Chủ Nhật, 26 Tháng Năm, 2024

Suy niệm Tin Mừng ngày trong tuần IX Thường Niên

 

THỨ HAI TUẦN IX THƯỜNG NIÊN

 

ĐỌC TIN MỪNG: Mc 12,1-12

Đức Giê-su bắt đầu dùng dụ ngôn mà nói với họ rằng: “Có người kia trồng được một vườn nho; ông rào giậu chung quanh, đào bồn đạp nho và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. Đến mùa, ông sai một đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi vườn nho mà họ phải nộp. Nhưng họ bắt người đầy tớ, đánh đập và đuổi về tay không. Ông lại sai một đầy tớ khác đến với họ. Họ đánh vào đầu anh ta và hạ nhục. Ông sai một người khác nữa, họ cũng giết luôn. Rồi ông lại sai nhiều người khác: kẻ thì họ đánh, người thì họ giết. Ông chỉ còn một người nữa là người con yêu dấu: người này là người cuối cùng ông sai đến gặp họ; ông nói: “Chúng sẽ nể con ta.” Nhưng bọn tá điền ấy bảo nhau: “Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta.” Thế là họ bắt cậu, giết chết rồi quăng ra bên ngoài vườn nho. Vậy ông chủ vườn nho sẽ làm gì? Ông sẽ đến tiêu diệt các tá điền, rồi giao vườn nho cho người khác. Các ông chưa đọc câu Kinh Thánh này sao? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta!

Họ tìm cách bắt Đức Giê-su, nhưng lại sợ dân chúng; quả vậy, họ thừa hiểu Người đã nhắm vào họ mà kể dụ ngôn ấy. Thế là họ để Người lại đó mà đi.

 

SUY NIỆM

Dụ ngôn “các tá điền gian ác” mỗi lần được đọc lên thì có lẽ ai cũng hiểu ngay là Chúa Giê-su ám chỉ đến những nhà lãnh đạo Do-thái đã muốn tiếm quyền của Chúa trên dân Israel và đã ra tay giết các ngôn sứ mà Chúa đã gửi đến cảnh tỉnh họ, nhất là đã đóng đinh giết chết chính Chúa Giê-su là Con Một Thiên Chúa. Để rồi, Nước Thiên Chúa đã được dành cho ai biết sinh lợi cho Chúa.

Vì thế mà bài chia sẻ này sẽ không tập chú phân tích về điều mà ai cũng đã hiểu đó nữa, nhưng tìm đi tìm ý nghĩa thời sự mà dụ ngôn vẫn tiếp tục cảnh tỉnh chúng ta ngày hôm nay.

 

– Ý nghĩa tá điền và vườn nho ngày nay.

– Vườn nho Giáo hội: Cũng như dân Israel xưa được ví như là vườn nho do Đức Chúa trồng và canh giữ, Giáo hội Công giáo là “dân mới” của Thiên Chúa (có thể nói như là sự thay thế dân Do-thái xưa sau khi họ bất tuân phản bội giao ước). Giáo hội – trên danh nghĩa hoàn vũ hay địa phương – thì cũng đều là của Chúa Giê-su. Thế nhưng, không thiếu những đấng bậc lạm dụng chiếm làm của mình, rồi thao túng Giáo hội (cộng đoàn, giáo xứ) theo sự vụ lợi hoặc tham danh cho mình; bảo thủ và phớt lờ những tiếng nói ngôn sứ, thậm chí bịt miệng những ai dám lên tiếng chỉ ra những lạm dụng và sai trái, và cuối cùng “giết chết một Chúa Giê-su đích thực” trong Giáo hội, và chỉ còn lại là sự xuống cấp về niềm tin và luân lý. Chính vì thế, Lời Chúa trong dụ ngôn “tá điền sát nhân” vẫn luôn thức thời và mời gọi cách riêng những đấng bậc trong Giáo hội từ cấp giáo hội địa phương đến các cộng đoàn giáo xứ hay tu trì luôn phải ý thức vai trò và cách thức mình đang phục vụ, có hợp với đường lối Chúa muốn hay không.

– Vườn nho tâm hồn: Mỗi người cũng được ví như một vườn nho mà Chúa đã trồng và giao cho việc tự quản lý và sinh hoa lợi cho Người. Thế nhưng, lắm khi chúng ta đã coi thường tiếng nói của lương tâm, phớt lờ những lời dạy dỗ và sửa đổi của những người có trách nhiệm, bỏ qua lề luật Chúa và Hội Thánh, hững hờ với việc nghe Lời Chúa, và cuối cùng là “giết chết” Chúa Giê-su hiện diện trong tâm hồn – bỏ đạo và hư đi đời đời… Lời Chúa mời gọi mỗi người luôn ý thức về mình để biết trông giữ tâm hồn và làm sinh lợi cho sự nghiệp nước Chúa.

 

– Nước Thiên Chúa sẽ bị lấy đi và trao cho dân tộc xứng đáng…

Người làm vườn làm không đạt mà còn quậy thì đương nhiên ông chủ sa thải và giao vườn cho những người khác làm tốt hơn. Cũng thế, khi Nước Thiên Chúa được trao cho cộng đoàn hay cá nhân mà không biết làm phát triển và sinh hoa kết quả cho Chúa, thì việc bị cất đi và dành cho dân tộc hay cá nhân xứng đáng hơn âu cũng là điều phải lẽ. chức năng của cành nho không phải là trơ trụi hoặc ra lá, mà là phải sinh hoa trái, sinh hoa trái tốt chứ không phải hoa trái xấu, nếu không thì phải bị cắt bỏ để khỏi làm tổn hại đến cây và các cành khác.

Chúa ban cho chúng ta tài năng, cơ hội…, nếu chúng ta không chuyên cần cố gắng trau dồi, thì tự nó sẽ thui chột đi.

Chúa ban cho chúng ta niềm tin, cần sự thanh luyện và trau dồi để niềm tin lớn lên. Nếu không, vì không sống niềm tin thì một ngày nào đó, chính niềm tin ban đầu cũng sẽ nguội lạnh và mất đi…

Lại nữa, như vườn nho vẫn hút nhựa sống từ “đất”, nhưng lại chỉ ra lá. Đó là tình trạng của những con người ích kỷ chỉ lo cho mình, được hưởng bao ân huệ của Chúa nhưng lại không chia sẻ cho tha nhân, nhất là thiếu đi tinh thần truyền giáo.Việc yêu mến Thiên Chúa thật tự nó sinh hoa trái, người luôn có sự sống thân tình với Thiên Chúa thì cũng đương nhiên có đời sống tương quan đức ái với mọi người.

Có vườn nho lại sinh hoa trái xấu, có thể vì không hút được đủ dinh dưỡng từ “đất”, cũng có thể do bị sâu bọ cắn phá. Đó là những ai hời hợt với ơn Chúa, hoặc để cho những thứ tác động bên ngoài xâm nhập đục khoét tâm hồn, nên đời sống họ không thể sinh hoa trái công phúc việc lành cho Giáo Hội.

 

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã ban cho chúng con ơn đức tin và được làm con cái Chúa, xin cho chúng con biết dùng khả năng và thời giờ Chúa ban để làm cho đức tin được triển nở qua đời sống đạo đức hằng ngày, để khi Chúa trở lại, chúng con xứng đáng được Chúa ân thưởng phúc trường sinh. Amen.

 

 

THỨ BA TUẦN IX THƯỜNG NIÊN

 

ĐỌC TIN MỪNG: Mc 12,13-17

Họ cử mấy người Pha-ri-sêu và mấy người thuộc phe Hê-rô-dê đến cùng Người để Người phải lỡ lời mà mắc bẫy. Những người này đến và nói: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật. Thầy chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Vậy có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không? Chúng tôi phải nộp hay không phải nộp? ” Nhưng Đức Giê-su biết họ giả hình, nên Người nói: “Tại sao các người lại thử tôi? Đem một đồng bạc cho tôi xem! ” Họ liền đưa cho Người. Người hỏi: “Hình và danh hiệu này là của ai đây? ” Họ đáp: “Của Xê-da.” Đức Giê-su bảo họ: “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” Và họ hết sức ngạc nhiên về Người.

 

SUY NIỆM

Có câu chuyện vui kể rằng, ngày kia một vị mục sư mời Chúa Giê-su đi dự khán trận đá banh giữa đội Công Giáo và đội Tin Lành, khi đội Tin Lành ghi bàn thì Chúa Giê-su đứng lên vỗ tay, nên vị mục sư nghĩ là Chúa đứng về đội bóng Tin Lành. Nhưng rồi lúc đội Công Giáo thắng thì Chúa Giê-su cũng vỗ tay hoan hô nhiệt liệt…
Chính trị và tôn giáo biệt lập nhau, không thể dùng tôn giáo để biện minh cho ý đồ chính trị. Thiên Chúa không đứng về phe này để sát hại phe kia, và Thiên Chúa không dạy con người giết hại lẫn nhau.

Bài Tin Mừng hôm nay, qua việc các địch thủ của Chúa Giê-su gài bẫy Người về việc nộp thuế, Chúa Giê-su dạy mọi người bài học cần phân biệt rõ ràng giữa tôn giáo và chính trị, giữa tương quan xã hội và mối liên hệ với Thiên Chúa: “Của Xê-da hãy trả cho Xê-da và của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa”.

 

ĐỂ KHÔNG BỊ LẪN LỘN GIỮA CHÍNH TRỊ VÀ TÔN GIÁO, CẦN NĂM CHẮC: “KHÔNG LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ LÀM CHÍNH TRỊ, NHƯNG CÓ QUYỀN ĐÒI SỰ TỰ DO, ẤM NO HẠNH PHÚC, CÔNG LÝ VÀ SỰ THẬT CHO SỰ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI”.

 

– Vấn đề chính trị và tôn giáo.

Thời Chúa Giê-su, người Pha-ri-siêu và phe Hê-rô-đê vốn đối nghịch nhau về chính trị, giờ đây lại liên minh với nhau. Người Pha-ri-siêu chống lại sự đô hộ của đế quốc Rô-ma, trong khi phe Hê-rô-đê lại chấp nhận để hưởng quyền lợi và bổng lộc hoàng đế. Hôm nay, họ liên minh với nhau muốn dùng một mũi tên quyết định trúng hai đích, hòng đẩy Chúa Giê-su vào thế tiến thoái lưỡng nan, mà câu trả lời không thể nói “có” mà cũng không thể nói “không”. Cái bẫy được họ giăng ra cho Chúa Giê-su là: “Có nên nộp thuế cho Xê-da không?”. Nếu Chúa Giê-su trả lời có, thì người Pha-ri-siêu có lý do để làm Người phải mất tín nhiệm trước dân chúng, còn nếu nói không, thì phe Hê-rô-đê sẽ có lý do để tố cáo Rô-ma đến bắt Người.
Đối với người Pha-ri-siêu, nộp thuế cho Xê-da, hoàng đế ngoại bang, là chối bỏ Thiên Chúa, Đức Chúa độc nhất của Israel. Họ đồng hóa phe quốc gia Do-thái với chính nghĩa của Thiên Chúa là để phục vụ Thiên Chúa, và vì thế họ phải đè bẹp các phe phái địch thù khác.
Thế nhưng, hoàng đế Rô-ma không phải là Thiên Chúa, cho dù ông tự xưng mình như vậy. Hoàng đế áp đặt quyền bính, bắt dân sử dụng đồng tiền Rô-ma, nhưng không thể đòi hỏi lương tâm con người vốn đã thuộc về Thiên Chúa, phải tuân phục ông được. Tuy nhiên, hoàng đế Rô-ma cũng không phải là “kẻ thù của Thiên Chúa” như người Pha-ri-siêu quan niệm, và để phục vụ Nước Thiên Chúa, thì cũng không cần thiết phải từ chối nộp thuế hay tuân phục luật dân sự do hoàng đế ban hành (x. NCGKPV).

Khi trả lời “của Xê-da hãy trả cho Xê-da, của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa”, Chúa Giê-su phân biệt tôn giáo và chính trị trong một nền văn hóa mà các nhà chính trị luôn dùng tôn giáo biện minh cho mình và cũng do đó xem các địch thủ chính trị như là địch thủ của Thiên Chúa. Với mưu đồ chính trị, thậm chí người ta còn tìm cách lôi kéo Thiên Chúa vào phe mình để tiêu diệt đồng loại.

 

– Sứ điệp Tin Mừng hôm nay.

Chúa Giê-su không lên án cũng không biện minh cho chủ nghĩa đế quốc Rô-ma. Phải chăng như vậy thì nghĩa là hòa bình và công lý giữa các dân tộc chẳng liên quan gì đến các “vấn đề thiêng liêng” và cũng chẳng làm cho Chúa Giê-su bận tâm?

Dĩ nhiên, đây là những vấn đề quan trọng và lịch sử Thánh Kinh cho thấy Thiên Chúa muốn cho mỗi một con người được hưởng tự do, cho các dân tộc có được khả năng phát triển nền văn hóa và đời sống quốc gia riêng. Đây là điều biện minh cho việc Ki-tô hữu có thể dấn thân làm chính trị hầu xây dựng công lý hòa bình và phát triển con người.

Chúa Giê-su biết rằng sự giải phóng đích thực con người luôn đi xa hơn các tranh chấp và sự đối nghịch giữa các phe phái. Mà vào thời Chúa Giê-su dân Do-thái đang bị xâu xé về chính trị, chia thành nhiều phe phái không đội trời chung, dẫn đến sự kiện Israel sẽ bị xóa sổ sau cuộc khởi nghĩa vào năm 70. Vậy, Chúa Giê-su kêu gọi các địch thủ của mình đặt lại đời sống chính trị vào đúng chỗ của nó, và đừng lẫn lộn đức tin với cuồng tín tôn giáo. Vì đức tin đòi hỏi một sự tuân phục toàn diện, nên những ai còn lầm lẫn đức tin với việc đấu tranh chính trị thường đi đến chỗ biện minh cho tất cả mọi hành động của đảng phái mình, ngay cả những dối trá và tội ác (x. NCGKPV)..
Như vậy, chính trị và tôn giáo biệt lập nhau, không thể dùng tôn giáo để biện minh cho ý đồ chính trị. Thiên Chúa không đứng về phe này để sát hại phe kia, và Thiên Chúa không dạy con người giết hại lẫn nhau.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết trả lại cho “thế gian – Xê-da” cái thuộc về nó là sự thù hận, ghanh ghét, đố kỵ, bạo lực và những đam mê xấu; để rồi chúng con sẽ trả lẽ cho Chúa những gì thuộc về Ngài là đức hạnh yêu thương, hầu cuộc sống của mỗi Ki-tô hữu chúng con là lời chứng truyền giáo hùng hồn, đem nhiều người trở lại với Chúa. Amen.

 

 

THỨ TƯ TUẦN IX THƯỜNG NIÊN

 

ĐỌC TIN MỪNG: Mc 12,18-27

Có những người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Họ hỏi Người: “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta rằng: “Nếu anh hay em của người nào chết đi, để lại vợ mà không để lại con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình.” Vậy có bảy anh em trai. Người thứ nhất lấy vợ, nhưng chết đi mà không để lại một đứa con nối dòng. Người thứ hai lấy bà đó, rồi cũng chết mà không để lại một đứa con nối dòng. Người thứ ba cũng vậy. Cả bảy người đều không để lại một đứa con nối dòng. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. Trong ngày sống lại, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ? Vì bảy người đó đã lấy bà làm vợ.

Đức Giê-su nói: “Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao? Quả vậy, khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời. Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, các ông đã không đọc trong sách Mô-sê đoạn nói về bụi gai sao? Thiên Chúa phán với ông ấy thế nào? Người phán: Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to! “

 

SUY NIỆM

Trong thời đại Chúa Giêsu, dân tộc Do Thái tồn tại hai “đảng phái” xem ra luôn đối lập nhau và có ảnh hưởng nhất cả về tôn giáo lẫn chính trị. Đó là nhóm Pha-ri-siêu và nhóm Sa-đốc (ngoài ra còn một vài nhóm nhỏ như Essenien và Jelos không đáng kể).

Chúa Giê-su không theo một đảng phái nào cả, Người chỉ trích phái Sa-đốc tham quyền cố vị và người Pha-ri-siêu giữ luật giả hình. Chính vì thế mà cả hai nhóm này đều tìm cách bắt bẻ gài bẫy Chúa Giêsu. Nhóm Pha-ri-siêu thường hỏi Chúa Giê-su về những gì liên quan đến luật và nộp thuế, còn nhóm Sa-đốc lại thắc mắc liên quan đến quyền bính và vấn đề kẻ chết sống lại.

Hôm nay nhóm Sa-đốc đến hỏi Chúa Giê-su. Họ trích đoạn Thánh Kinh trong sách Đệ Nhị Luật (Đnl 25,5): “Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình”. Rồi bịa ra một câu chuyện “sát phu” là có bảy người anh em trai thay thế nhau lấy một cô gái, nhưng “tướng sát phu” của cô này làm chết cả, cuối cùng cô ta cũng chết. Vậy khi sống lại, cô ta là vợ của ai trong bảy người kia?

Qua cách thắc mắc, ta dễ nhận thấy rằng quan niệm và niềm tin của nhiều nước, nhiều tôn giáo trên thế giới vẫn tin rằng thế giới “bên kia” cũng tổ chức và sinh hoạt như thế giới chúng ta đang sống, và cụ thể là vẫn cưới vợ gả chồng. Tuy nhiên, cái chủ đích mà người Sa-đốc nhắm tới để gài bẫy ở đây là nhằm phủ nhận sự sống lại. Chúa Giêsu đã trả lời cách khẳng định cho họ hai điểm chính yếu sau đây:

 

– Có sự sống lại thật.

Chính vì nhóm Sa-đốc chỉ nhận bộ Ngũ Kinh là Thánh Kinh, nên Chúa Giêsu trích chính sách Xuất Hành là một trong Ngũ Kinh đó để trả lời: “Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-sa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp” (Xh 3,1-6) và không thể nào Thiên Chúa lại là Thiên Chúa của kẻ chết, cho nên Áp-ra-ham, I-sa-ác, Gia-cóp vẫn đang sống.

Sự sống lại và sự sống đời đời là chân lý quan trọng cho đời sống đức tin. Nếu không có sự sống lại và sự sống đời đời thì đức tin của chúng ta là vô ích, và công việc nhập thể cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, không còn ý nghĩa nữa. Ðây là chân lý quan trọng nhưng khó tin bởi lý trí con người lập luận theo đường lối tự nhiên không thể lĩnh hội được. Niềm tin vào sự sống lại được xây dựng trên nền tảng sự sống lại của Đức Giêsu, mà các tông đồ là những người đã thấy tận mắt, đã sẵn sàng chịu đau khổ và chết để làm chứng. «Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng» (Cv 2,32; x. Cv 10,41). Đây là một trong những niềm tin căn bản nhất của người Kitô hữu, đến nỗi có thể nói ai không tin vào sự sống lại thì không phải là người Kitô hữu.

 

Đời sống thiên thần (vita angelica)

Câu trả lời của Chúa Giê-su cho ta biết trật tự, cách tổ chức, sinh hoạt, cách thế hiện hữu trong cuộc sống mai hậu không giống như cuộc sống đời này. Không thể lấy kinh nghiệm hiện hữu của cuộc sống này để áp dụng vào việc suy đoán cách hiện hữu của cuộc sống mai hậu. Đời này có lấy vợ gả chồng chỉ là chuyện sinh, lão, bệnh, tử, nên cần phải có người giúp đỡ, phục vụ và nối dõi. Khi con người đã trở thành bất tử, họ không còn sống phụ thuộc vào không gian và thời gian nữa, vì thế, họ cũng không cần phải lấy vợ gả chồng. Họ sẽ bước vào cuộc sống thần thiêng như các thiên thần, cuộc sống của họ lúc này là trường sinh bất tử, sung mãn, trọn vẹn và tồn tại muôn đời với Đấng Hằng Hữu. Công việc của họ chính là ca ngợi Chúa trong vinh quang Nước Trời như các thiên thần, được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa.

Chúa Giê-su nhắc đến đời sống đến thiên thần, nghĩa là bậc mà lẽ sống là thờ lạy, chúc tụng và vâng lời Thiên Chúa. Ở đời sau con người sẽ hoàn toàn sống cho Thiên Chúa và quy hướng về Người. Và theo quan niệm Do Thái, sự sống của Thiên Chúa và con cái Người thì khác; còn sự sống của loài người và con cái thế gian thì khác. Một đàng vĩnh cửu nên không cần truyền sinh, đàng kia vắn vỏi nên cần cưới vợ lấy chồng. Những kẻ có phần trong sự sống lại này “sẽ giống như các thiên thần”, không phải về mọi phương diện mà về trạng thái bất tử của họ. Trong một ý nghĩa rộng rãi hơn, họ sẽ là “con cái Thiên Chúa” và là “con cái của sự sống lại, vì sự chết đã mất uy lực trên họ.”

 

Lạy Chúa Giêsu,

Xin cho chúng con khao khát đời sống vĩnh cửu, để chúng con biết lo giữ mình trong sạch, sống phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân, ngày đêm ca ngợi Chúa và sống dưới sự hiện diện của Chúa như các thiên thần. Nhờ đó, chúng con đã nếm hưởng niềm vui thiên quốc ngay ở cuộc sống trần gian này.

 

 

THỨ NĂM TUẦN IX THƯỜNG NIÊN

 

ĐỌC TIN MỪNG: Mc 12,28b-34

Khi ấy, có một người trong các kinh sư hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu? ” Đức Giê-su trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” Ông kinh sư nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.” Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu! ” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.

 

SUY NIỆM

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại việc một tiến sĩ luật của Do Thái đến hỏi Chúa Giêsu về điều răn quan trọng nhất. Chúa Giêsu đã không trả lời trực tiếp về giới răn nào trong thập điều, nhưng đưa ra hai điều gồm tóm tất cả mọi lề luật. Đó là mến Chúa và yêu người.

Thập điều được Chúa ban cho Môisen trên núi Sinai tóm gọn lại trong hai điều (mười răn ấy tóm lại hai điều này mà chớ…) là 3 điều trước tập chú về việc MẾN CHÚA TRÊN HẾT MỌI SỰ và 7 điều sau nói đến bổn phận YÊU NGƯỜI NHƯ MÌNH TA VẬY.

Chúa Giêsu không chỉ gồm tóm thập điều thành hai điều căn bản mà còn nâng giới luật yêu thương lên tầm quan trọng ngang hàng với việc kính Chúa:

 

– Yêu mến Thiên Chúa HẾT LÒNG, HẾT LINH HỒN và HẾT TRÍ KHÔN.

– Hết lòng: Nghĩa là với cả cái tâm của mình, với cả trái tim của mình, nghĩa là với cả ý chí và tự do.

– Hết linh hồn: Linh hồn luôn hướng lên Chúa trong cầu nguyện tâm sự với Chúa, tham dự Thánh Lễ và các Giờ Kinh cùng những bổn phận trong bổn đạo.

– Hết trí khôn: Với cả tri thức và ý thức trong mọi việc mình làm thể hiện tình yêu với Chúa.

Như vậy, tình mến dành cho Chúa là ưu tiên hàng đầu trong việc sống đạo, với tâm tình của một người con của Thiên Chúa.

 

– Yêu thương kẻ khác NHƯ CHÍNH MÌNH ngươi.

– Yêu như chính mình là gì? Trong Cựu Ước, sách Tobia đã nói tới nhưng còn mang vẻ tiêu cực là: “Những gì con KHÔNG MUỐN kẻ khác làm cho mình, thì cũng ĐỪNG LÀM điều đó cho người ta” (Tb 4, 14), nhưng sang Tân Ước, Chúa Giêsu dạy theo hướng tích cực: “Điều con MUỐN người khác làm cho mình thì HÃY LÀM cho người ta” (Mt 7, 12 // Lc 6,31).

– Thế nhưng đó mới chỉ là yêu tha nhân bằng mình, mà chúng ta thực hành được đã là chu toàn lề luật rồi. Nhưng càng tốt hơn khi chúng ta dám yêu tha nhân hơn cả chính mình, mới thực sự nên giống Chúa Giêsu, Đấng đã dám thí mạng mình vì yêu, Đấng đã chịu đói khát cho chúng ta được giàu sang. Đó là mức độ cao nhất trong tình yêu là agapê – vượt lên trên mọi so đo tính toán, chứ không như eros (chiếm hữu) hay philia (có qua có lại) theo cách phân tích của người Hy Lạp.

– Tình yêu không phải chỉ thương ở trong lòng hay là nói nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm (1Ga 3, 18). Làm sao ta có thể hiến mạng sống mình vì anh em, nếu như không tập từ những cái nho nhỏ như: mong muốn người khác được hạnh phúc, vui, sướng, “được sống và sống dồi dào hơn”. Vui với họ, buồn cùng họ. Chia sẻ từng miếng cơm, từng tấm áo, từng lời động viên, an ủi, cũng như không nói hành nói xấu người khác,… Làm được những điều nhỏ nhoi như thế, thì ta đã yêu thương họ cách chân thành, và khi cần thì cũng có thể hiến mạng sống vì họ (x. 1Ga 3, 17).

– Thánh Bênađô nói: Mức độ của yêu thương là yêu thương không mức độ” và thánh Augustino cũng dạy: “Bạn hãy cứ yêu đi rồi làm gì hãy làm”. Nghĩa là lòng thương xót, yêu thương và bác ái chúng ta không đạt ra cho nó một giới hạn, nhưng là hãy làm những gì chúng ta có thể làm được, và dù làm việc lành gì đi nữa, mà trong việc làm đó không có sự yêu mến thì cũng vô ích mà thôi.

 

Tóm lại: Mến Chúa và yêu người là hai tương quan của một nhân vị, vừa mang chiều kích tôn giáo vừa mang chiều kích xã hội. Con người sống tương quan hàng dọc với Thiên Chúa và tương quan hàng ngang với tha nhân. Kitô hữu sống mầu nhiệm đức ái bao gồm hai chiều kích này không thể tách rời nhau: Không thể nói mến Chúa mà lại không yêu người, chính thánh Gioan Tông Đồ cũng đã khẳng định điều đó.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con luôn thấy Chúa hiện diện nơi mọi người chúng con gặp gỡ, để khi thực thi đức bác ái yêu thương với đồng loại, chúng con biết rằng, chúng con đang làm vì lòng yêu mến Chúa và có sức cứu độ các linh hồn. Amen.

 

 

THỨ SÁU TUẦN IX THƯỜNG NIÊN

 

ĐỌC TIN MỪNG: Mc 12,35-37

Khi giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su lên tiếng hỏi: “Sao các kinh sư lại nói Đấng Ki-tô là con vua Đa-vít? Chính vua Đa-vít được Thánh Thần soi sáng đã nói: Đức Chúa phán cùng Chúa Thượng tôi: bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt dưới chân Con.

Chính vua Đa-vít gọi Đấng Ki-tô là Chúa Thượng, thì Đấng Ki-tô lại là con vua ấy thế nào được? ” Đám người đông đảo nghe Đức Giê-su cách thích thú.

 

SUY NIỆM

Bối cảnh của bài Tin Mừng hôm nay, có lẽ là bài giảng của Chúa Giê-su trong đền thờ, sau khi dân Do-thái vừa hát thánh vịnh 109 (110), thánh vịnh về sự phong vương:

“Sấm ngôn của ĐỨC CHÚA

ngỏ cùng Chúa Thượng tôi:

Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị,

để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân con…”

Thật vậy, nhân dịp này, Chúa Giê-su muốn đặt vấn đề về niềm tin vào Đấng Messia mà dân Do-thái mong đợi, Sự thật về Đấng ấy không chỉ là một con người thuộc dòng dõi Đa-vít, mà còn có nguồn gốc thần linh, là Đức Chúa.

Đây là đoạn Tin Mừng làm cốt lõi cho những suy tư thần học trong những thế kỷ đầu, về Chúa Giê-su có hai bản tính trong một ngôi vị.

 

– Chúa Giê-su là con vua Đa-vít.

Khi nói con vua Đa-vít, chúng ta cần phân biệt ý nghĩa Thánh Kinh, có ít nhất ba cách hiểu: Con ruột (Salomon con Đa-vít…), con nuôi (Môi-sê con của công chúa…), con cháu (thuộc dòng tộc) và con theo tính cách đặc biệt (Gioan và Gia-cô-bê “con của sấm sét”, Barnaba “con sự an ủi…”). Niềm tin của người Do-thái vào Đấng Messia là con vua Đa-vít đương nhiên là theo nghĩa thứ ba (con thuộc dòng dõi).

Hình ảnh Đa-vít, vị vua lý tưởng, đã đi vào lòng dân tộc Do-thái cộng thêm với lời các ngôn sứ khiến cho họ vẫn mong đợi một Đấng Cứu Thế xuất thân từ dòng tộc Đa-vít. Chính vì người Do-thái chỉ dừng lại ở nguồn gốc nhân loại của Đấng Ki-tô, nên họ chỉ lo tìm kiếm những gì mà Luật và các ngôn sứ nói Đấng Ki-tô đến từ dòng tộc Đa-vít, đồng thời từ sự mong đợi đó, họ quan niệm về một Đấng Ki-tô phải là vua kế vị Đa-vít, đánh đông dẹp bắc, lên ngôi hiển trị và nâng tầm quốc gia họ lên vị thế cường quốc. Như thế, khi đi tìm một Đấng Ki-tô theo ý họ, thì cũng đồng thời tìm kiếm những lời Thánh Kinh nói có lợi và phù hợp với quan niệm của họ, và vì vậy mà bỏ quên những điều khác Thánh Kinh nói về Đấng Ki-tô, làm sai lệch niềm tin về một Đấng Ki-tô đích thực.

Không hơn người Do-thái xưa, ít nhiều chúng ta cũng từng tìm kiếm một Chúa Giê-su Ki-tô theo sở thích của mình, một Thiên Chúa đầy nhân loại thỏa mãn ước vọng của chúng ta. Từ đó chúng ta chỉ lo cho cái phần thể xác mà quên đi phần linh hồn là phần chia sẻ bản tính Thiên Chúa nơi mình.

 

– Đức Ki-tô là Chúa Thượng.

Chúa Giê-su không muốn dân Do-thái cứ sai lạc mãi trong quan niệm trần thế, là chỉ lo tìm kiếm một Đấng Ki-tô theo nhân tính dựa theo những điều tiên báo trong Sách Thánh về Đấng Ki-tô thuộc dòng tộc Đa-vít, Người dùng đến lời Sách Thánh trong Thánh Vịnh 110 của chính lời từ miệng vua Đa-vít phát ra, để chứng minh Đấng Ki-tô có nguồn gốc thiên tính. Đấng Ki-tô được sinh ra từ dòng tộc Đa-vít, nhưng Người là Con Thiên Chúa có từ đời đời.

Chúa Giê-su không phủ nhận mình thuộc dòng tộc vua Đa-vít, nhưng Người muốn cho dân chúng tiến xa hơn trong mầu nhiệm Nhập Thể: Con Một Thiên Chúa đã xuống trần gian mặc lấy thân phận con người trong dòng tộc vua Đa-vít.

Mầu nhiệm Đấng Ki-tô vừa là Chúa lại vừa là người thật không dễ gì lãnh hội được, không riêng gì người Do-thái, mà ngay trong con cái Giáo hội Công giáo ở những thể kỷ đầu đã trở thành lạc giáo vì tín điều “một ngôi vị trong hai bản tính”. Vì thế, cần phải có một “cặp mắt” như Đa-vít, cặp mắt của đức tin được Thánh Thần chiếu rọi để nhận ra Đấng Ki-tô đích thực.

Danh xưng Chúa Giê-su Ki-tô mà Giáo hội Công giáo bắt đầu từ thời các tông đồ sử dụng, tự nó tuyên xưng một Thiên Chúa trong nhân tính Giê-su và thiên tính Ki-tô. Chúa Giê-su Ki-tô là Ngôi Hai Thiên Chúa từ đời đời, đã nhập thể và sinh ra trong dòng tộc Đa-vít, để nhờ cuộc Tử Nạn và Phục Sinh, Người làm cho bản tính nhân loại được thần hóa thông dự vào thiên tính của Người.

 

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết tìm kiếm và tôn thờ một Chúa Giê-su Ki-tô đích thực, là một Thiên Chúa đã làm người mà cứu chuộc chúng con, để đang khi lo tìm kiếm những của nuôi thân xác thì cũng lo bồi bổ cho linh hồn, hầu mai ngày, chúng con được hưởng trọn vẹn niềm vui phục sinh với Chúa, khi Chúa cho thân xác loài người được sống lại trong ngày sau hết. Amen.

 

 

THỨ BẢY TUẦN IX THƯỜNG NIÊN

 

ĐỌC TIN MỪNG: Mc 12,38-44

Trong lúc giảng dạy, Đức Giê-su nói rằng: “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn.”

Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rô-ma Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.” 

 

SUY NIỆM

Bài Tin Mừng hôm nay là những lời cảnh báo của Chúa Giêsu cho dân biết lối sống tự tôn và giả hình của các nhà thông luật Do-thái:

 

– Giả hình và tự tôn

Các người Pharisiêu với áo vàng mũ miện đai nịt màu mè, nhưng trong tâm hồn đầy những đam mê và suy nghĩ xấu xa. Họ sống đóng kịch và khoe khoang khi muốn tỏ ra cho những người xung quanh thấy những việc làm của họ để được ca tụng. Người Pharisiêu thích chiếm chỗ nhất nơi công cộng, họ bắt người ta bái chào kính trọng họ ngoài đường phố, họ tự tôn, tự đại, tìm giá trị, danh giá bên ngoài mà bên trong thì đáng chê trách vì cuộc sống thiếu đạo đức đích thực. Chúng ta cũng dễ bị ảnh hưởng điều này, vì cám dỗ lớn nhất của con người, đó là đam mê quyền lực, ai cũng mong muốn được ăn trên ngồi trốc, được mọi người tung hô kính trọng… để rồi từ đó làm mọi cách (cho dù là đê tiện thấp hèn) để đạt được mục đích chức quyền… Không ít người trong chúng ta, tìm cách che giấu sự thật về con người của mình khi không khiêm tốn đón nhận những khuyết điểm của mình, không đón nhận sự thật về con người của mình.

Lời Chúa mời gọi chúng ta trong khi lo trang điểm cho mình vẻ đẹp bề ngoài, thì cũng lo trang sức cho tâm hồn những nhân đức thánh thiện, lo cải hoá đời sống để được đổi mới trong mọi sự.

 

– Ngôn hành bất nhất

Lời nhận xét dành riêng cho người thông luật là: “Họ chất trên vai kẻ khác những gánh nặng không thể gánh nổi, còn chính các người, thì dù một ngón tay cũng không động vào”. Thật vậy, nhiều tiến sĩ luật Do-thái ưa nói về luật cách tỉ mỉ, nhưng lời nói của họ không đi đôi với việc làm, nói một đàng làm một nẻo, lo tô vẽ cho cái bề ngoài nhằm che đậy sự xấu xa lợi dụng trong lòng họ. Họ dạy luật thì để cho dân giữ, còn chính họ lại không làm gương, họ dùng luật làm thứ bình phong che chắn và làm lợi cho họ, còn dân chúng thì cảm thấy nặng nề, để rồi thay vì yêu mến và tự nguyện, họ chỉ giữ vì buộc phải giữ và luật trở thành gánh nặng đè trên vai họ. 

Thật ra, điều này không xa lạ gì với chúng ta hôm nay, vẫn còn đó đây những vị này vị nó thuyết thì hay nhưng lại tự chuẩn cho mình; dạy dỗ người ta nhưng chính mình lại không giữ, thậm chí còn tệ hơn – ngôn hành bất nhất. Lại nữa, chỉ thấy người khác phạm luật và trách mắng họ, nhưng thực tế thì “suy bụng ta ra bụng người” – chính mình còn bê bối hơn cả những gì mình trách người… Xin Chúa giúp chúng ta, biết dùng chính hành động làm cho lời nói có giá trị, nghĩa là khi muốn ai giữ luật, thì mình phải biết làm gương trước – ngôn hành như nhất.

 

– Ý nghĩa trao ban.

Cuối cùng, bài Tin Mừng hôm nay kể chuyện người góa phụ nghèo dâng cúng, minh họa cho lối sống giả hình của Pharisêu: Trong khi các quan chức và những người trưởng giả khệ nệ đổ xoang xoảng số tiền của mình vào hòm công đức, thì một bà goá nghèo chỉ có hai đồng xu kính cẩn và nhẹ nhàng bỏ vào. Thế mà dưới cái nhìn của Chúa Giêsu, chính bà góa này mới là người dâng cúng nhiều nhất, vì đã dâng cho Thiên Chúa cả lòng yêu mến và đó là điều Thiên Chúa cần. Còn những trưởng giả kia mặc dù số bạc của họ gấp ngàn lần số bạc của bà góa, nhưng lòng yêu mến của họ không bằng một phần trăm của bà, vì họ chỉ dâng số dư thừa, hoặc dâng để phô trương, để được khen tặng mà thôi. Đến đây ta có thể kết luận được rằng, ý nghĩa đích thực của trao ban là trao ban một cách nhưng không, không so đo tính toán, không vì danh lợi, nhưng tất cả chỉ vì Tình Yêu. Và Bí Tích Thánh Thể chính là sự trao ban tròn đầy đó.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết khiêm tốn trong bậc sống và trách nhiệm Chúa giao phó, để chúng con không tìm vinh quang cho riêng mình mà là Chúa được vinh danh trong chính cuộc sống của mọi người chúng con. Amen

 

Hiền Lâm.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

BÀI VIẾT MỚI

spot_imgspot_img

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Thứ Hai Tuần VII Thường Niên, Ga 19,25-27: Đức Maria – Mẹ Hội Thánh

Thứ Hai Tuần VII Thường Niên, Ga 19,25-27 Đức Maria Mẹ Hội Thánh Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist. Một nhà văn kể lại rằng, trong cuộc chiến...

Thứ Bảy Tuần VII Phục Sinh, Ga 21,20-25: Sứ mạng của kitô hữu giữa thế giới này

Thứ Bảy Tuần VII Phục Sinh, Ga 21,20-25 Sứ mạng của kitô hữu giữa thế giới này Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist Đoạn Tin Mừng hôm...

Thứ Sáu Tuần VII Phục Sinh, Ga 21,15-19: Con có yêu mến Thầy không?

Thứ Sáu Tuần VII Phục Sinh, Ga 21,15-19 Con có yêu mến Thầy không? Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist Ba lần Chúa Giêsu hỏi Phêrô: “Con...

Thứ Năm Tuần VII Phục Sinh, Ga 17,20-26: “Để tất cả nên một”

Thứ Năm Tuần VII Phục Sinh, Ga 17,20-26 “Để tất cả nên một” Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist Chương 17 Tin Mừng theo thánh Gioan là...

Thứ Tư Tuần VII Phục Sinh, Ga 17,11b-19: Kitô hữu sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian

Thứ Tư Tuần VII Phục Sinh, Ga 17,11b-19 Kitô hữu sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist   Một tình...

Ngày 14/05, Lễ kính thánh Matthias, TĐ, Ga 15,9-17: Anh em hãy yêu thương như Thầy

Ngày 14/05, Lễ kính thánh Matthias, TĐ, Ga 15,9-17 Anh em hãy yêu thương như Thầy Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist Thi sĩ Xuân Diệu đã định...

Thứ Hai Tuần VII Phục Sinh, Ga 16,29-33: Để trong Thầy anh em được bình an

Thứ Hai Tuần VII Phục Sinh, Ga 16,29-33 Để trong Thầy anh em được bình an Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist Tin Mừng hôm nay, các môn...

Thứ Bảy Tuần VI Phục Sinh, Ga 16,23-28: Sức mạnh của tình yêu

Thứ Bảy Tuần VI Phục Sinh, Ga 16,23-28 Sức mạnh của tình yêu Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist. Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu thổ lộ cho...

Thứ Sáu Tuần VI Phục Sinh, Ga 16,20-23 : Niềm vui của anh em không ai lấy mất được

Thứ Sáu Tuần VI Phục Sinh, Ga 16,20-23 Niềm vui của anh em không ai lấy mất được Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist Tin Mừng hôm nay,...

Thứ Năm Tuần VI Phục Sinh, Ga 16,16-20: Nỗi buồn của anh em sẽ biến thành niềm vui

Thứ Năm Tuần VI Phục Sinh, Ga 16,16-20 Nỗi buồn của anh em sẽ biến thành niềm vui Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist. Tin Mừng hôm nay...

Thứ Tư Tuần VI Phục Sinh, Ga 16,12-15: Thần Chân Lý sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn

Thứ Tư Tuần VI Phục Sinh, Ga 16,12-15 Thần Chân Lý sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist Ngày 20/09/2008,...

Thứ Ba Tuần VI Phục Sinh, Ga 16,5-11: Tôi phải làm gì để được ơn cứu độ?

Thứ Ba Tuần VI Phục Sinh, Ga 16,5-11 Tôi phải làm gì để được ơn cứu độ? Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist Trong cuộc sống này, có...