Thứ Ba Tuần XV Thường Niên
Sám hối – Con đường trở về với lòng thương xót
Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist.
Ngày nay, một trong những từ ngữ người ta ít muốn nghe nhất, đó là từ “sám hối”. Người ta thích nói đến thành công hơn là lỗi lầm, thích khẳng định bản thân hơn là nhìn nhận yếu đuối. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II từng nhận định rằng: “Con người ngày nay đánh mất cảm thức về tội lỗi.” Khi không còn thấy mình có tội, người ta cũng chẳng còn thấy cần phải sám hối.
Đó là điều khiến Chúa Giêsu phải nặng lời quở trách các thành Khoradin, Bếtxaiđa và Caphácnaum (Mt 11,20-24). Những thành đã được chứng kiến biết bao phép lạ, được nghe chính Chúa giảng dạy, nhưng vẫn không chịu sám hối thay đổi lối sống. Điều khiến Chúa đau lòng không phải vì họ yếu đuối, nhưng vì họ khép lòng trước ân sủng và từ chối sám hối.
Sám hối là gì? Theo Kinh Thánh, sám hối không chỉ là tiếc nuối vì đã làm điều sai, nhưng là quay trở về với Thiên Chúa bằng cả tâm hồn. Như Ngôn sứ Giôen kêu gọi: “Hãy xé lòng chứ đừng xé áo” (Ge 2,13). Hay như vua Đavít sau khi phạm tội đã khóc lóc thưa lên: “Lạy Chúa, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng” (Tv 51). Dân thành Ninivê nhờ thực lòng ăn năn mà được Thiên Chúa tha thứ (Gn 3). Sang Tân Ước, lời rao giảng đầu tiên của Chúa Giêsu là: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Như thế, sám hối không phải là một việc đạo đức phụ thêm, nhưng là cánh cửa mở để ta chạy ùa vào lòng Thiên Chúa.
Tại sao phải sám hối? Vì tội lỗi làm rạn nứt mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính mình. Sự thật mỗi chúng ta đều là kẻ có tội. Một câu ngạn ngữ Đức rất sâu sắc rằng: “Bạn chưa phạm tội, chỉ vì bạn chưa có cơ hội phạm tội.” Câu nói ấy nhắc chúng ta đừng vội kết án người khác, nhưng hãy khiêm tốn nhìn lại chính mình. Không ai mạnh đến mức không thể sa ngã, cũng không ai xấu đến mức không thể được thứ tha.
Điều kiện để sám hối chính là khiêm nhường. Người ta hỏi thánh Augustinô: “Đâu là bước đầu tiên để nên thánh?” Ngài trả lời: “Khiêm nhường.” “Bước thứ hai?” – “Khiêm nhường.” “Bước thứ ba?” – “Vẫn là khiêm nhường.” Chỉ khi cúi xuống nhìn nhận sự thật về mình, con người mới có thể ngẩng lên đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa.
Và hoa trái của sám hối thật lớn lao. Người sám hối không chỉ được tha thứ mà còn được chữa lành, được phục hồi phẩm giá và được hưởng ơn cứu độ. Ông Dakêu đã nghe Chúa Giêsu tuyên bố: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này.” Anh trộm có lòng sám cũng được nghe Chúa nói: “Ngay hôm nay anh sẽ ở với tôi trên thiên đàng”. Chúa còn khẳng định: “Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.” Thiên Chúa không đối xử với chúng ta như con người thường đối xử với nhau. Người đời vẫn nói: “Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại.” Còn Thiên Chúa thì luôn trung tín yêu thương. Qua miệng ngôn sứ Isaia, Ngài hứa: “Dầu tội các ngươi có đỏ như son cũng nên trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều cũng nên trắng như bông.” Vì thế, Thánh Biển Đức đã nhắn nhủ chúng ta: “Đừng bao giờ thất vọng về lòng thương xót của Thiên Chúa.” Đức Thánh Cha Phanxicô từng nói: “Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi tha thứ cho chúng ta; thì chúng ta đừng bao giờ mệt mỏi chạy đến với Ngài.”
Lịch sử Hội Thánh có biết bao chứng nhân của sức mạnh sám hối. Phêrô từ chỗ chối Thầy ba lần đã trở thành vị Tông đồ trưởng. Maria Mađanêna trắc nết nhờ hối cải mà trở thành Tông đồ của các Tông đồ, hay như Phaolô từng bách hại đạo mà nay trở thành Tông đồ của dân ngoại… Quả thật “Mỗi vị thánh đều có một quá khứ, và mỗi tội nhân đều có một tương lai.”
Một chứng từ cảm động trong thời đại chúng ta là câu chuyện về kẻ giết chết Maria Goretti. Trước khi qua đời vì mười bốn nhát dao của Alessandro Serenelli, cô bé mười hai tuổi đã tha thứ và cầu xin Chúa cho kẻ sát hại mình cũng được lên thiên đàng. Chính sự tha thứ ấy đã đánh thức lương tâm kẻ sát nhân. Trong tù, Alessandro đã thành tâm sám hối, rồi sau khi mãn án, ông gia nhập hiến sinh dòng Phanxicô sống cuộc đời thánh thiện. Ông đã bình an ra đi vào năm 1970, hưởng thọ 88 tuổi. Nhìn vào Alessandro, chúng ta nhận thấy: Một tội ác khủng khiếp đã không phải là dấu chấm hết, bởi lòng thương xót của Thiên Chúa luôn mạnh hơn tội lỗi con người.
Có lẽ mỗi người chúng ta cũng từng cảm nghiệm niềm vui ấy sau khi lãnh nhận Bí tích Hòa Giải. Bước vào tòa giải tội với gánh nặng trong lòng, nhưng bước ra với một tâm hồn bình an, nhẹ nhõm. Đó chính là niềm vui của người con trở về trong vòng tay người Cha nhân hậu.
Hôm nay, Chúa vẫn đang mời gọi mỗi người chúng ta: “Hãy sám hối.” Không phải vì Ngài muốn kết án, nhưng vì Ngài muốn cứu độ. Như chính Chúa tuyên bố: “Tôi đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi ăn năn sám hối.” Chúa cũng quả quyết: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.”
Ước gì khi nhìn lại cuộc đời mình, mỗi người đều có thể thưa với Chúa như thánh Phêrô sau lần sa ngã: “Lạy Thầy, Thầy biết mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy.” Và từ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, chúng ta lại can đảm đứng dậy, bắt đầu một hành trình mới trong niềm hy vọng của những người được yêu thương và được cứu độ.
Bài 2
Thứ Ba, Tuần XV Thường Niên (Mt 11,20-24)
“Khốn cho ngươi, hỡi Khô-ra-din! Khốn cho ngươi, hỡi Bết-xai-đa!”
Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist
“Bấy giờ Đức Giêsu bắt đầu khiển trách các thành đã chứng kiến phần lớn các phép lạ Người làm mà không sám hối: ‘Khốn cho ngươi, hỡi Khô-ra-din! Khốn cho ngươi, hỡi Bết-xai-đa!…’”
(Mt 11,20-24)
Có một nỗi đau nghẹn lại trong lời Chúa Giêsu hôm nay. Đó không phải là tiếng kết án của một vị Thẩm phán lạnh lùng, nhưng là tiếng thở dài thổn thức của một người yêu thương đến tận cùng mà vẫn bị từ chối. Ngài đã đến, đã cúi mình chữa lành, giảng dạy, chạm đến những nỗi khổ của con người… nhưng đổi lại là sự thờ ơ, cứng lòng.
Khô-ra-din, Bết-xai-đa, Ca-phác-na-um… những thành thị từng tràn ngập ánh sáng Tin Mừng, những thành đã được Chúa thi ân giáng phúc, từng chứng kiến nhiều phép lạ… lại chính là những nơi dửng dưng nhất trước lời mời gọi hoán cải.
Đó không chỉ là chuyện xưa. Đó là bi kịch muôn thuở của những tâm hồn “ở gần” mà lại “xa vời” Thiên Chúa; “gần chùa gọi bụt bằng anh”. Bi kịch của những người sống giữa các dấu chỉ tình yêu nhưng lòng vẫn lạnh giá. Bi kịch của những tín hữu “đạo gốc”, “sốt sắng bên ngoài”, nhưng năm này qua năm khác vẫn không chịu thay đổi tận căn.
“Khốn cho ngươi!” – lời cảnh tỉnh ấy không dành cho kẻ tội lỗi công khai, mà dành cho những ai đã quá quen với ánh sáng, nên không còn biết quý ánh sáng nữa.
Cái nguy hiểm của người tín hữu không phải là những lần sa ngã, nhưng là sống mà không còn biết mình cần hoán cải. Vẫn đi lễ, vẫn đọc kinh, vẫn giữ đạo như thói quen… nhưng tâm hồn không chuyển động, không băn khoăn, không thao thức. Một đời sống đức tin đứng yên là một đời sống đang lùi dần.
Tyrô, Si-đôn, Sô-đôma – những thành phố nổi tiếng tội lỗi – lại được Chúa nhắc đến như những nơi “sẽ sám hối nếu thấy những phép lạ như các ngươi.” Nghĩa là: cái nguy hiểm không phải là tội nhiều, mà là lòng không muốn thay đổi.
Có một nghịch lý: người càng gần gũi với những điều thánh thiêng, càng dễ trở nên vô cảm. Một linh mục có thể dâng lễ mỗi ngày nhưng lòng dửng dưng. Một tu sĩ có thể đọc Kinh Thánh mỗi giờ mà không để Lời chạm vào tim. Một giáo dân có thể rước lễ đều đặn mà không bao giờ thật sự sống trong ân sủng.
Gần Chúa mà không hoán cải, chính là xúc phạm đến ánh sáng. Và ánh sáng khi bị khước từ, sẽ trở thành lưỡi gươm lặng lẽ xuyên thấu lương tâm.
Lạy Chúa Giêsu,
Có khi con giống như Khô-ra-din, Bết-xai-đa:
đã thấy Chúa, mà vẫn sống như không biết Ngài.
Đã nghe Lời Chúa, mà vẫn khép lòng.
Con đã nhận biết bao ơn lành từ tay Chúa,
nhưng bao lần con đáp lại bằng sự hờ hững,
bằng những thói quen không đổi,
bằng lối sống co cụm trong chính mình.
Xin tha thứ cho con.
Xin đừng để ánh sáng của Ngài trở nên lời kết tội.
Xin cho con biết sám hối không bằng nước mắt chóng qua,
mà bằng cuộc đời được biến đổi từng ngày.
Amen.



