Thứ Hai, 22 Tháng Bảy, 2024

CÁC BÀI CHIA SẺ TIN MỪNG CHÚA NHẬT III MV, NĂM C & TUẦN LỄ TỪ 17 ĐẾN 22 THÁNG 12 (Lm. Hiền Lâm)

 

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG, NĂM C

THỨ HAI: Ngày 17 tháng 12

THỨ BA: Ngày 18 tháng 12

THỨ TƯ: Ngày 19 tháng 12

THỨ NĂM: Ngày 20 tháng 12

THỨ SÁU: Ngày 21 tháng 12

THỨ BẢY: Ngày 22 tháng 12

 

 

 

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG, NĂM C 

 

I. ĐỌC TIN MỪNG: Lc 3,10-18

Đám đông hỏi ông Gioan rằng: “Chúng tôi phải làm gì đây? ” Ông trả lời: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy.” Cũng có những người thu thuế đến chịu phép rửa. Họ hỏi ông: “Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì? ” Ông bảo họ: “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh.” Binh lính cũng hỏi ông: “Còn anh em chúng tôi thì phải làm gì? ” Ông bảo họ: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình.”

Hồi đó, dân đang trông ngóng, và trong thâm tâm, ai nấy đều tự hỏi: biết đâu ông Gio-an lại chẳng là Đấng Mê-si-a! Ông Gio-an trả lời mọi người rằng: “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa. Tay Người cầm nia rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi.” Ngoài ra, ông còn khuyên dân nhiều điều khác nữa, mà loan báo Tin Mừng cho họ.

 

II. SUY NIỆM

Chúa nhật III Mùa Vọng quen gọi là Chúa Nhật Gaudete (Chúa Nhật vui hay Chúa Nhật hồng). Gaudete là chữ đầu tiên của bài Ca Nhập Lễ trích từ thư của thánh Phao-lô gửi giáo đoàn Philip 4,4-6:  Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: Vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hoà rộng rãi, Chúa đã gần đến”.

Tắt một lời, hôm nay là ngày vui, ngày của màu hồng vì sắp tới ngày mừng biến cố Chúa Giáng Sinh. Nhưng để có được niềm vui trọn vẹn và niềm vui đích thực thì cần phải làm gì? Lời Chúa trong Tin Mừng Chúa Nhật III Mùa Vọng năm C hôm nay, đưa ra từng việc cụ thể để hoán cải cho từng người và từng thành phần trong xã hội qua lời rao giảng của thánh Gioan Tiền Hô. Đồng thời, chúng ta cũng được mời gọi học lấy sự khiêm tốn nơi thánh Gioan Tiền Hô để sống đúng với bậc sống của mình.

 

1. Lời mời gọi cải thiện đời sống.

Phần Tin Mừng (Lc 3,10-14) hôm nay là điểm rất riêng của thánh ký Luca mà không có trong các Tin Mừng khác. Thánh Luca kể một cách rõ ràng chi tiết về lời rao giảng của thánh Gioan Tiền Hô về việc cải thiện đời sống:

“Đám đông hỏi ông Gioan rằng: “Chúng tôi phải làm gì đây? ” Ông trả lời: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy.” Cũng có những người thu thuế đến chịu phép rửa. Họ hỏi ông: “Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì? ” Ông bảo họ: “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh.” Binh lính cũng hỏi ông: “Còn anh em chúng tôi thì phải làm gì? ” Ông bảo họ: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình.”

Cụ thể, thánh Gioan Tiền Hô đưa ra cho mọi người một nguyên tắc chung, đó là tình tương thân tương ái, chia sẻ giúp đỡ nhau: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy.”

Còn với những ai đang sống và làm việc trong những ngành nghề mà xã hội, dù đó là nghề nghiệp gì bị người đương thời khinh bỉ, hay thậm chí nghề nghiệp đó có thể đưa đến những lạm dụng tham lam hay hà hiếp, thánh Gioan không kêu gọi người ta bỏ nghề, nhưng là chu toàn bổn phận một cách công bình và bác ái.

Tóm lại, thánh Gioan Tiền Hô khuyên người ta làm những việc chứng tỏ cụ thể tình huynh đệ và đức công bình, mà không đòi hỏi các người thu thuế hay lính tráng phải bỏ nghề nghiệp của họ (dù nghề này bị lên án đối với người Do-thái đương thời). Nghĩa là, nghề nghiệp không làm cho con người bị loại ra khỏi tình yêu cứu độ, nhưng để được cứu độ phải thực thi công bình và nhân ái.

 

2. Mỗi người có một giai đoạn trong Thiên Chúa.

Thánh Luca viết: “Hồi đó, dân đang trông ngóng, và trong thâm tâm, ai nấy đều tự hỏi: biết đâu ông Gio-an lại chẳng là Đấng Mê-si-a! Ông Gio-an trả lời mọi người rằng: “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người…” (Lc 3, 15-16).

Có lẽ hiếm tìm được ai như thánh Gioan Tiền Hô. Thay vì lôi kéo người khác theo mình, không dành giật đệ tử đã là may, thì ngài lại giới thiệu đệ tử của mình cho thầy khác là Chúa Giêsu. 

Thánh Gioan làm thế, vì ngài ý thức về thời gian và sứ vụ của vị Tiền Hô, là chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế đến và khi Đấng Cứu Thế đến thì sứ vụ ngài đã hoàn thành.

Chúng ta cũng thế, mỗi người đều nhận một sứ vụ và một giai đoạn trong chương trình của Thiên Chúa. Thế nhưng, (cả đời lẫn đạo) không ít người tự lầm tưởng như chỉ có mình mới làm được điều này điều kia mà không ai có thể thay thế, rồi lo tạo cánh kéo bè củng cố chỗ đứng của mình. Đặc biệt khó chấp nhận và tìm cách níu kéo khi phải bàn giao. “Đấng” này khi phải thuyên chuyển để cho “vị” khác đến phục vụ thật khó biết bao, nhất là tìm cách áp đặt chủ trương và công trình của mình lên người tiếp nối.

Trong việc phụng sự và phục vụ của Kitô hữu, không ít từ các “đấng” đến “con chiên”, bề ngoài tưởng chừng như việc phục vụ để Chúa được vinh danh, nhưng thực chất đang ngầm ý để được mọi người ca tụng, tìm vinh danh mình hơn là Chúa được nhận biết. Khi làm được điều gì hay xây dựng được cái gì, thì coi như do công sức, tài năng của mình, mà quên rằng là do Chúa ban và sự đóng góp của mọi người. Thành công thì gán cho mình và lên mặt khinh khi kẻ khác, thất bại thì tìm cớ để đổ thừa đổ lỗi.

 

Tóm lại: Lời Chúa qua bài Tin Mừng hôm nay, mời gọi chúng ta biết cải thiện đời sống bằng cách sống công bình và bác ái với tha nhân. Đồng thời, noi gương thánh Gioan Tiền Hô mà làm tất cả cho vinh danh Chúa, để Chúa được lớn lên và được mọi người nhận biết, chứ đừng lo tìm kiếm vinh quang cho mình.

 

Lạy Chúa, ngày kỷ niệm Con Chúa giáng trần đã gần kề, xin cho chúng con tích cực chuẩn bị tâm hồn qua việc sống công bình và bác ái, để khi ngày Noel đến, chúng con được hưởng niềm vui thánh thiện, xuất phát từ sâu thẳm của tâm hồn luôn đợi chờ Chúa Giê-su viếng thăm. Amen.

 

 

THỨ HAI 

Ngày 17 tháng 12

I. ĐỌC TIN MỪNG: Mt 1,1-17

Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham:

Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác; I-xa-ác sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-đa và các anh em ông này; Giu-đa ăn ở với Ta-ma sinh Pe-rét và De-rác; Pe-rét sinh Khét-xơ-ron; Khét-xơ-ron sinh A-ram; A-ram sinh Am-mi-na-đáp; Am-mi-na-đáp sinh Nác-son; Nác-son sinh Xan-môn; Xan-môn lấy Ra-kháp sinh Bô-át; Bô-át lấy Rút sinh Ô-vết; Ô-vết sinh Gie-sê; ông Gie-sê sinh Đa-vít.1 Vua Đa-vít lấy vợ ông U-ri-gia sinh Sa-lô-môn Sa-lô-môn sinh Rơ-kháp-am; Rơ-kháp-am sinh A-vi-gia; A-vi-gia sinh A-xa; A-xa sinh Giơ-hô-sa-phát; Giơ-hô-sa-phát sinh Giô-ram; Giô-ram sinh Út-di-gia; Út-di-gia sinh Gio-tham; Gio-tham sinh A-khát; A-khát sinh Khít-ki-gia; Khít-ki-gia sinh Mơ-na-se; Mơ-na-se sinh A-môn; A-môn sinh Giô-si-gia; Giô-si-gia sinh Giơ-khon-gia và các anh em vua này; kế đó là thời lưu đày ở Ba-by-lon.

Sau thời lưu đày ở Ba-by-lon, Giơ-khon-gia sinh San-ti-ên; San-ti-ên sinh Dơ-rúp-ba-ven; Dơ-rúp-ba-ven sinh A-vi-hút; A-vi-hút sinh En-gia-kim; En-gia-kim sinh A-do; A-do sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh A-khin; A-khin sinh Ê-li-hút; Ê-li-hút sinh E-la-da; E-la-da sinh Mát-than; Mát-than sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.

Như thế, tính chung lại thì: từ tổ phụ Áp-ra-ham đến vua Đa-vít, là mười bốn đời; từ vua Đa-vít đến thời lưu đày ở Ba-by-lon, là mười bốn đời; và từ thời lưu đày ở Ba-by-lon đến Đức Ki-tô, cũng là mười bốn đời.

 

II. SUY NIỆM

Suy niệm Lời Chúa ngày hôm nay, chúng ta được mời gọi đọc lại bản gia phả của Chúa Giê-su, được thánh Mát-thêu ghi lại trong phần mở đầu Tin Mừng:

 

Mở đầu gia phả bằng hai nhân vật đặc biệt, là một vị vua trung thành với Thiên Chúa nhất và một vị được mệnh danh là cha của kẻ tin.

Gia phả là sự xác định tương quan máu huyết của một người với những người khác thuộc cùng dòng tộc. Chúa Giêsu được gắn vào dòng tộc của Abraham và Đavít. Thánh sử Matthêu như vừa giới thiệu Chúa Giêsu là Đấng Messia, vừa là trung tâm niềm tin của nhân loại.

Hình ảnh Đavít, dù hơn một lần sa ngã vì yếu đuối, nhưng vẫn được kể là vị vua trung thành tuyên nhận Thiên Chúa là chủ và hết lòng vâng phục Người trong sự nghiệp xây dựng vương quyền và đánh tan kẻ thù cho dân Do Thái. Đức Giêsu trong vai trò vương đế dòng tộc Đavít đã trở nên một Người Con trung tín và vâng phục Thiên Chúa Cha trong việc giải phóng nhân loại khỏi ách tử thần. Abraham là cha của dân tộc Do Thái, là “dân riêng” của Thiên Chúa, là dân tộc của lời hứa đã trải qua một cuộc hành trình dài của đức tin và đã bao lần vấp ngã. Thì nay, tất cả những ai tin vào Chúa Giêsu Kitô trở thành một dân mới, là con cháu Abraham trong đức tin, được hướng lời hứa và được làm con Thiên Chúa nhờ công ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô.

 

1.  Một gia phả của sự đa tạp sang hèn, công chính và tội lỗi.

Trong gia phả, có cả những người công chính như Abraham và Giacóp, nhưng cũng có những người từng phạm tội ngoại tình như Đavít, thậm chí có cả những gái điếm và kỹ nữ như Tama hay Rakháp… Nhưng tình yêu thương của Thiên Chúa luôn lớn hơn tội lỗi loài người. Và không một phản nghịch nào của con người có thể phá huỷ được kế hoạch yêu thương từ đời đời của Người. 

Chúa Giêsu chấp nhận trở thành ruột thịt của một nhân loại tội lỗi, mang vào mình thân phận và định mệnh chung của loài người để làm cho vận mệnh chung của nhân loại tội lỗi trở nên chính vận mệnh của Con Thiên Chúa. Thiên Chúa hạ mình xuống để nâng con người lên – Chúa làm người để con người làm chúa (St.Augustine).

Chúa không ngần ngại mang lấy họ hàng với người tội lỗi, thì đến lượt chúng ta, chúng ta có phân cấp và loại trừ nhau không?

 

2.  Một gia phả của sự bình đẳng nam nữ trong Thiên Chúa.

Thời xưa và nhất là trong dân tộc Do Thái, phụ nữ hầu như không bao giơ được nhắc tới trong gia phả và không được lên tiếng nơi công cộng và không được nắm giữ công việc gì từ tôn giáo đến xã hội, thậm chí họ đứng hàng thứ sáu, đứng sau cả vật nuôi trong nhà. Nhưng trong bản gia phả, thánh sử Matthêu đã không ngần ngại nhắc tên 4 người phụ nữ là Tama, Rakháp, Rút và đặc biệt là Mẹ Maria. Đó là một bước tiến mới của thời đại Kitô giáo, thời mà mọi người đều là con Thiên Chúa, cùng thuộc dòng họ với Chúa Giêsu Kitô và cùng mang trên mình việc truyền giáo là tiếp tục sinh ra cho Chúa những người con trong đức tin.

 

Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã chấp nhận trở thành ruột thịt của một nhân loại tội lỗi, mang vào mình thân phận và định mệnh chung của loài người để làm cho vận mệnh chung của nhân loại tội lỗi trở nên chính vận mệnh của Con Thiên Chúa. Xin cho chúng con cũng biết sống tinh thần nhập thể và nhập thế ấy, để đem Chúa đến cho anh chị em mình đang lầm lạc chưa tin nhận Chúa. Amen.

 

 

THỨ BA 

Ngày 18 tháng 12

 

I. ĐỌC TIN MỪNG: Mt 1, 18-25

Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.” Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su.

 

II. SUY NIỆM

Suốt thời gian đầu Mùa Vọng, chúng ta được nghe nhiều về một nhân vật tiền hô cho Chúa Giê-su là Gioan Tẩy Giả, hôm nay, trong những ngày cận kề Lễ Giáng Sinh, Tin Mừng giới thiệu cho chúng ta một nhân vật đặc biệt là thánh cả Giu-se, là người cha “pháp lý” của Chúa Giê-su trong sự kiện nhập thể, giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Giê-su.

Tin Mừng diễn tả sự kiện trăn trở của thánh cả Giuse (người công chính) khi chưa nhận được lời giải thích từ sứ thần Chúa. Đồng thời, Tin Mừng cũng giới thiệu thánh Giuse như một tấm gương sáng ngời về niềm tin:

 

1. Thánh Giuse – gương đức tin.

Điều rất đặc biệt của thánh Giuse mà có lẽ tác giả viết Tin Mừng cũng chào thua là không tìm được một lời nào của thánh Giuse nói, dù trong khi tường thuật về một cuộc truyền tin quan trọng như vừa tường thuật. Được thiên thần hiện ra tỏ tường giữa ban ngày mà Giacaria còn vặn hỏi, mẹ Maria còn đối đáp, còn thánh Giuse thì toàn bộ Thánh Kinh không tìm được lời nào của ngài. Điều này cho thấy, thánh Giuse là một con người của niềm tin và sự chiêm ngắm kết hiệp với Thiên Chúa mọi nơi mọi lúc, thậm chí nhận ra cả ý Chúa trong giấc mơ. Ngài tin tưởng tuyệt đối vào ý định của Thiên Chúa, và từ đó tin tưởng người bạn đời là Đức Maria. Niềm tin thể hiện bằng hành động, khi ngài vui vẻ đón nhận mẹ Maria và tận tụy lo cho gia đình Thánh Gia được êm ấm.

 

2. Thánh Giuse – Đấng gìn giữ Đấng Emmanuel.

Duy nhất trong đoạn Tin Mừng này, có một danh xưng đặc biệt dành cho Chúa Giêsu, là “Emmanuel”, được thánh ký Mátthêu trích dẫn lại lời ngôn sứ Isaia: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Is 7,14).

Sấm ngôn này vừa là dấu chỉ cho toàn dân lúc đó áp dụng cho vợ vua Akhab sinh con, vừa tiên trưng cho Đức Trinh Nữ Maria sinh hạ Đấng Cứu Thế.

Dấu chỉ người trinh nữ sinh con là điềm lành cho vương quốc Giuđa ngày xưa, thì nay việc Trinh Nữ Maria sinh Con cũng là Tin Mừng cho muôn thế hệ; Emmanuel, dấu chỉ Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta xưa ở nơi Hòm Bia đi theo dân Israel suốt hành trình và ngự trong đền thờ Giêrusalem, cũng là Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta, đã nhập thể và nhập thế thực sự, đã đến trong cung lòng Đức Maria, làm người, sinh ra và sống với mọi người, và cuối cùng ở với mọi người cho đến tận thế qua các Bí Tích, đặc biệt nơi huyền nhiệm Thánh Thể.

Thánh ký Mátthêu đã khéo léo đặt lời sấm này trên môi miệng sứ thần để giải thích cho thánh Giuse hiểu, nói lên một sứ vụ hết sức cao cả và một trách nhiệm lớn lao dành cho thánh Giuse. Đó là: Việc con Thiên Chúa muốn ở giữa nhân loại (Emmanuel) thì ngài cần đến một nơi giữa nhân loại để sinh ra, để lớn lên và thực hiện công cuộc cứu độ. Thật vậy, xét về mặt pháp lý, Chúa Giê-su cần một sự hợp pháp trong việc khai sinh, mẹ Maria cần có một người chồng pháp lý về mặt dân sự, nếu không sẽ bị khai trừ khỏi đời sống tôn giáo lúc bấy giờ và bị người đời khinh miệt. Lại nữa, Chúa Giê-su và mẹ Ma-ri-a cần một mái ấm và một nơi nương tựa, cần được bảo vệ và chăm sóc, nhất là trong thời kỳ thơ ấu của Chúa Giê-su.

 

Lạy Chúa, thời đại hôm nay đang sống như vắng bóng Thiên Chúa, thậm chí như Thiên Chúa đã chết rồi. Vì thế, hơn lúc nào hết, xin giúp chúng con biết trở thành những chứng nhân sống động của Tin Mừng, để nhờ đó mà mọi người nhận ra Đức Giêsu Nazareth chính là Đấng Emmanuel đã đến, đã sống và đang sống ở giữa nhân loại. Amen.

 

 

THỨ TƯ

Ngày 19 tháng 12

I. ĐỌC TIN MỪNG: Lc 1,5-25

Thời vua Hê-rô-đê cai trị miền Giu-đê, có một vị tư tế thuộc nhóm A-vi-gia, tên là Da-ca-ri-a; vợ ông là Ê-li-sa-bét cũng thuộc dòng tộc tư tế A-ha-ron. Cả hai ông bà đều là người công chính trước mặt Thiên Chúa, sống đúng theo mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa, không ai chê trách được điều gì. Nhưng họ lại không có con, vì bà Ê-li-sa-bét là người hiếm hoi. Vả lại, cả hai đều đã cao niên.

Sau đây là chuyện xảy ra trong lúc ông đang lo việc tế tự trước nhan Thiên Chúa khi đến phiên của nhóm ông: Trong cuộc bắt thăm thường lệ của hàng tư tế, ông đã trúng thăm được vào dâng hương trong Đền Thờ của Đức Chúa. Trong giờ dâng hương đó, toàn thể dân chúng cầu nguyện ở bên ngoài.

Bỗng một sứ thần của Chúa hiện ra với ông, đứng bên phải hương án. Thấy vậy, ông Da-ca-ri-a bối rối, và nỗi sợ hãi ập xuống trên ông. Nhưng sứ thần bảo ông: “Này ông Da-ca-ri-a, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin: bà Ê-li-sa-bét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gio-an. Ông sẽ được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời. Vì em bé sẽ nên cao cả trước mặt Chúa. Rượu lạt rượu nồng em sẽ đều không uống. Và ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần. Em sẽ đưa nhiều con cái Ít-ra-en về với Đức Chúa là Thiên Chúa của họ. Được đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Ê-li-a, em sẽ đi trước mặt Chúa, để làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, để làm cho tâm tư kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay, và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa.” Ông Da-ca-ri-a thưa với sứ thần: “Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy? Vì tôi đã già, và nhà tôi cũng đã lớn tuổi.” Sứ thần đáp: “Tôi là Gáp-ri-en, hằng đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, tôi được sai đến nói với ông và loan báo tin mừng ấy cho ông. Và này đây ông sẽ bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không tin lời tôi, là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi.” Dân chúng đợi ông Da-ca-ri-a, và lấy làm lạ sao ông ở lại trong cung thánh lâu như thế. Lúc đi ra, ông không nói với họ được, và dân chúng biết là ông đã thấy một thị kiến trong cung thánh. Còn ông, ông chỉ làm hiệu cho họ và vẫn bị câm.

Khi thời gian phục vụ ở Đền Thờ đã mãn, ông trở về nhà. Ít lâu sau, bà Ê-li-sa-bét vợ ông có thai, bà ẩn mình năm tháng. Bà tự nhủ: “Chúa đã làm cho tôi như thế đó, khi Người thương cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước mặt người đời.”

 

II. SUY NIỆM

Bắt đầu vào những ngày cao điểm cận kề lễ Giáng Sinh (17-24/12), Phụng Vụ của Giáo Hội lần lượt cho chúng ta nghe liên tiếp 3 cuộc truyền tin: truyền tin cho thánh Giuse ngay trong giấc mộng ban đêm, truyền tin cho ông Giacaria lúc dâng hương trong đền thờ và truyền tin cho Đức Maria lúc cầu nguyện tại nhà riêng. Ba cuộc truyền tin xảy ra với ba thời điểm khác nhau, không gian khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, sứ điệp khác nhau, tuổi đời khác nhau và sự đáp trả cũng khác nhau. Nhưng mục đích chung cuối cùng là chuẩn bị cho Con Thiên Chúa nhập thể và nhập thế cứu đời.

Hôm qua chúng ta đã được nghe về cuộc truyền tin cho thánh cả Giuse, với sứ điệp dành cho ngài là làm cha nuôi Chúa Giêsu. Thánh Giuse đã đáp trả với một sự thinh lặng đón nhận, đúng như bản tính âm thầm và chiêm niệm của ngài, đến độ toàn bộ 4 Tin Mừng không gặp thấy một lời nào của thánh nhân. Thánh nhân không vặn hỏi, không đặt vấn đề và không ra điều kiện gì cả, mặc dù ngài đang trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. 

Hôm nay, cuộc truyền tin dành cho ông Giacaria, là một tư tế, với sứ điệp là làm cha của Gioan – Vị Tiền Hô của Chúa Giêsu. Giacaria lắng nghe sứ điệp từ thiên thần Gabriel với một sự nghi hoặc theo cách suy nghĩ theo kiểu khoa học của ông.

Có người cho rằng, hơi bất công cho ông so với Đức Mẹ còn được đối đáp vài câu, trong khi ông Giacaria nói được một câu là bị câm ngay.

Thật ra, như chúng ta đã nói ở đầu bài chia sẻ, cần phải đặt sự kiện vào không gian, thời điểm, hoàn cảnh, vị thế của thụ nhân, nội dung sứ điệp và lời vấn đáp thì mới có một nhận xét chính xác và rút ra được bài học gì cho bản thân.

– về không gian: việc truyền tin cho Giacaria không phải xảy ra trong giấc mơ như với thánh Giuse, cũng không phải nơi căn phòng nghèo nàn Nazareth như Đức Mẹ, mà là nơi linh thánh nhất của đền thờ (chỉ những tư tế trúng thăm mới được vào), trong khi Giacaria là tư tế, là bậc cao niên, và sự kiện truyền tin xảy ra nơi thánh thiêng, thì không thể là chuyện đùa được, ấy thế mà Giacaria lại nghi ngờ sứ điệp.

– về thời điểm: xảy ra trong lúc dâng hương tế lễ Thiên Chúa, tại sao Giacaria lại nghi ngờ. 

– về hoàn cảnh: thánh Giuse đang trong tình thế khó xử, mẹ Maria nếu xin vâng sẽ phải đối diện với nguy cơ mất mạng và điều tiếng, còn Giacaria là một tin vui cho ông, nhất là trước khi ông thắc mắc hoài nghi thì đã được sứ thần giải thích trước là Chúa đã nhận lời ông cầu nguyện.

– về sứ điệp: tính quan trọng của việc làm cha làm mẹ Con Thiên Chúa thật nặng nề hơn nhiều, so với làm bố vị tiền hô.

– về người lãnh nhận: Một bác thợ mộc, một cô thôn nữ, thiết nghĩ không thể nào bằng một vị cao niên và là tư tế đạo đức hiểu biết Thánh Kinh hơn. Tuy nhiên, nếu sứ thần Gabriel phải cung kính mẹ Maria thì cũng phải lẽ, vì biết rằng đây là một “Bà Chúa” – Mẹ Thiên Chúa.

– về thái độ đón nhận: Đây là mấu chốt vấn đề mà chúng ta tìm hiểu tại sao Giacaria bị câm. Giacaria dám đòi một bằng chứng: “Làm sao tôi biết được, vì tôi đây đã già, và vợ tôi cũng đã cao niên?”

Như thế, Giacaria đã tin theo lý luận của loài người, của khoa học hơn là quyền năng của Chúa. Ông cho rằng ông đã teo tóp, mà bà xã ông cũng đã hết đát, nên Chúa cũng bó tay.

Lý do cuối cùng, có lẽ không phải vì ngài Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel quá nóng tính với vai vế cửa trên, nhưng tất cả là do sự sắp đặt của Thiên Chúa, để rồi đến ngày Gioan Tiền Hô chào đời, ông Giacaria từ môi miệng bị câm, đã mở miệng nói tiên tri và chúc tụng Thiên Chúa.

 

Tóm lại, qua tường thuật Tin Mừng hôm nay, mời gọi chúng ta luôn sẵn sàng đón nhận Lời Chúa mà không so đo tính toán, bắt bẻ hoặc nghi ngờ. 

Nhất là đặt Lời Chúa làm kim chỉ nam hướng dẫn mọi suy tư và hành động của mình, chứ đừng lấy lý luận khoa học để biện minh chống lại sứ điệp mà Chúa muốn gửi trao cho chúng ta qua Lời Chúa mỗi ngày.

Cuối cùng, vì không tin Lời Chúa, nên môi miệng tâm hồn chúng ta đang bị câm, xin Chúa hãy mở miệng chúng ta, để chúng ta chúc tụng Người và đem Lời Chúa đến cho tha nhân.

 

Lạy Chúa Giê-su, miệng lưỡi chúng con như bị câm và không thể ca tụng Chúa vì chúng con còn nghi ngờ quyền năng của Chúa, niềm tin của chúng con chưa đủ lớn vì còn dựa theo tính thựng nghiệm của khoa học. Xin Chúa đến thánh hóa môi miệng chúng con và ban ơn đức tin cho chúng con, để chúng con tuyên xưng và cao rao danh Chúa cho mọi người. Amen.

 

 

THỨ NĂM 

Ngày 20 tháng 12

I. ĐỌC TIN MỪNG: Lc 1, 26-38

Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói: “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”

Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng! “

Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

II. SUY NIỆM

Bài Tin Mừng hôm nay là cuộc truyền tin thứ ba sau hai cuộc truyền tin cho thánh Giuse và ông Giacaria, tuy nhiên, cuộc truyền tin này mang một ý nghĩa sống còn khi tạo vật nín thở chờ tiếng “xin vâng” của Đức Maria để Con Thiên Chúa nhập thể đi vào trần gian.

Đức Maria nhận ra ý muốn của Đấng Toàn Năng trong lời thiên sứ và tùng phục quyền năng của Người, Mẹ đáp lại: “Tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38).  Như thế, Mẹ đã ưng thuận sự lựa chọn của Thiên Chúa, để nhờ Chúa Thánh Thần, trở thành Mẹ của Thiên Chúa, vì Mẹ được hướng dẫn bởi tình yêu hoàn toàn “tận hiến” cho Thiên Chúa một con người nhân bản, để cộng tác trọn vẹn mối hiệp thông vào chương trình cứu độ.

 

– Lời xin vâng – xác tín

Lời “xin vâng” không chỉ nói lên sự khiêm nhường và vâng phục cách đơn thuần, nhưng còn hơn thế nữa, Người xác tín và hoàn toàn đồng ý với chương trình của Thiên Chúa, nghĩa là “ngay bây giờ sẽ thụ thai”, mà Giuse không biết gì cả. Khi chấp nhận chương trình của Thiên Chúa, thụ thai để làm Mẹ Đấng Cứu Độ, Đức Maria biết rất rõ sự nguy hiểm đang chờ đón mình là có thể mất mạng vì luật Môsê sẽ ném đá thiếu nữ đã đính hôn mà có thai ngoài hôn nhân (x. Đnl 22, 22- 23).

 

– Lời xin vâng – phó thác

Tiếng “xin vâng” là một tiếng can đảm vâng phục, tin tưởng phó thác cả mạng sống vào tay Thiên Chúa và tiếng “xin vâng” đó sẽ theo suốt cuộc đời của Đức Maria cho đến cây thập giá. Âm thầm chấp nhận tất cả, vì chương trình của Thiên Chúa.

 

– Lời xin vâng – tự do

Tuy nhiên, cũng cần hiểu đúng trong sự “xin vâng” của Đức Maria chất chứa hoàn toàn với tất cả ý thức và tự do, Người được thiên sứ Gabriel giải thích ý nghĩa công trình của Thiên Chúa muốn được thực hiện nơi con người của Mẹ. Thật vậy, ý định của Thiên Chúa luôn được thi hành và chương trình của Thiên Chúa luôn được thực hiện, nhưng không phải bằng cách cưỡng bách hay ép buộc. Khi chương trình Thiên Chúa liên can đến con người mà Thiên Chúa trang bị cho được tự do, thì có thể nói, chương trình ấy phần nào lệ thuộc vào sự cộng tác của con người. Nếu Thiên Chúa sử dụng con người như những “con tốt” trên bàn cờ hay như những vật vô tri trong vũ trụ, thì mọi sự sẽ diễn ra trong trật tự và ổn định, nhưng Thiên Chúa đã không muốn thế, vì như vậy sẽ tước đi sự tự do -điều quí giá nhất trong tình yêu- con người, làm cho sự đáp trả mất đi ý nghĩa và giá trị của nó. Cũng thế, Đức Maria, với cả “nhân vị” của mình, Người đã thưa tiếng “xin vâng” với sự cộng tác cao nhất, trong sự tự do và trách nhiệm, cùng với một tình yêu không mức độ.

 

Như vậy, qua lời “xin vâng”, Đức Maria để lại cho chúng ta một mẫu gương chói ngời về sự vâng phục và tín thác hoàn toàn trong tay Thiên Chúa, với cả ý thức tự do tận hiến cho Chúa. Mẹ trở thành một khí cụ tuyệt hảo trong tay Thiên Chúa để ban ơn cứu độ cho nhân loại. Mẹ đã qui về Thiên Chúa tất cả mọi đặc ân và vinh quang nhận được, khiêm tốn nhìn nhận mình là “nữ tỳ hèn mọn” và tất cả là do Thiên Chúa. Đặc biệt Mẹ đã can đảm thưa tiếng “xin vâng” để suốt cuộc đời âm thầm chấp nhận phó thác mình cho Thiên Chúa hầu cộng tác cứu độ loài người. 

Xin mẹ cầu bầu cho chúng ta cũng được tràn đầy ân sủng, khiêm tốn và xin vâng, để trở thành khí cụ trong bàn tay Thiên Chúa hầu đem Tin Mừng đến cho mọi người. Xin cho chúng ta luôn bước đi trong ân sủng, khiêm tốn qui hướng mọi sự về cho Thiên Chúa và không tự phụ về những thành công mình đạt được. Đặc biệt, luôn phó thác hoàn toàn cho Thiên Chuá trong sự vâng phục thánh ý Người, để nên hiến lễ hằng ngày dâng lên Thiên Chúa hầu mưu ích cho các linh hồn.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết noi gương Mẹ Maria, luôn bước đi trong ân sủng, khiêm tốn qui hướng mọi sự về cho Thiên Chúa và không tự phụ về những thành công mình đạt được. Đặc biệt, luôn phó thác hoàn toàn cho Thiên Chuá trong sự vâng phục thánh ý Người, để nên hiến lễ hằng ngày dâng lên Thiên Chúa hầu mưu ích cho các linh hồn. Amen.

 

 

THỨ SÁU 

Ngày 21 tháng 12

I. ĐỌC TIN MỪNG: Lc 1, 39-45

Hồi ấy, bà Ma-ri-a vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa. Bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bét. Bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.”

II. SUY NIỆM

Con Thiên Chúa, từ ngày truyền tin, lại còn là con Đức Maria. Hồng ân ấy, Đức Maria không giữ cho riêng mình, Người đã vội vã lên đường, đi thăm người bà con để chia sẻ cho nhau. Ở Nazareth, Đức Maria là người đầu tiên được mạc khải cho biết sự mang thai lạ thường của Elisabeth, một người chị họ ở làng Ain Carem. Sự xuất hiện của Mẹ sau tiếng chào đã làm cho bà Elisabeth được tràn đầy Thánh Thần và Gioan Tẩy Giả được cứu độ.  Biến cố gặp gỡ giữa Maria và Elisabeth đã làm nổi bật lên tầm quan trọng của đức tin trong việc đón nhận, gặp gỡ và trao ban.

 

1. Gặp gỡ.

Sự gặp gỡ là khởi đầu cho những giao ước và nối kết các mối liên hệ trong cuộc sống. Muốn gặp gỡ đòi hỏi phải ra khỏi mình, ra khỏi chính nơi yên ổn của mình, ra khỏi những vướng bận ràng buộc mình để đến với tha nhân. Chính vì vậy, mà với khoảng cách giữa Nazareth và Ain Carem cả trăm cây số, nhưng vì tình yêu và muốn đem Chúa đến cho người chị họ, nên Mẹ Maria đã không quản ngại ra đi để gặp gỡ bà chị, dù khi đi phải chấp nhận nhiều từ bỏ đầy rủi ro.

Nhưng theo Tin Mừng, để có được cuộc gặp gỡ này, đòi hỏi một sự tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, từ đó mới dám ra đi, mới dám dấn thân không ngại rủi ro đường xa nguy hiểm. Tin rằng Chúa đã thực hiện cho mình và tin rằng Chúa cũng đã rất thương đối tượng mình gặp gỡ. Thật vậy, lúc nhận lời mời gọi của Thiên Chúa, Đức Maria cũng chưa biết Thiên Chúa sẽ đưa mình tới đâu, nhưng Đức Maria chắc chắn tin vào Thiên Chúa và chương trình của Người. Chính lòng tin sắt đá ấy đã làm cho Đức Maria xứng đáng được đón nhận Chúa Giêsu Kitô vào trong dạ mình, thông chia cho Người bản tính nhân loại để Người trở nên một phần tử loài người mới, và bắt đầu từ đó, một nhân loại mới đã được thai sinh. Chức vụ làm mẹ này là kết quả của lòng tin nơi Đức Maria vào Thiên Chúa. Đức Maria không những được tôn vinh về chức vụ làm Mẹ Đấng Cứu Thế về mặt thể xác, nhưng Mẹ còn cao trọng hơn mọi người về mặt đức tin. Đức Thánh Cha Phaolô VI đã nói: “Đức Maria là người môn đệ đầu tiên trọn hảo nhất của Đức Kitô và trọn hảo nhất về mặt đức tin”. Nếu Abraham là “tổ phụ những kẻ tin” (x. Rm 4, 12), thì Đức Maria là hiện thân sự hoàn hảo của đức tin. Abraham ra đi còn có một lời hứa “đất và dân”; Đức Maria đón nhận trách nhiệm trong một niềm tin phó thác mạng sống mình vào tay Thiên Chúa. Dù không có bất cứ một lời hứa nào, Đức Maria vẫn phó thác và đi hết con đường vâng phục của mình trên trần gian. Thiên Chúa còn sai sứ thần nắm bàn tay sát tế của Abraham để khỏi hạ gươm giết con một mình, còn Đức Maria không thấy bàn tay nào ngăn cản các lý hình giết chết Người Con yêu dấu .

 

2. Trao ban.

Đọc Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng của Đức Thánh Cha Phanxico, chúng ta hình dung ra ngay lúc này đây qua bài Tin Mừng, cảnh hai con người tràn ngập niềm vui: Niềm vui Mẹ đem Chúa đến cho nhà Giacaria, niềm vui của bà Eliazabeth phải kêu lên, niềm vui của Gioan trong bụng mẹ phải nhảy lên vui sướng, niềm vui của hai bà mẹ hạnh phúc vì đều đang được mang trong mình một mầm sống mới.

Niềm vui chỉ thật sự viên mãn khi biết chia sẻ niềm vui, và khi chia sẻ thì cũng được nhận lại niềm vui để nên phong phú và trọn vẹn. Mẹ Maria đem niềm vui đến chia sẻ cho bà Elizabeth, thì cùng lúc mẹ đón nhận niềm vui vì Chúa đã thương cất đi nỗi nhục nhằn son sẻ của bà chị họ.

Niềm vui càng nên trọn vẹn khi được cụ thể hóa bằng lời ca ngợi Chúa và phục vụ nhau. Mẹ Maria đã thốt lên bài ca Magnificat bất hủ và tận tình phục vụ bà chị họ Elizabeth trong thời kỳ thai nghén. Một tấm gương tuyệt diệu của “Bà Chúa” đối với con người.

Dù được diễm phúc hơn mọi người phụ nữ vì đã cưu mang Con Thiên Chúa, cưu mang Đấng Cứu Thế mà cả dân Israel và muôn dân trông đợi, nhưng Đức Maria đã không tự coi mình cao trọng trong phẩm vị “Hoàng Thái Hậu” mà hạ mình để phục vụ, mà người đầu tiên được diễm phúc Mẹ Thiên Chúa đến phục vụ là bà Elisabeth. Nếu Đức Giêsu là Chúa và là Thầy mà đã quì xuống rửa chân cho các môn đệ, thì trước đó chính Mẹ Người là Mẹ Thiên Chúa đã hạ mình phục vụ một thụ tạo, và với một công việc rất thấp hèn suốt một thời gian ba tháng theo lời kể của Luca (x. Lc 1, 56).

 

Lạy Chúa, như Mẹ Maria đã chia sẻ vào mầu nhiệm Chúa Giê-su Ki-tô trong tất cả chiều kích cuộc đời trần thế của Người, đặc biệt trong sự gặp gỡ và phục vụ. Xin cho chúng con trong cuộc lữ hành đức tin cũng biết noi gương Mẹ Maria, là sẵn sàng ra khỏi mình để đến gặp gỡ tha nhân, để phục vụ và trao ban Chúa cho họ. Amen.

 

 

THỨ BẢY 

Ngày 22 tháng 12

 

I. ĐỌC TIN MỪNG: Lc 1,46-56

Bấy giờ bà Ma-ri-a nói:

“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,

thần trí tôi hớn hở vui mừng

vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.

Phận nữ tỳ hèn mọn,

Người đoái thương nhìn tới;

từ nay, hết mọi đời

sẽ khen tôi diễm phúc.

Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi

biết bao điều cao cả,

danh Người thật chí thánh chí tôn!

Đời nọ tới đời kia,

Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.

Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,

dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.

Chúa hạ bệ những ai quyền thế,

Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.

Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,

người giàu có, lại đuổi về tay trắng.

Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người,

như đã hứa cùng cha ông chúng ta,

vì Người nhớ lại lòng thương xót

dành cho tổ phụ Áp-ra-ham

và cho con cháu đến muôn đời.”

Bà Ma-ri-a ở lại với bà Ê-li-sa-bét độ ba tháng, rồi trở về nhà.

II. SUY NIỆM

Bài Tin Mừng hôm nay nằm trong bối cảnh của cuộc thăm viếng. Mẹ Maria khi gặp chị họ là bà Elizabeth, Mẹ đã thốt lên bài ca chúc tụng Thiên Chúa, quen gọi là lời kinh MAGNIFICAT được đọc trong Giờ Kinh Chiều mỗi ngày.

 

Xuất xứ của lời kinh Magnificat cho đến nay vẫn chưa hết những tranh luận của nhiều nhà thần học, nhưng dựa theo chính những lời được thốt ra trong lời kinh “Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” mà đặc ân “đầy ơn phúc” lúc này chỉ có nơi Đức Maria và được khẳng định qua sứ thần Gabriel cũng như của bà Elisabeth, nên ta không nghi ngờ gì nữa mà chắc chắn lời kinh này được hát lên từ môi miệng Đức Maria, ca ngợi lòng thương xót của Chúa đã thực hiện lời hứa cứu chuộc dân Người. Tuy lời kinh hoạ lại tâm tình của bà Anna mẹ của Samuel (x. 1Sm 2, 1- 10) cùng với những chắt lọc ý nguyện của các lời kinh Cựu Ước đương thời, nhưng quan trọng hơn cả là được đọc trong một tâm tình của một người nữ tỳ được chọn làm Mẹ Thiên Chúa và cộng tác trực tiếp trong chương trình cứu độ.

 

Kinh Magnificat được khởi đầu bằng niềm vui của một con người được cứu độ (x. Lc 1, 47), kế đến nói lên lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho những ai hèn mọn (x. Lc 1, 48- 53). Đặc biệt, điều được nói đến nhiều nhất là sự đối nghịch giữa thế lực giàu và người nghèo bị áp bức, và Thiên Chúa đã yêu thương cứu giúp người nghèo khó khiêm hạ.

 

Có thể nói, Đức Maria đã cất lên bài ca của những người bị áp bức, mà trong đó Mẹ và bà Elisabeth diễn tả mối bận tâm của mình dành cho dân Israel. Đức Maria đã nhận vào trong con người của Mẹ một cảm thức và mối bận tâm của bà Anna sau khi bà này sinh hạ Samuel, và ca ngợi về tất cả những điều này vào trong một bài ca biết ơn. Luca giữ lấy cảm thức này cho chúng ta trong kinh Magnificat mà ngài đặt như là một lời dẫn cho việc công bố của Đức Giêsu về sứ mạng của Người là giải phóng người nghèo và những kẻ bị bỏ rơi (Lc 4, 18- 19).

 

Cụm từ tapeinoi (tapeinoi) hoặc anawim (anawim) theo ngôn ngữ Hy Lạp muốn nói về một người nghèo bình thường, không quyền hành, không ảnh hưởng. Khi hát lên lời này, Đức Maria như muốn tuyên bố, Thiên Chúa không đánh giá con người theo tiêu chuẩn trần thế. Những con người thành đạt, giàu sang và leo lên đỉnh cao quyền lực, có lẽ sẽ làm cho mọi người kính nể và sợ sệt, nhưng đối với Thiên Chúa thì không. Giàu sang và quyền lực trần thế chỉ là thứ chóng qua như “con người chóng qua như cỏ”. Thiên Chúa chú tâm đến người góa bụa, trẻ mồ côi, người hèn mọn, những con người không có chút quyền hành gì, những con người vô tích sự trước mắt người đời. Kẻ giàu sang quyền thế thường thoả mãn về mình; người nghèo hèn chỉ trông cậy vào Thiên Chúa. Kinh Magnificat là tuyên ngôn: Thiên Chúa là Thiên Chúa của người nghèo và người bị áp bức; phúc cho người nghèo vì có Thiên Chúa là Đấng luôn chăm sóc họ. Đức Maria là mẫu gương sự nghèo khó và lời kinh Magnificat mà Mẹ hát lên phản ánh việc Mẹ đứng về phía những người bị áp bức. Điều này làm cho lời kinh này mang một tính cách mạng vĩ đại: cần phải thay đổi vị trí xã hội để mọi người được bình đẳng trước mặt Thiên Chúa.

 

Tóm lại: Lời kinh Magnificat được thốt lên trong bối cảnh của cuộc thăm viếng bà chị họ Elisabeth, bao hàm hành trình truyền giáo đầu tiên của Mẹ Maria với đầy đủ tính năng của một cuộc truyền giáo thực thụ, khi Mẹ đem Chúa Giêsu đến cho người khác và trao ban Chúa Giêsu để những người lãnh nhận được tràn ngập niềm vui vì được cứu độ. Điều này cũng tựa như việc Phêrô cho anh què ở Cửa Đẹp Đền Thờ chính Chúa Giêsu và anh được chữa lành để rồi anh nhảy nhót tưng bừng ca ngợi Thiên Chúa. Biến cố thăm viếng làm nổi bật lên đặc trưng của người môn đệ là: Đức tin, đức ái và cảm thông -nghĩa là mỗi Ki-tô hữu đều mang trên mình niềm tin phó thác cho công trình cứu độ của Thiên Chúa, thực hiện đức ái Kitô bằng việc dấn thân phục vụ và trao ban niềm vui, đồng thời cảm thông và bênh vực cho những người nghèo hèn và những người bị áp bức trong xã hội.

 

Lạy Chúa, xin dạy chúng con sống tinh thần của Mẹ Maria là sống trong ơn nghĩa của một tâm hồn đầy Chúa, cưu mang Chúa trong trái tim mình, để rồi mau mắn đem Chúa đến cho tha nhân. Đặc biệt cụ thể hoá việc làm chứng cho Chúa qua chính đời sống phục vụ. Amen.

 

Lm. Hiền Lâm.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

BÀI VIẾT MỚI

spot_imgspot_img

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Chúa Nhật XVI, Thường niên, Năm B, Mc 6,30-3 Con chiên –  Mục tử

Chúa Nhật XVI, Thường niên, Năm B, Mc 6,30-3 Con chiên -  Mục tử Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist Lời Chúa hôm nay gợi lên cho chúng...

Chúa Nhật XVI TN, B: Tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa

  TÌNH YÊU VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA FM. Paul Nguyễn, PV Chiêm ngưỡng dung mạo lòng thương xót của Đức Giêsu qua trình thuật...

Chúa Nhật XVI TN, B, Mc 6,30-34: Cần lánh riêng ra một nơi

    CẦN LÁNH RIÊNG RA MỘT NƠI (Mc 6,30-34) M. Pacômiô Nguyễn Sơn Vinh, Phước Hiệp Theo quan niệm của Kitô giáo, con người gồm xác và hồn....

Chúa Nhật XVI TN, B, Mc 6,30-34: “Hãy tìm nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi”

     “HÃY TÌM NƠI THANH VẮNG MÀ NGHỈ NGƠI” (Mc 6,30-34) Đức Minh, Phước Lý Tin Mừng Chúa nhật XVI hôm nay tường thuật về cuộc hội ngộ...

Chúa Nhật XV TN, B, Mc 6,7-13: Thực hiện lệnh truyền của Chúa

THỰC HIỆN LỆNH TRUYỀN CỦA CHÚA (Mc 6,7-13) Lm. Trần Văn Long, Fatima Đôi khi nhìn những người ăn xin, những người tàn tật trên đường phố,...

Lễ thánh Biển Đức, Mt 19,27-29: Con đường đi tới hạnh phúc

CON ĐƯỜNG ĐI TỚI HẠNH PHÚC (Cn 2,1-9; 1Cr 1,26-31; Mt 19,27-29) M. Gioan Tân, Thiên Phước Có thể nói hạnh phúc là mục đích sống và...

Chúa Nhật XIV Thường niên, Năm B, Mc 6,1-6: Kitô hữu – Ngôn sứ giữa đời

Chúa Nhật XIV Thường niên, Năm B, Mc 6,1-6 Kitô hữu - Ngôn sứ giữa đời Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist “Ngôn sứ có bị rẻ rúng...

Chúa Nhật XIV TN, B, Mc 6,1-6: Không nhận ra Chúa

    KHÔNG NHẬN RA CHÚA (Mc 6,1-6) Tùng Linh, Phước Lý Năm 1958, sau khi Đức Giáo Hoàng Piô XII qua đời, các báo chí mô tả ngài...

Chúa Nhật XIII Thường niên, Năm B, Mc 5,21-43: Hai phép lạ của lòng tin

Chúa Nhật XIII Thường niên, Năm B, Mc 5,21-43 Hai phép lạ của lòng tin Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist Tin không chỉ là loan tin,...

Chúa Nhật XIII TN, B, Mc 5,21-43: Hai cái đụng

  HAI CÁI ĐỤNG (Mc 5,21-43) M. Bosco, PS Đức tin của con người là yếu tố có thể tác động đến Thiên Chúa. Các phép lạ xảy...

Chúa Nhật XIII TN, B, Mc 5,21-43: “Đừng sợ, chỉ cần tin thôi”

    „ĐỪNG SỢ, CHỈ CẦN TIN THÔI“ (Mc 5,21-43) Đăng Khoa, Phước Lý "Đừng sợ, chỉ cần tin thôi". Đó là lời trấn an của Chúa Giêsu trước...

Lễ thánh Phêrô và thánh Phaolô, Mt 16,13-19: Ý thức lập trường của chính mình

    Ý THỨC LẬP TRƯỜNG CỦA CHÍNH MÌNH (Mt 16,13-19) Mai Lệ Thi, Phước Thiên  ‘Lập trường’ là yếu tố cần thiết một người cần có trong cuộc...