ hơn giá trị của vai trò mình dang đóng.

                Yêu nghề
    Nhà giáo dục, như vừa mô tả, rất yêu nghề. Yêu nghể, có thể vì khuynh hướng bẩm sinh và cũng có thể vì ý thức giá trị của nghề. Tôi thích làm công tác giáo dục vì bẩm sinh tôi yêu trẻ, thích nghiên cứu, có khả năng nói trước công chúng …Nhưng tôi yêu nghề giáo dục cũng vì tôi thâm tín rằng tất cả tương lai của đất nước tôi, giáo hội tôi và cộng đoàn tôi lệ thuộc vào việc huấn luyện thế hệ trẻ hôm nay. Như thế, không phải tôi yêu nghề huấn luyện, mà tôi yêu Thiên Chúa và yêu con người. Tấc cả mọi việc tôi làm đều xuất phát từ tình yêu, và tình yêu của tôi sẽ đi từ EROS đến PHILIA rồi tổng hợp trong AGAPÈ. Tình eros, tạm dịch là tình luyến ái, làm nảy sinh nơi tôi sự thích thú đối với việc huấn luyện. Nhưng làm gì trên đường phục vụ, tôi lại không bị khựng lại đôi khi vì có nhiều khó khăn phải vượt qua. Lúc ấy tôi phải huy động philia tức tình yêu vị tha và vô vị lợi. Nói cách khác, tôi yêu nghề cả khi mất hết hứng thú đối với nghề. Tôi nhằm mục đích duy nhất là làm trọn bổn phận được trao phó. Nhưng đã là con người, tôi cần vừa có tình yêu chiếm hữu, vừa có tình yêu vị tha. Hai yếu tố đó được đúc kết lại trong agapè, tức tình bạn Kitô giáo. Tình bạn giúp tôi coi tha nhân như tôi, gôi quí người thụ huấn như bản thân tôi (yêu người như mình vậy). Tình bạn giữa thầy và trò làm cho đôi bên đều cảm thấy được yêu và yêu, cảm thấy mình cho và được lãnh nhận. Hay nói theo Đức Benedicto XVI trong thông điệp “Thiên Chúa Là Tình Yêu”: “cho cũng là nhận, và nhận cũng là cho”. Tôi cho kiến thức, và tôi nhận được niềm vui vì thấy người thụ huấn đón nhận kiến thức như một món qua đáng trân trọng.
Tình yêu song phương, có qua có lại ấy sẽ làm nảy sinh nhiều sáng kiến. Sáng kiến xuất phát từ tình bạn đòi hỏi tôi tận dụng khoa sư phạm hiện đại cũng như cổ xưa. Những phương pháp tính thị, sự cộng tác của sinh viên với giao sư và với nhau sẽ giúp đào sâu hay diễn rộng một đề tài. Chây lý luôn là một nhưng cách trình bày chân lý thì thật đa dang biết bao! Chân lý không ở đâu xa, nó tiềm ẩn trong tâm hồn mỗi người. Do đó, theo nhà hiền triết Socrate, giáo sư phải tự coi mình như “cô mụ” giúp đỡ đẻ, nghĩa là làm cho những gì có sẵn nơi tâm trí học sinh được “chào đời” trong ngôn từ nhân loại.
    Nhiệt tâm cộng thêm đời sống đạo đức gương mẫu của giáo sư là ngọn đèn cần được thắp lên trước mặt sinh viên. Nhưng làm sao giáo sư trở thành ngọn đèn được nếu như người chưa tiếp cận với Đức Kitô, Đấng Phục Sinh. Giáo sư có sáng lên chăng cũng tiếp ánh sáng từ ngọn nến phục sinh đến những cây nến khác mà thôi.

 

 

 

THAO THỨC      

 

   Điệp Lan Đình

                                    Trằn trọc canh khuya con không ngủ,
                                    Trở mình thao thức nghĩ ngày mai,
                                    Đêm sâu vắng lặng âm u quá,
                                    Loé đâu tia chớp nhận hình hài!

 

                  Âm u tràn cửa nhà con,
                  Hồn luôn thao thức mỏi mòn nhớ Ai!
                  Mong trời rực sáng ban mai,
                  Để chi? – Thấy Chúa đêm dài ngóng trông!

 

                                          Chiếu con một chút sáng lòng,
                                          Loé thôi cũng được, miễn trông thấy Người.
                                          Âm u đi suốt một đời
                                          Không tia sáng rọi, ôi thôi,lạc lầm.

 

                      Thao thức kèm nỗi băn khoăn,
                      Âm u kèm với lạc lầm đi đôi,
                      Nửa mai giáp Mặt Chúa Trời
                      Còn mô thao thức, hết rồi băn khoăn !

 

 

                                           

 

 

 

 

 

 

 

SỐNG THEO SỰ THẬT

 

An Mai Đỗ.

 

    Hai chữ “ thao thức” cho tôi nhiều liên tưởng. Thao thức xét như một trạng thái liên lỉ của tâm hồn thức tỉnh. Như người thanh niên nhiệt tình đang ôm một lý tưởng thầm kín. Thấp thỏm: đứng lên, ngồi xuống, đi đi lại lại, chờ đợi chốp thời cơ thực hiện lý tưởng của mình. Có nhiều người thao thức, nhưng không ai giống ai. Thao thức của người cha thì khác, thao thức của người con thì khác, thao thức của người môn đệ cũng khác…

    Theo chân phước Dom Columba Marmion: Chúa Kitô là lý tưởng các đan sỹ. Đó chính là thao thức của các đan sỹ trên con đường đi tìm một lẽ sống.

    Trong bối cảnh thời đại tục hoá – một thời biến loạn, thao thức của các đan sỹ phải đặt trên nền tảng là Đức Kitô, nhờ Ngài và với Ngài, các đan sỹ thực hiện cuộc gặp gỡ hầu biến đổi bản thân, cộng đoàn và thế giới.

    Cảm hứng từ thư mục vụ 2006 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về việc Sống đạo hôm nay, người viết xin đưa ra vài nhận định thời đại cũng như vài suy tư mang tính tức thời xoay quanh một Thao Thức về vấn đề huấn luyện ngày nay. 

 

                1.MỘT THỜI BIẾN LOẠN.

    Nhân bản theo tinh thần Đông Phương, là lấy sự thành nhân làm cứu cánh và lấy chữ nhân làm tâm điểm. Nhưng thử hỏi làm sao “thành nhân” nếu “nhân” không “thành thật”.

    “Tiên học lễ, hậu học văn” châm ngôn ấy vẫn nhan nhãn trên tường trường nhưng giá trị đó đã bị soi mòn, mờ nhạt trong chính cốt cách thể hiện của nó. Câu châm ngôn trên là nhằm giúp con người trở nên “ lễ nghĩa trí tín”, nhưng trong thực tế, không thiếu những những người rao truyền sự giả dối.

    Truyện một nhà trẻ nọ.

    Cô giáo các em được tin: ngày mai sẽ có ban thanh tra giám sát nhà trường. Thế là một đợt tổng vệ sinh “cấp nhà trường” được thực hiện nghiêm túc không kém phần qui mô. Những đứa trẻ để ý nhất là những chiếc gối thường ngày đã được thay thế mới, đẹp và thơm hơn. Sau cuộc tuần tra, đâu lại vào đấy những chiếc gối cũ lại làm bạn với các em. Một em ngạc nhiên hỏi:

  •  Sao em không được xử dụng chiếc gối kia?
  •  Chiếc gối chỉ được xử dụng khi ban thanh tra đến. Cô gằng giọng: mày còn nhỏ, hỏi gì?

    Tại trường đã thế,  ở nhà cũng vậy.
    Một hôm, bác i đến thăm nhà bé Hai, em ra mở cửa và báo:

  •  Thưa bác, mẹ con đi vắng rồi.
  •  Mẹ có nhắn gì không con?
  •  Thưa, mẹ nhắn khi bác đến thì báo mẹ không có nhà.
  •  Thế mẹ con đang làm gì?
  •  Mẹ con đang chơi bài.

    Lớn lên một chút, xã hội và kinh nghiệm bản thân cho chúng một cái nhìn lệch lạc: chủ trương “8 Tê” (thật thà – thua thiệt, thành thật – thiệt thòi), thiếu sự tự tin trong cuộc sống cộng thêm đời sống nhân bản không được nêu gương, chúng trở nên những con người nóng vội, bộp chộp, thiếu thành thật và xảo trá rồi khi bước chân vào đời, xâm nhập vào thời đại kinh tế thị trường, chúng có một chủ trương mới “4 Tê” (thành thật – thất thu), chúng tìm đủ mọi cách để kiếm tiền, ngoài việc lãnh lương tháng cho vào túi áo, chúng thu quén nhét vào túi quần cho chặt. Sự công bằng không được tôn trọng dẫn đến việc đánh mất nhân cách, đánh bóng lương tâm. Bản thân thiếu tự trọng tất làm phiền mọi người, chưa nói đến việc xúc phạm nhân phẩm nặng nề. Tất cả trả lời cho một lương tâm lệch lạc.

    Với tư cách là nhà giáo dục đại tài, Đức Gioan Phaolô II phát biểu: “Nhân phẩm con người chỉ có thể được bảo vệ, nếu như con người được nhìn nhận như là một nhân vị bất khả xâm phạm từ lúc thụ thai cho đến chết”[1]. Bởi thế, nhân phẩm con người  phải được tôn trọng dưới tác động ý thức sâu xa bảo vệ quyền lợi nhau; vì trong “ta”“người” , chữ “người ta” có lẽ từ đó mà ra, nên tha nhân không thể tách rời sự hiện hữu của ta. Ngài phát biểu tiếp: “ Bao lâu một xã hội không coi trọng nhân vị con người như một điều bất khả xâm phạm, thì việc thiết định các nguyên tắc đạo đức cũng như việc kiến tạo bầu không khí luân lý nhằm thăng tiến những thành phần yếu kém nhất của đại gia đình nhân loại, sẽ trở thành một điều bất khả”[2].

     Nhân vị của con người, dù là hạng người nào đi nữa,  phải được tôn trọng và bảo vệ.  Phẩm giá của con người được nâng niu như quà tặng đến từ Thiên Chúa. Thư Mục Vụ viết: “ Điểm căn bản trong việc xây dựng con người mới là làm sao bản thân mỗi người ý thức và sống đúng phẩm giá của mình; bởi lẽ phẩm giá con người là quà tặng Chúa ban. Nhận ra phẩm giá của mình chính là khởi đầu việc thánh hoá bản thân”[3]. Ý thức mình được tôn trọng tất nhiên con người dễ mở lòng đón nhận người khác, giúp nhau thăng tiến, thể hiện chính mình nhằm phát triển và đạt đến cái “thành nhân” của nhân bản Đông Phương.

     Những điểm tối nêu trên là lời mời gọi đời tu đặt lại định hướng đào tạo các tu sỹ trong trào lưu tục hoá ngày nay. Không thiếu những phàn nàn từ những vị hữu trách cũng như từ những người cùng trường, cùng lớp về gian dối trong thi cử, về thiếu nhân bản trong cách xử thế với bề trên và mọi người, về thiếu thành thật nơi đời tu… ảnh hưởng trực tiếp mạnh mẽ đến nếp sống cộng đoàn. Để đạt được những giá trị nhân bản trong đời sống xã hội cũng như trong đời sống tu, chúng ta được mời gọi sống nền VĂN HOÁ SỰ THẬT, khởi xướng là Chúa Giêsu – Đấng là Sự Thật.

 

                2. VĂN HOÁ SỰ THẬT

    Chúa Giêsu tuyên bố một cách mạnh mẽ và rõ ràng : “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”(Ga 14,6). Một lời tuyên bố như trên phải phát xuất từ một con người chân thật, đồng thời cũng là một định hướng cho nền văn hóa nhân loại. Văn hóa trước tiên phải nhắm đến là con người. Chúa Giêsu nói về văn hóa sự thật khi nói về một con người, tên là  Nathanael: “lòng dạ không có gì gian dối”. Nơi chúa Giêsu đặc điểm ấy nổi bật trong cuộc đời tại thế của ngài khi Ngài trả lời cho một người trong nhóm thuộc hạ của thầy Thượng tế đã đánh Ngài : “Nếu tôi nói sai, anh hãy chứng minh xem sai ở chỗ nào ; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi ?” (Ga 18,23). Chúa Giêsu đã đưa ra một chương trình hành động cho nền văn hóa sự thật khi Ngài long trọng công bố “tám mối phúc thật” (Mt 5,1-12). Để thể hiện hiến chương Nước trời đó mà Đức Gioan Phaolô II phát biểu: “Để sáng tạo văn hoá phải nhìn vào con người xét theo giá trị tự lập riêng, xét theo con người là một chủ thể mang tính siêu việt, và từ đó rút ra những hậu quả… Phải yêu quí con người là vì con người, phải dành tình yêu cho con người vì phẩm giá riêng của con người”[4].

    Yêu thương và tôn trọng phẩm giá con người là một trong những đòi hỏi của Chúa Giêsu. Ngài đã tỏ rõ lập trường của mình khi nói đả phá những luật lệ trói buộc con người trong những hình thức giả tạo. Một mặt chúa Giêsu tỏ vẻ dịu dàng và nâng đỡ những người phận  nhỏ, mặt khác, Chúa lên án gắt gao những người pharisêu, kinh sư thông luật – những hạng người chuộng hình thức, nói mà không làm và xâm phạm luật công bằng.

    Là hạng người chuộng hình thức giữ vững những truyền thống  cha ông mà quên đi tinh thần là điểm cốt yếu tạo nền văn hoá. Họ chẳng nghĩ “ nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm” như người Việt Nam ta, nhưng họ là những người nô lệ lề luật chứ không phải là người nô lệ ân sủng (Rm 6,14). Thay vì tạo tình huynh đệ đại đồng trong bữa ăn, họ bắt rửa tay nhưng lại đối xử khinh miệt người khác. Thêm nữa, họ là những người nói mà không làm, chất gánh nặng lên người khác nhưng chính họ lại chẳng buồn động ngón tay vào ( x. Lc 11,46), họ thật là những người giả dối vì coi luật là tốt và làm cho mình nên công chính mà không thực hành. Họ cổ võ nền văn hoá mà chính họ áp bức con người là đối tượng tuyệt đối không thể thay thế trong mọi nền văn hoá. Ngoài ra, họ xâm phạm luật công bằng (x. Mt 23,14) là nền tảng cho việc tôn trọng nhân vị, nhân phẩm con người. Chúng ta không lên án họ, nhưng họ là những người bất hạnh hơn hết, vì khi đặt ra lý tưởng sống cho mình nhưng rồi tháo lui, chỉ muốn người khác khen ngợi nhưng kỳ thực họ như thùng rỗng  kêu to.

     Giáo hội đón nhận nền văn hóa Sự Thật từ chính Chúa Giêsu và lịch sử Giáo hội không thiếu những trang sử oai hùng khi bảo vệ sự thật.  Giáo hội dứt khoát chọn con người là tâm  điểm và là con đường của Giáo hội như lời của Đức Gioan Phaolo II trong thông điệp “Đấng cứu chuộc”. Giáo hội đang đồng hành với con người trên con đường mang tên Giêsu “là đường, là sự thật và là sự sống” nhưng nhiều khi bụi trần đã làm cho con đường đó trở nên mờ nhạt. Do vậy, người kitô hữu và cách riêng người đan sỹ phải tái khám phá con đường Giêsu để sống và loan báo nền văn hóa sự thật trong một thế giới đầy gian ác. Đó chính là một thao thức của người môn đệ Đức Kitô.

 

                3.THAO THỨC GẶP GỠ ĐỨC KITÔ.

    Là đan sỹ, chúng ta được mời gọi sống xa thế gian để thực sự bước vào đời sống mới hầu theo Chúa một cách tích cực và triệt để hơn.

    Trước tiên, chúng ta cùng nghe lời khuyên của vị Cha chung – Đức Benedicto XVI khi nói với giới trẻ: “Nếu chúng ta biết để cho Đức Kitô bước vào đời sống chúng ta, chúng ta không mất đi điều gì, không điều gì, tuyệt đối không trong số những gì làm cho cuộc sống thêm tự do, tốt đẹp và cao trọng hơn”. Phải chăng ngài muốn chúng ta chủ động trong cuộc gặp gỡ này? Ngài nói tiếp: “Hãy mở ra, hãy mở rộng cánh cửa cho Chúa Kitô và các con sẽ tìm thấy sự sống thật”. Thật thú vị ! Khi chúng ta đã khám phá sự cao trọng, tự do lớn lao trong Đức Kitô, chúng ta được mời gọi gặp gỡ Ngài, điều tiên quyết là phải mở ra: mở mắt ra hầu luôn thức tỉnh phân định Thần Khí và nhận ra dấu chỉ thời đại biến loạn này; mở tai lòng để lắng nghe và đón nhận lời lẽ nhủ khuyên được cụ thể trong Lời Chúa là chính Thánh Ý Ngài và mở rộng con tim ra cho Đức Kitô ngự vào làm chủ đời ta. Đức Thánh Cha cảnh báo chúng ta: Đừng sợ Chúa Kitô ! Ngài không lấy mất đi điều gì, và Ngài sẽ ban cho các con mọi thứ. Khi các con dâng mình cho Chúa, các con sẽ nhận lại hàng trăm lần.

    Tư tưởng: “Đừng sợ” đã vang lên qua hai triều đại Giáo Hoàng. Chắc hẳn nó mang một giá trị nhất định trong tương quan với Chúa Kitô. Chúng ta phải xác tín: sợ hãi là nỗi ám ảnh cho người nô lệ chứ không hiện hữu nơi người con, mà chúng ta là con Thiên Chúa được mời gọi sống tự do và yêu thương để chúng ta không còn sợ hãi mà sống thánh thiện công  chính trước nhan Ngài (Lc 1,74-75).

    Các đan sỹ cách riêng được mời gọi sống xa lánh thế gian phải xác tín rằng: không vì sợ hãi mà thoái ẩn hay chỉ tìm Chúa nơi thanh vắng, cô tịch; nhưng gặp gỡ Chúa ngay chính nội tại lòng mình. Lời mời gọi này luôn khẩn thiết và thích hợp cho mọi thời đại. Khẩn thiết vì triều đại đã đến gần” là sứ điệp từ trời gởi đến, khẩn thiết vì cứu cánh con người là đạt đến hạnh phúc Nước Thiên Chúa, khẩn thiết hơn vì sứ điệp ấy nói với mỗi người; và thích hợp cho chúng ta là chủ thể đang sống giây phút hiện tại này: phải “trở về với chính mình” và tạo bầu khí cho cuộc gặp gỡ với Chúa trong nội giới lòng mình. Thật chí lý khi thánh Basil đã phát biểu:

    “Khi trí khôn không còn tản mạn nữa vào những chuyện bên ngoài, cũng không biến mất hút trong thế giới qua những cảm giác, thì nó quay về với chính mình, và nhờ bản thân mà nó nâng lên đến suy tưởng Thiên Chúa”

    Qua đó, chúng ta nhận ra trong cuộc trở về ấy có hai hướng phải chọn, một “ bản ngã giả tạo” và một bản ngã quy hướng về Thiên Chúa. Một bên là chia trí và những cảm giác vô độ; một bên là thành thật và tiết chế ngũ quan. Đường này thì phóng tâm vọng tưởng, đường kia lại thanh thoát siêu linh. Một trật chúng ta phải nhìn xuống và hướng lên. Nhìn xuống để nhận chân bản ngã giả tạo và hướng lên với những tác động cậy trông ơn Chúa giúp sức, trở về “căn phòng nội tâm” theo thánh Catarina thành Siena. Từ đó, khiêm tốn nhìn nhận “Con là không và Chúa là tất cả”. Kinh nghiệm này được thánh Phêrô cảm nghiệm cách sâu sắc khi thốt lên: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”. Thật bình thường song hết sức phi thường, trong lúc đang đánh cá ngoài khơi, ngài lại có một ý thức sâu xa đến thế, chứng tỏ, đây là thái độ liên lỉ trong trạng thái tỉnh thức vượt bậc luôn hướng nhìn lên Chúa, Đấng là tất cả; từ đó, ngài có thể bỏ mọi sự theo Chúa. Thế chúng ta mới hiểu “ gặp gỡ Đức Kitô chân thành mình gặp mình”. Như thánh Phêrô nhìn sâu chính mình chỉ thấy bất xứng, tội lỗi; đồng thời nhìn lên Thiên Chúa, ngài một lòng tuyên xưng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

    Phần chúng ta cách nào có thể sống thực tại đó, làm sao có thể gặp gỡ Đức Kitô nếu còn ngổn ngang bao mối bận tâm trần tục? Viện phụ Kallistos Ware sẽ soi dẫn chúng ta: “Người ta trở về một nơi yên tĩnh và cắt đứt những liên hệ với người khác để ở lại trong tình trạng tỉnh thức và nhớ đến sự hiện diện của Thiên Chúa”. Một cách nào đó, ngài nhắc lại cho chúng ta đã lãnh nhận và sống một kinh nghiệm lớn lao là được mời gọi sống xa thế gian, có thể sống cuộc tận hiệp với Thiên Chúa thân tình hơn nhờ dứt bỏ mọi dính bén trần gian, các đan sỹ sống và nghiệm ra tinh thần khó nghèo trong các mối phúc do Chúa Giêsu công bố trong bài giảng trên núi. Khó nghèo vì trơ trụi, trống rỗng; khó nghèo vì phải chịu tước đoạt hầu được chiếm đoạt. Niềm an ủi duy nhất là được kết thân với một Giêsu nghèo, Người nghèo vì ban tặng chúng ta tất cả và nghèo trước mặt Thiên Chúa; nhờ đó Người được tôn vinh.

     Vậy chúng ta muốn đồng thừa kế với Người, phải đạt được tinh thần nghèo khó đích thực là tinh thần trẻ thơ: phó thác tất cả, tin yêu tất cả, hy vọng tất cả và làm tình yêu nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô vua tình yêu. Chúng ta sẽ được biến đổi hướng về tha nhân và mở rộng ra cho thế giới.

 

                4.THAO THỨC BIẾN ĐỔI.

     Thao thức biến đổi là hành động tự do của con người. Nỗi thao thức đó cũng chính là ước mong của người môn đệ Chúa Giêsu trở nên men – muối cho đời. Người môn đệ Chúa Giêsu không chỉ dừng lại nơi sụ thao thức, nơi nỗi ước mong nhưng là những hành động thực sự. Tuy nhiên người môn đệ không thể làm gì mà lại không có ân sủng của Chúa. Đó chính là kinh nghiệm của một Phaolo được biến đổi một cách trọn vẹn nơi biến cố Damas. Kinh nghiệm đó được thể hiện qua hai sự biến đổi :Từ xa lạ đến gần gũi và từ ích kỷ đến bao dung.

 

        Từ xa lạ đến gần gũi.

    Từ xa lạ, con người được mời  trở nên gần gũi để sống tình huynh đệ trong đại gia đình đức tin. Từ xa lạ với mọi người vì bị coi là kẻ bóc lột quần chúng như người thu thuế đã được Chúa Giêsu biến đổi để trở nên gần gũi với mọi người. Dưới tác động của đức tin, chúng ta khám phá sự hiện diện Chúa nơi tha nhân cách riêng những người nghèo, bé mọn bị bỏ rơi để từ đó tình yêu phục vụ được đề cao. Chúa Giêsu không chỉ dạy chúng ta, Ngài đi bước trước trong việc thực hành: gần gũi với mọi người đến độ bị mang tiếng là ăn uống với phường tội lỗi nhưng gần gũi để biến đổi con người từ xa lạ trở nên bạn hữu, từ tội lỗi trở nên con của sự công chính.

 

        Từ ích kỷ đến bao dung.

    Một khi đã gặp được Chúa Giêsu rồi thi không thể không biến đổi. Đó là kinh nghiệm của những người gặp gỡ và tiếp xúc với Chúa : một Madalena, một Phaolo và còn biết bao nhiêu người khác nữa. Các tông đồ khi gặp chưa gặp Chúa Giêsu thì các ông là những con người chỉ biết lo cho thân mình, lo cho gia đình mình nhưng khi đã gặp Chúa rồi thì các ông được biến đổi để trở nên những con người quảng đại, dấn thân phục phục tha nhân.

    Khi khấn dòng các đan sỹ sống cuộc tái sinh trong Đức Kitô (gặp gỡ Đức Kitô đón nhận ơn tái sinh), chết đi con người cũ cùng với thế gian để tìm và sống với duy mình Thiên Chúa. Cuộc sống từ đây trở nên hài hoà với thiên nhiên và mọi người nhờ liên kết với Đức Kitô. Các đan sỹ ý thức tự thân mình không có ơn cứu độ nhưng nhờ ơn Chúa; sau khi đã cảm nghiệm tình Chúa yêu thương, họ mở lòng ra với mọi người, đón nhận người khác như người anh em của Đức Kitô; đức tin được nuôi dưỡng, đức ái được thắm nồng, họ khát khao mang ơn cứu độ cho toàn thế giới bằng đời sống âm thầm và hoan hỷ hy sinh. Cuối cùng, họ chân nhận rằng: Thao thức của môn đệ Chúa Kitô là chính thao thức của người đan sỹ luôn sống biến đổi nhờ gặp gỡ Đức Kitô – Đấng là Sự Thật và sự thật sẽ giải phóng họ.

 

*   *   *

    Như chúng ta đã biết: ta đang sống trong một thời biến loạn, với những phát triển tiến bộ vượt bậc, đồng thời, lại đề cao chủ nghĩa cá nhân, duy vật, duy cảm giác, một xã hội của nền văn hoá sự chết như một số nhà tu đức nhìn nhận thế. Đức tin người môn đệ càng bị thử thách và bất lực trước thao thức biến đổi bản thân chưa nói đến cuộc cải hoá sâu xa và trường kỳ hầu thánh hoá tha nhân và thế giới. Tin tưởng vào Chúa vì đối với Ngài chẳng có chi là không thể làm được và nắm chắc lời hứa: sự thật sẽ giải phóng anh em (x Ga 8,32), môn đệ phải bám chặt vào Ngài vì tin rằng những kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát (x Mc 13,13). Cách riêng các đan sỹ phải được biến đổi tận căn, điều tiên quyết phải trở về nguồn là Đức Kitô – Đấng hiện thân chân lý đích thực của Thiên Chúa; từ đó, tạo bầu khí thuận lợi cho cuộc gặp gỡ với Ngài hầu được biến đổi.

    Biến đổi bản thân, thánh hoá các tâm hồn, cải tạo thế giới là một tiến trình đòi buộc mỗi đan sỹ phải dấn thân quyết liệt và triệt để. Thật vậy, việc đan sỹ liên kết với mọi người trong tinh thần nhờ Đức Kitô là một vinh dự lớn lao, nói mạnh hơn nữa đó là một đặc sủng dành riêng cho bậc chiêm tu; mà không có vinh dự nào hay đặc sủng nào không đi đôi với một trách vụ tương xứng. Như thế, đan sỹ không chỉ sống cho chính mình mà con tim, tình yêu của đan sỹ được mở rộng đến vô tận để thông điệp được loan đi tới chân trời góc biển (x Tv 18,5).  Đó cũng là sứ điệp của vị Cha chung đã gởi đến cho mọi người cách riêng cho giới trẻ thời đại hôm nay.

    Thực tại biến đổi không phải một sớm một chiều đạt được, nhưng ví như một thao thức liên miên, lời cầu nguyện liên lỉ, cuộc chiến trường kỳ trong khi sống các lời khấn, đặc biệt sống lời khấn canh tân. Đan sỹ sống triệt để và tích cực lời khấn đó là sống trọn vẹn chí ý ban đầu của Cha thánh khi lập ra lời khấn đặc thù này. Thật vậy, Đức Thánh Cha với tư cách là một thần học gia, một nhà chiêm niệm kín ẩn của thời đại, ngài cảm thức sâu sắc cuộc biến đổi hết sức lạ lùng này trong Đức Kitô khi ngài lên tiếng: “ Hãy mở ra, hãy mở rộng những cánh cửa cho Chúa Kitô và các con sẽ tìm thấy sự sống thật”.

    Lạy Chúa Kitô, Đấng hứa ban sự sống thật xin biến đổi chúng con NÊN MỘT trong tình yêu Ngài.

 

 


 

[1] Gioan Phaolô II – Diễn văn đọc tại Uppsala.

[2] Gioan Phaolô II – Diễn văn đọc tại Uppsala.

[3] Thư Mục Vụ 2006 của HĐGMVN số 5.

[4] Gioan Phaolô II – Diễn văn đọc tại UNESCO ngày 02/06/1980.

 

 

 

 

 

 

 

BIẾT ĐỂ YÊU

 

                                                          Gioan Berchmans  Nguyễn Đức Tuyên

            Dẫn nhập  

Không hiểu tại sao khi chào đời ai cũng được phú bẩm cho một sự bất toàn. nhìn lại quá khứ, khảo sát thực tại và có lẽ trong tương lai, nhân loại sẽ còn phải tìm kiếm mẫu người hoàn hảo. Vâng ! Con người đến trần gian là để “làm người” mà. Có bất toàn, con người mới có khát vọng kiện toàn và họ sẽ đi tìm kiếm. Đó là nhựa sống mà nếu như ai không có thì khác chi cây khô đứng chơ vơ, vô cảm trước gió. Khát vọng tuy là một nhưng nó hàm chứa biết bao là sắc thái: kiến thức, danh vọng, tiền tài, … và nhất là Chân – Thiện – Mỹ. Nhưng con người theo đuổi những khát vọng đó để làm gì ? Một sự vật nào đó chỉ hữu ích khi có một mục đích rõ ràng. Hay nói như thánh Phaolô: “… Vậy tôi đây cũng chạy như thế, chứ không chạy mà không xác tín; tôi đấm như thế, chứ không phải đấm vào không khí” (1Cr 9,25).

Trong bài cảm nghiệm này, chúng tôi, những đan sĩ Xitô An Phước, xin dừng lại ở một điểm trong khát vọng kiến thức: biết để yêu: yêu bản thân, yêu tha nhân và yêu Chúa.

 

            1. Yêu Bản Thân

Ta thường nghe cổ nhân nói: “Việc mình thì quáng, việc người thì sáng”. Đây là một kinh nghiệm rất thực của cuộc sống.

Con người khi chào đời, điều nó thấy trước tiên là mẹ nó, bố nó, … vạn vật trong vũ trụ chứ không phải chính nó. Chúng ta liệu có lối nhìn giống như những trẻ con không: say sưa tìm kiếm, say sưa học hỏi, say sưa nghiên cứu nhưng liệu có đam mê khám phá mình là ai không ?

Nói thế hẳn là sẽ có người phản kháng: vô lý ! Tại sao mình lại không biết mình ! Vâng ! Vô lý nhưng có lý lắm bởi vì có ai lại không bao giờ hối tiếc, ân hận.

Châm ngôn của Scrate: “Ngươi hãy tự biết mình” không bao giờ thừa đối với mỗi đan sĩ khi bắt đầu  một ngày mới.

Nhưng biết mình không phải là để đề cao bản thân nhưng biết hiện trạng cơ thể để điều tiết nhịp sống sinh học của nó. Làm sao ta nỡ “ăn chay” hay hãm mình phạt xác qúa thể  ốm o gầy gò, chỉ vì mình là đan sĩ khổ tu, để rồi trở thành gánh nặng cho cộng đoàn. Như thế, cơ thể không khoẻ mạnh thì lấy đâu ra sức để ca tụng Chúa và phục vụ anh em.

Đan sĩ không nên là những con người “lúc nắng, lúc mưa” nhưng phải biết hài hoà tính khí của mình. Nếu ai đó, khi anh  em góp ý thì lại bảo “Tôi là thế đó !”.  Hơn nữa, hãy biết mình dẫu chỉ là thân phận cát bụi nhưng đã được Thiên Chúa tuyển chọn và mời gọi để rồi ngày lại ngày, đan sĩ sẽ không ngừng rèn luyện, trau dồi thành người tốt hơn, hữu ích hơn.

Cuối cùng, hãy học cho biết con người thật của mình: tốt xấu lẫn lộn, để tránh đi nhưng ước ao, không ghen tị với những người đảm trách những địa vị, chức vụ mà bản thân mình xét là không đủ khả năng.

Như vây, việc học hỏi để xây dựng bản thân rất cần thiết và việc học hỏi đó không chỉ trên sách vở nhưng còn là từ kinh nghiệm sống của những người quanh ta. Đừng để người khác nhìn vào mình và nhận định: “Anh này là một Kitô hữu tốt nhưng lại là một đan sĩ tồi”.

Cái áo có thể che phủ được thể trạng của mỗi người nhưng nó không thể che dấu nổi tính cách sống của họ. Đừng để mình là những đan sĩ “hữu danh vô thực”.

 

            2.Yêu Anh Em

Giữa thế gian, không ai là một hòn đảo; cũng thế, giữa cộng đoàn không đan sĩ nào là chỉ sống một mình. Như có triết gia đã từng nói: “Con người là một con vật xã hội”. Do đó, tương quan xã hội là điều kiện cần thiết để nối kết từng con người lại với nhau và nền tảng của tương quan ấy không gì khác hơn là đức ái: “Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3,14).

Thế nhưng làm sao để yêu cho đúng ? Lời giải nằm trong Kinh Thánh, sách vở và kinh nghiệm của các tiền nhân.

Một khía cạnh quan trọng trong cuộc sống hằng ngày, đó là xét đoán. Thông thường người ta có khuynh hướng đóng khung bạn hữu trong  lăng kính chủ quan để rồi xét đoán, phân tích. Nhưng hãy coi chừng ! Câu chuyện về Nhan Hồi, một đồ đệ của Đức Khổng Tử là một bài học qúy giá: mặc dù chính tận mắt Khổng Tử thấy người học trò của mình, được giao nấu cơm, đã ăn cơm trước thầy và các anh em. Tuy nhiên, khi hỏi rõ thì mới biết sự thật: Nhan Hồi chỉ ăn miếng cơm đã bị vấy bẩn để nhường phần cơm còn lại cho thầy và anh em.

Cha Tổ Phụ chúng ta cũng từng trải nghiệm và ngài đã khuyên con cái mình: “Hễ khi nào chúng ta xét lỗi kẻ khác, thì lầm luôn, mười lần chưa được một lần trúng; mà cho đi có trúng, có nhầm đi nữa cũng vô ích” (Di ngôn cha Biển Đức Thuận, số 123).

Hơn nữa, tại sao chúng ta phải học yêu thương ? Thưa là vì chúng ta có chung một niềm tin và cùng sống trong một cộng đoàn. Rất nhiều tác giả đã dùng những hình ảnh khác nhau để minh họa cho đời sống cộng đoàn: cây nho, ngôi nhà, … mụch đích là để cho mọi người hiểu rằng một cành nho không thể là cây nho, một viên gạch không thể là một ngôi nhà. Cái tổng hợp cho thấy một người là một cá thể bất toàn cần phải dựa vào nhau để sống và tiến triển. Anh em là những cầu nối, những mắt xích hơn là những hố sâu ngăn cách. Giá trị của tình bằng hữu luôn phải được thể hiện,  vì “Cái đạo ăn chay, cái đạo đánh tội, cái đạo chầu Thánh Thể, các đạo ấy dễ mà không chắc chi; cái đạo yêu thương anh em, đạo ấy thì chắc là đạo” (Di ngôn cha Biển Đức Thuận, số 112).

Trong cuộc sống, nếu không biết yêu thương nhau cho phải: “Người sẽ là sói của người” hay “tha nhân là hỏa ngục”. Bởi đó, tâm tình “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ” nếu luôn là dòng chảy trong tâm hồn mỗi đan sĩ thì tình anh em thật là nồng nàn và thắm thiết biết bao, “Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau” (Tv 132).

            3. Yêu Chúa

Victor Frankl nhận xét rằng đối với con người, việc đi tìm ý nghĩa còn quan trọng hơn chuyện đi tìm khoái lạc hoặc quyền lực, “chỉ khi nào mối quan tâm đến ý nghĩa bị thất bại, người ta mới theo đuổi khoái lạc và quyền lực”[1].

Mục đích tiên quyết của đan sĩ là gì nếu chẳng phải là đi tìm Thiên Chúa. Tất cả những gì họ làm để xây dựng bản thân, yêu thương – nâng đỡ anh em chẳng phải là để hướng tới mục đích đó. Và một khi khát vọng này không còn nữa “cuộc khủng hoảng đời tu” sẽ không thể không xảy ra.

Khát vọng tìm Chúa sẽ không thể có nếu đan sĩ không mặc tâm tình người con thứ trong dụ ngôn “Người con phung phá” (Lc 15,11-32). Hay nói khác đi, cuộc đời đan sĩ  luôn là một mùa chay nhưng không phải với bộ mặt âu sầu mà là một tinh thần thống hối tận tâm can. Từ đó, người đan sĩ sẽ không bị lạc lối giữa “khu rừng kiến thức” của nhân loại, mà trái lại, từ “khu rừng đó” đan sĩ sẽ tìm được cùng đích của đời mình là Thiên Chúa.

Không phải ngẫu nhiên mà cha ông chúng ta đã coi trọng giờ “lectio divina”. Với mỗi đan sĩ, Kinh thánh luôn là ưu tiên và là sự lựa chọn hàng đầu, vì theo thánh Hierônimô “không biết Kinh thánh là không Chúa Kitô”. Bên cạnh đó, rất nhiều loại sách đạo đức cũng cung cấp cho ta phương thế tốt để gặp Chúa và yêu Chúa, bởi vì đó là những cảm nghiệm rất “con người”, rất “đời thường” của các tác giả.

Vậy, có say sưa học hỏi về Chúa thì mới có thể yêu Ngài, có cảm nghiệm về Ngài. Từ đó, chúng ta mới có thể truyền thụ, chia sẻ cho anh em, cho đồng  loại.

Với điều kiện, đan viện là trường  học phụng sự Thiên Chúa, trong trường học ấy, đan sĩ ngày qua ngày không ngừng học tập để yêu mến  Ngài để “trong mọi sự Thiên Chúa được vinh danh” (TL 57). Hay nói như thánh Phaolô: “Dù ăn, dù uống hay bất cứ làm việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa “ (1Cr 10,31).

            Kết

Trong đời thường, chẳng ai muốn mình phải sống trong đau khổ. Tuy nhiên, để được sống hạnh phúc, mỗi người phải biết yêu chính mình, yêu anh em và yêu Chúa ngay cả trong những tình cảnh trắc trở của cuộc sống. Nhưng làm sao để yêu mình mà không ích kỷ? Yêu anh em mà không tư lợi? Yêu Chúa mà không đặt điều kiện ? Phải chăng “chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh”, và “chính lúc quên mình là lúc gặp được bản thân” là một nghịch lý cho những ai dám “yêu đến cùng”.

 

 


 

[1] V.Frankl, The will to meaning, New America Library, New York, 1969:35

 

 

 

 

 

 

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

BÀI VIẾT MỚI

spot_imgspot_img

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Hạt Giống Chiêm Niệm số 32: Cầu Nguyện Đan Tu

CẦU NGUYỆN ĐAN TU Số 32 – Tháng Giêng năm 2024 ĐÔI LỜI ... Kính thưa quý độc giả, Như chúng ta đã biết, cầu nguyện là hành...

Hạt Giống Chiêm Niệm số 31: Hướng Vọng Trời Cao

 Số 31 – Tháng 7 năm 2023 Lời ngỏ Kính thưa quý độc giả, Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày qua đời của cha Biển Đức...

Hạt Giống Chiêm Niệm số 29: Tứ Hải Giai Huynh Đệ

Số 29 – tháng 07 năm 2022 Cùng Độc giả, Các sinh hoạt của Ban Biên Tập Nội San Hạt Giống Chiêm Niệm (HGCN) của Hội...

Hạt Giống Chiêm Niệm số 30: Một Đi Chung Cùng Nhau

LỜI NGỎ   Kính thưa Quí Độc Giả! Nội san Hạt Giống Chiêm Niệm số 30 phát hành vào tháng Giêng năm 2023 này mang chủ đích...

Giới Thiêu nội san “HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM” (Viện phụ Dominico Phạm Văn Hiền)

  NỘI SAN   HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM     LỜI GIỚI THIỆU      ...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 1: NGUỒN SUỐI CHIÊM NIỆM

    HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM       Nội...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 2: HƯƠNG VỊ LỜI CHÚA

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 4: Những Nẻo Đường Sống Đạo

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM     Nội san linh đạo đan tu   NHỮNG NẺO ĐƯỜNG SỐNG ĐẠO   Số 4 tháng 7 năm 2007 LỜI NÓI ĐẦU     Một người nọ hỏi...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số đặc biệt: Cội nguồn hy vọng

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 7: Thử Thách

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 8: Trong Lòng Giáo Hội

  HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 9: Dám Đối Diện

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...