Thứ Ba, 5 Tháng Ba, 2024

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số11: BÉN RỄ SÂU TRONG ĐỨC KITÔ

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM

   

 Nội san linh đạo đan tu

 

 BÉN RỄ SÂU TRONG ĐỨC KITÔ

 

Số 11 – Tháng 07 năm 2012

 

  LỜI MỞ

Qúi độc giả thân mến!

Chúng ta đang sống trong một thế giới văn minh và tiến bộ. Một thế giới mà trong đó, chúng ta phải ngỡ ngàng vì những thay đổi đến mức chóng mặt của khoa học kỹ thuật. Cách đây mới mấy năm thôi, con người như vỡ òa vì chiếc iphone đầu tiên ra đời, với những công năng phải nói là tuyệt vời, thế nhưng đến hôm nay, người ta không còn nghĩ đến nó nữa vì thế hệ iphone 4, iphone 5 tối tân và hoàn hảo hơn góp phần làm cho cuộc sống con người nhẹ nhàng và hạnh phúc thêm.
Thế giới thay đổi và rất cần thay đổi để con người có một cuộc sống tốt hơn, xứng với phẩm giá làm người và được tôn trọng. Tuy nhiên, không phải thay đổi nào cũng tốt và cần thiết cho con người. nó chỉ có ý nghĩa khi dẫn đưa con người đến sự sống. Sự sống nào đây? Chắc chắn không phải một sự sống tạm bợ, thể lý nhưng là một sự sống của Thiên Chúa. Một sự sống như thế không hề hiện diện trong “nền văn minh sự chết”, mà chỉ tồn tại nơi “ văn minh sự sống”, một nền văn minh được xây dựng tren nguồn sống của Chúa Ba Ngôi, dưới ánh sáng của Tin Mừng.
Chính vì thế ĐGH Benedicto XVI đã mời gọi giới trẻ hãy “Bén Rễ Sâu Vào Trong Đức Kitô” như là phương cách hữu hiệu nhất để xây dựng một thế giới tình thương, một thế giới của sự sống.
Nội san hạt giống chiêm niệm số 11 lấy lại lời mời gọi của Đức đương kim Gíao Hoàng là chủ đề, không mong muốn gì hơn lfa hòa chung với nhịp sống của Mẹ Giáo Hội. để từ đó trở về với gốc rễ và cội nguồn đan tu như lời Đức Tổng Phụ nhắn gửi trong là thư giáng sinh năm 2011. Bởi chỉ khi nào đan sĩ thật sự “Bén rễ sâu vào trong Đức Kitô” thì lúc đó đan sĩ mới thật sự đạt tới được mục đích như cha thánh Biển Đức hằng mong muốn: “Tìm Chúa”.
Trong tập san này, ban biên tập xin gửi đến quí Viện Phụ, quí bề trên, các anh chị em trong hội dòng và tất cả những ai mến một việc tìm Chúa những bài chia sẻ tuy đơn sơ nhưng rất thiết thực với chỉ một ước mong khiêm tồn là tất cả chúng ta đều được “bén rễ sâu vào trong Đức Kitô

 Ban Biên Tập            

 

 MỤC LỤC

 

 

BÉN RỄ SÂU TRONG ĐỨC KITÔ

 M. Duy Ân    

DẪN NHẬP

 Thánh Tôma Aquinô nhận định: Đặc tính của Thiên Chúa là trao ban, và đặc tính con người là tiếp nhận. Quả là một cuộc trao đổi kỳ diệu, được thực hiện trong tình yêu. Thật vậy, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Đối với con người, “TIN” ở đây được xác định là “TIẾP NHẬN”. Vì vậy, con người được mời gọi sống gắn bó với Đức Giêsu Kitô, qua một tiến trình được Thánh Phaolô diễn tả với hình ảnh “Bén rễ sâu và xây dựng đời mình trên nền tảng là Đức Kitô Giêsu” (Cl 2,7). Ý niệm “Xây dựng” giả định một nền tảng vững chắc; trái lại hình ảnh “Bén rễ sâu” gợi ý một diễn tiến sinh động, làm chúng ta liên tưởng đến “Cây nho đích thực” được Chúa Giêsu sử dụng để diễn tả ơn kết hợp kỳ diệu giữa Ngài với chúng ta (x. Ga 15). Đây là mối tình tuyệt vời Ngài dành cho mỗi chúng ta. Chúng ta đã biết khá đầy đủ về đời sống của Chúa Giêsu, đã thuộc khá nhiều Tin Mừng của Ngài, nhưng điều cấp bách tiên quyết là BÉN RỄ SÂU trong Đức Giêsu Kitô để thực sự tiếp nhận được Ngài và Tình Yêu cứu độ Ngài trao ban.

 

I- BÉN RỄ SÂU THẾ NÀO TRONG ĐỨC GIÊSU KITÔ?

Trong thực tế, bao giờ Thiên Chúa cũng đi bước trước: Con Thiên Chúa đã làm người, và cắm lều ở giữa chúng ta (x.Ga 1,14). Mục đích đến trần gian được chính Đức Giêsu nêu rõ trong Tin Mừng: Ngài đến để “tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19,10); để “kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5,32). Bởi thế, BÉN RỄ SÂU trong Đức Giêsu Kitô có nghĩa là tiếp nhận Ngài và tham dự vào công trình cứu độ của Ngài. Chính vì thế, Ngài đã mang nhiều danh hiệu liên quan đến công trình ấy. Vincent Taylor, tìm hiểu về Kinh Thánh, đã nêu lên 55 danh hiệu được dành cho Đức Giêsu (x. John Navone S.J. Thất bại và Tình yêu, tr. 42-43). Còn tác giả cuốn TỪ ĐIỂN CÔNG GIÁO Phổ Thông, JOHN A. HARDON S.J. Muốn đầy đủ hơn, đã liệt kê thêm, nâng tổng số lên 153 tước hiệu của Đức Giêsu trong Tân Ước (nđd tr. 310-314). Vì lý do thực tiễn, đây chỉ xin triển khai một số tước hiệu chủ yếu hơn, quy về hai trục chính, thuộc về hai bản tính nơi Đức Giêsu là “CON THIÊN CHÚA” (Filius Dei), đồng thời cũng là “CON LOÀI NGƯỜI” (Filius hominis). Cả hai thuật ngữ này được dùng rất nhiều trong Tân Ước, đặt nền tảng cho niềm tin Kitô giáo, nhờ đó người tín hữu tìm bén rễ sâu trong Đức Giêsu Kitô hầu đạt tới ơn cứu độ.

 

ĐỨC GIÊSU KITÔ: “CON THIÊN CHÚA 

Đây không chỉ là một tước hiệu, nhưng là một Ngôi Vị Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, được sai đến để cứu độ trần gian (x. Ga 4,42). Thiết tưởng điều quan trọng là, phải hiểu thế nào cho chính xác về ý nghĩa của tước hiệu chủ chốt “CON THIÊN CHÚA” dành cho Đức Giêsu Kitô.

Cha Karl. Rahner S.J. đã nêu lên sáu bản văn sau đây trong Tân Ước xác định rõ ràng: “ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ THIÊN CHÚA” (Ga 1,1; Ga 1,18; Ga 20,28; Tt 2,13; Rm 9,5); Tất cả được bao gồm trong phương thức của Thánh Tông đồ Gioan: “Con Thiên Chúa đã đến… là Đức Giêsu Kitô. ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ THIÊN CHÚA THẬT và là sự sống đời đời” (1 Ga 5,20); Bởi vậy, căn cứ vào mạc khải, đức tin Kitô giáo tuyên xưng: CHÚA GIÊSU KITÔ, CON THIÊN CHÚA là «THIÊN CHÚA THẬT BỞI THIÊN CHÚA THẬT… Đồng bản thể với Đức Chúa Cha» (Kinh Tin Kính).

 Đó là điều lạc giáo Ariô không chấp nhận, khi chối bỏ thần tính của Đức Giêsu Kitô và đã bị Công đồng Nixêa (325) lên án. Trái lại, người tín hữu cần bén rễ sâu trong Sự Thật căn bản này để được ơn cứu độ.

Tước hiệu CON THIÊN CHÚA dành cho Chúa Giêsu được loan báo trước hết cho Đức Trinh Nữ Maria (x. Lc 1,35). Chính Thiên Chúa Cha, khi Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giocđan và biến hình trên Núi Hiển Dung, đã long trọng xác nhận: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,17; 17,5). Đức Giêsu là Sự Thật (x. Ga 14,6), đã sống và đã chết, để làm chứng cho Sự Thật (x. Ga 18,37). Sự Thật này, Ngài đã nói lên rõ ràng (x. Ga 10,30.36). Bởi vậy, tuyên xưng: “ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ CON THIÊN CHÚA” là điều kiện để được trở thành kitô hữu, qua Phép Thánh Tẩy. Đó là trường hợp viên thái giám của Nữ hoàng nước Êthióp.

Trong cuộc gặp gỡ do Chúa an bài, sau khi Tông đồ Philiphê loan báo cho ông Tin Mừng Đức Giêsu, ông đã muốn bày tỏ niềm tin: “Dọc đường, các ông tới một chỗ có nước, viên thái giám mới nói: Sẵn nước đây, có gì ngăn trở tôi chịu phép rửa không? Ông Philiphê đáp: “Nếu ngài tin hết lòng thì được”. Viên thái giám thưa: “TÔI TIN ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ CON THIÊN CHÚA”. Ông truyền dừng xe lại… và ông Philiphê làm phép rửa cho ông” (Cv 8,35-38). Cũng vậy, Thánh Phaolô, sau biến cố ân huệ được gặp Đức Giêsu Phục sinh trên đường Đamát, một khi đã được lãnh nhận phép rửa, đã trở thành chứng nhân của Ngài. Quả thật: “Ông ở lại Đamát với các môn đệ mấy hôm, rồi lập tức ông bắt đầu rao giảng Đức Giêsu trong các hội đường, rằng NGƯỜI LÀ CON THIÊN CHÚA” (Cv 9,20). Lời tuyên xưng này sẽ được Phaolô tiếp tục triển khai, khi trình bày: Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa… nhưng đã trở nên giống phàm nhân, để cứu chuộc nhân loại (x. Pl 2,6-7). Đây là chân lý trọng tâm, là ân huệ khởi đầu của niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, tức là không chỉ xưng ngoài miệng, nhưng là tiếp nhận Ngài vào tâm hồn và cuộc sống (x. Ga 1,12; Ep 3,17). Quả là một tiến trình Bén rễ sâu trong Đức Giêsu Kitô, và nhờ ơn sủng của Ngài tác động, dẫn đến ơn hiệp thông với Thiên Chúa, vì: “Hễ ai tuyên xưng ĐỨC GIÊSU LÀ CON THIÊN CHÚA, thì Thiên Chúa ở lại trong người ấy và người ấy ở lại trong Thiên Chúa” (1Ga 4,15). Tuy nhiên, niềm tin chân thật trọn vẹn về Đức Giêsu CON THIÊN CHÚA luôn bao gồm thần tính và cả nhân tính của Ngài.

 

ĐỨC GIÊSU KITÔ: “CON LOÀI NGƯỜI”

Danh hiệu CON LOÀI NGƯỜI (Filius hominis), thuộc về thuật ngữ Kinh Thánh dùng để tô đậm thực chất của một đối tượng, vì thế, nơi đây thuật ngữ “Con loài người” được hiểu là con người đích thực. Lm John A. Hardon ghi nhận: “Tước hiệu này của Đức Kitô được dùng nhiều nhất trong Tân Ước, xuất hiện 82 lần và chỉ trừ một lần trong (Cv 7,56), còn tất cả đều ở trong Tin Mừng. Là một tước hiệu của Đấng Mêsia (Đn 7,2-14), nó cho biết sự siêu việt của Đấng Cứu Thế, đồng thời NHẤN MẠNH TỚI NHÂN TÍNH của Ngài” (TỪ ĐIỂN CÔNG GIÁO Phổ Thông, tr. 92). Ngôi Lời đã làm người, mang Thánh Danh GIÊSU, trước hết được gửi xuống từ trời, hàm chứa một sứ vụ trọng đại được Tin Mừng ghi rõ: “Vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Cũng trong ngữ cảnh này, Thánh Matthêu còn ghi thêm tước hiệu EMMANUEL, trích dẫn từ ngôn sứ Isaia (x. Is 7,14). Vậy, để triển khai, chúng ta hãy dừng lại ở hai tước hiệu quan trọng này của Chúa Giêsu Kitô.

 

NGÀI ĐƯỢC GỌI LÀ EMMANUEL

Trong Tình Yêu cứu độ, Chúa Giêsu, Đấng Emmanuel, không những hiện diện với con người mà còn hòa nhập trọn vẹn với kiếp nhân sinh. Quả thật, “Ngôi Lời đã trở thành xác phàm” (Ga 1,14), “đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,7). Tin Mừng ghi lại khá chi tiết về tông tích của Chúa Giêsu: Ngài đã sinh ra, đã lớn lên về mặt thể lý cũng như tâm lý, từng trải qua tình trạng đói khát, mệt mỏi, có lúc Ngài đã khóc hoặc đã bày tỏ vui mừng, nói tóm lại, Ngài đã sống trọn kiếp phàm nhân, “đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4,15). Trước sự tự hạ, “tự hủy” (kenosis) của Con Thiên Chúa làm người, con người, với lý lẽ tự nhiên, không dễ gì chấp nhận, do đó đã phát sinh lạc giáo “Ảo Thân Thuyết” chủ trương: Đức Giêsu chỉ mặc lấy một thân xác ảo mà thôi (x. NIỀM TIN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO, tr. 490). Vì thế, ngay từ đầu, Thánh Gioan Tông đồ đã phải cảnh giác các tín hữu về lạc thuyết này và coi đó là một lập trường “phản Kitô”: “Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra Thần Khí của Thiên Chúa: Thần Khí nào TUYÊN XƯNG ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ ĐẤNG ĐÃ ĐẾN VÀ TRỞ NÊN NGƯỜI PHÀM, thì Thần Khí ấy bởi Thiên Chúa… (nếu không), đó là thần khí của tên phản kitô” (1 Ga 4,2). Đây là chân lý nền tảng liên quan đến công trình cứu độ, vì thế, trong suy tư thần học về nhân tính nơi Ngôi Lời Nhập thể, các Giáo Phụ đã đi đến hệ luận: Những gì Đấng Cứu Thế tiếp nhận thì mới được cứu chuộc (non redemptum nisi assumptum). Để tỏ bày cho con người tình yêu cứu độ, Chúa Giêsu đã ưu tiên tự dành cho mình các tước hiệu đầy ý nghĩa: Ngài tự nhận là «Mục tử nhân lành» (Ga 10,11.14) yêu thương săn sóc đoàn chiên, “gọi đích danh từng con chiên” và yêu thương đến độ «hiến mạng vì đoàn chiên» (x. Ga 10,1-25). Đối với các môn đệ, Ngài gọi họ là các “bạn thiết” (x. Ga 15,15), Ngài còn gọi họ là «anh em» (x. Ga 20,17). Hơn nữa, vốn là Chúa và là Thầy, nhưng Ngài đã sống giữa họ như một người phục vụ, như “kẻ hầu bàn” (x. Lc 22,27); và còn quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ (x. Ga 13,4-14). Quả thật, bằng cuộc sống yêu thương khiêm hạ, Chúa Giêsu, Đấng Cứu độ, đã thực hiện điều Ngài tuyên bố khi bước

vào trần gian: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá

chuộc muôn người” (Mt 20,28). Vì thế, chúng ta được mời gọi tiếp nhận mối tình thần linh tuyệt vời Thiên Chúa dành cho con người dưới sắc thái đa dạng phong phú của tình nhân loại, để từ đó bén rễ sâu trong Đức Giêsu Kitô, chúng ta trở thành chứng nhân của Ngài (x. Cv 1,8), nhờ kết hợp trong tình yêu với Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ.

 

DANH THÁNH NGÀI LÀ GIÊSU

Thánh danh Giêsu mới thực là tên dành cho Con Trẻ sẽ sinh ra, theo lệnh truyền cho Giuse là gia trưởng, với ý nghĩa được xác định, “vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Điều đó nói lên sứ vụ chính của Chúa Giêsu qua hiến tế VƯỢT QUA, được coi là cao điểm của công trình Cứu Độ. Đây là căn nguyên phát sinh nơi ta niềm tin, vì thế, chúng ta được mời gọi đăm nhìn: “Mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa” (Dt 12,2). Quả thật, Thập giá của Chúa Giêsu đã được liên kết với tội lỗi của con người: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính” (1Pr 2,24). Đức Giêsu đã hòa nhập với thân phận con người tận đáy vực sâu của thảm trạng tội nhân, đến nỗi Kinh Thánh quả quyết: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2Cr 5,21). Liên quan đến hiến tế Thập giá, Tân Ước còn dành cho Chúa Giêsu các tước hiệu: «Thượng tế tối cao» (Dt 3,1; 4,14). «Trung gian duy nhất» (1Tm 2,5), «Đấng Hòa giải chúng ta với Thiên Chúa» (Rm 5,11). «Chiên hiến tế» (Kh 5,12; 1Cr 5,8). Quả thật, trên thập giá, để thể hiện Tình-Yêu-đến-cùng, Ngài đã chịu khổ đau tột độ, trong tình trạng hoàn toàn bị bỏ rơi (x. Mt 27,46). Nhưng Ngài đã chấp nhận “tự hiến tế… để xóa bỏ tội lỗi muôn người” (Dt 9,28). Như vậy, Chúa Giêsu đã hoàn tất kế hoạch của Thiên Chúa Cha và thể hiện Tình Yêu triệt để đối với loài người. Vì đã bén rễ sâu trong Tình Yêu của Chúa Giêsu, Thánh tử đạo tiên khởi Stephanô, trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy linh hồn con” (Cv 7,60). Cả người trộm lành cũng được ơn, từ trên khổ giá, đã khấn xin với Chúa: “Ông Giêsu ơi! Khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi” (Lc 23,41). Đặc biệt, truyền thống kitô giáo Đông Phương vẫn thực hành “Kinh Nguyện Chúa Giêsu” rất được phổ biến. Tuy nhiên, cần ghi khắc sự thật quan trọng này: Mầu nhiệm VƯỢT QUA cứu độ của Chúa Giêsu bao gồm Hiến tế Thập giá luôn gắn liền với vinh quang Phục sinh, như hai mặt của một đồng tiền. Bởi vì,“Chúng ta đã nên một với Đức Kitô, nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại” (Rm 6,5; x 2 Tm 2,11). 

Vì thế, để bén rễ sâu trong Đức Giêsu, chúng ta luôn gắn bó với Chúa Giêsu Khổ nạn và Phục sinh: «Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi» (2 Cr 4,10). Nhờ đó, người tín hữu cảm nhận được Tình Yêu cao cả của Chúa Giêsu như một thúc bách để sống cho Ngài, vì nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, đã được phúc thuộc về Ngài. Đó là xác tín Thánh Phaolô đã chia sẻ: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng: Nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết. Đức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2 Cr 5,14-15). Sự sống lại được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô, cũng như nơi chúng ta là do quyền năng của Chúa Thánh Thần (x. Rm 8,11). Vì vậy, thật là ý nghĩa, theo Tin Mừng Thánh Gioan, Mầu nhiệm Vượt Qua được hoàn thành với việc trao ban Thần Khí: “Chúa Giêsu nói: ‘Thế là đã hoàn tất’! Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí” (Ga 19,30). Quả thật, Thần Khí là Tặng Ân của Chúa Kitô Phục sinh. Vào ngày thứ nhất trong tuần khi tỏ mình cho các môn đệ, Chúa Giêsu đã làm một động tác đầy ý nghĩa: “Ngài thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22); như vậy, được thực hiện điều đã được báo trước về tặng ân “Thần Khí mà những kẻ tin vào Ngài sẽ lãnh nhận”(Ga 7,38-39). Chính Thánh Thần được trao ban để hoàn thành ơn cứu độ, khởi đầu với ơn tái sinh (x. Ga 3,5); vì thế, Giáo Hội tuyên xưng: “Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống”. Ngài cũng là Thánh Thần đổ tràn tình yêu vào lòng chúng ta (x. Rm 5,5); Thánh Thần ban sức mạnh (x. Cv 1,8); Thánh Thần dẫn đến Sự thật toàn vẹn (x. Ga 16,13). Thánh Thần được trao ban để ở trong chúng ta LUÔN MÃI (x. Ga 14,16). Đặc biệt, Ngài là Thánh Thần nghĩa tử làm cho chúng ta trở thành con Thiên Chúa mà kêu lên Abba! Cha ơi! (x. Gl 4,4-6). Chính Ngài hướng dẫn chúng ta sống xứng với chức vị được làm con Thiên Chúa (x. Rm 8,14-15) thể hiện cho ta ơn Hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi (x. 2 Cr 13,13; Ep 2,18). Đồng thời, Ngài cũng là Thánh Thần tạo Hiệp nhất, để tất cả nên một trong Đức Kitô (x. Ep 4,4-5). Hiệp Thông và Hiệp Nhất là “hồng ân rất quý báu và trọng đại” (x. 2 Pr 1,4), nhưng, con người cần thể hiện ân huệ này nơi bản thân qua việc bén rễ sâu trong tình mến.

 

II-THỰC HIỆN BÉN RỄ SÂU XUYÊN QUA TÌNH MẾN.

Chính vì yêu thương, Chúa Giêsu Kitô mời gọi chúng ta đến với Ngài, bước theo Ngài trong cuộc sống. Tuy nhiên, Ngài xác định: Để theo Ngài, nhất thiết phải “TỪ BỎ CHÍNH MÌNH” (x. Lc 9,23), nghĩa là từ bỏ “cái tôi ảo” hầu có được cái tôi đích thực trong Đức Kitô (x. Gl 2,20), để thực hiện lộ trình theo Chúa và bén rễ sâu trong Ngài. Con người khi khẳng định chính mình, có nguy cơ bị chi phối bởi dục vọng CHIẾM ĐOẠT qua lòng tham và THỐNG TRỊ qua quyền lực. Đề tài này được các nhà tâm lý cũng như tu đức phân tích rộng rãi, cả trong chiều sâu tâm lý và tâm linh. Đây chỉ xin nêu một vài yếu tố liên quan đến “cái tôi” phải từ bỏ. Đó chính cái tôi giả tạo, con người tự phóng hình ảnh mình vào tấm gương tâm thức ảo để tự say ngắm mình, như chuyện kể về Narcisse trong huyền thoại. Vì thế, từ bỏ đây có nghĩa là đập tan cái ảo ảnh tự cao tự đại. ĐTC Bênêđictô XVI, trong Sứ điệp Ngày Truyền Thông Xã hội 2011, đã cảnh giác về xu hướng quy ngã của con người “tự mãn”, hoặc tự phô trương, để “kiến tạo một cái tôi công cộng giả tạo cho mình”. Còn cha H.M. Nouwen, một tác giả đã viết nhiều sách có giá trị về đời sống tâm linh, lại nói nhiều về “cái tôi cạnh tranh” cần được hoán cải nhờ Đức Kitô. “Nhờ căn tính mới này mà được giải thoát khỏi lòng tham lam và ham mê quyền lực” (Henri M. Nouwen. Lòng Thương Xót. Một suy tư về đời sống kitô hữu, tr.37). Vậy điều cần thiết là bỏ đi các trở ngại, mà trở ngại lớn nhất vẫn là cái tôi giả tạo, hiển hiện rất đa dạng, như những ngẫu tượng cần từ bỏ, để thực sự quay về với Thiên Chúa hằng sống và chân thật (x. 1 Tx 1,9). Vì vậy, Thánh Nicolas de Flue đã dâng lên Chúa lời cầu rất thiết thực: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, xin cất đi tất cả những gì làm con xa Chúa… Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, xin giải thoát con khỏi chính mình con để tận hiến cho Chúa” (GLHTCG 226). Đó là CHỌN LỰA CĂN BẢN, vì Thiên Chúa đã phú trao cho con người ân huệ TỰ DO, với sự tôn trọng và tin tưởng, nhưng không tránh khỏi một “liều lĩnh” nào đó. Bởi vậy, vì yêu thương, Thiên Chúa Toàn Năng chấp nhận trở thành “Thiên Chúa Kiên Nhẫn” (x. Rm 15,5). Ngài đến gõ cửa nhà ta và chờ đợi… (x. Kh 3,20). Thánh Bênađô đã khéo trình bày về mối tương giao mến yêu nầy: “Khi Chúa yêu ta, chính là để được ta kính mến lại. Nhưng nếu Chúa yêu ta để được ta kính mến lại, là vì Chúa biết rằng, lòng kính mến đó mưu hạnh phúc cho kẻ kính mến Ngài. Ôi ngọt ngào thay! Quý trọng thay! Ôi mãnh lực của tình yêu” (1001 Danh Ngôn Các Thánh. tr.17 n.40).

Về sức mạnh Tình Yêu của Thiên Chúa “giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta” (Ep 2,4), Kinh Thánh trình bày như một “quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, mà Người đã biểu dương nơi Đức Kitô” (Ep 1,19-20). Thánh Phaolô đã chia sẻ cảm nghiệm sâu xa của Ngài về Tình Yêu kỳ diệu của Chúa Giêsu Kitô: “Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào CON THIÊN CHÚA, Đấng đã YÊU MẾN TÔI và HIẾN MẠNG VÌ TÔI”. Đây là một trải nghiệm đích thân về ĐỨC GIÊSU KITÔ CON THIÊN CHÚA, về TÌNH YÊU CỦA NGÀI và về bằng chứng lớn lao nhất là HIẾN MẠNG VÌ YÊU. Cảm nhận này tác động mãnh liệt nơi Phaolô đến độ trở thành một thôi thúc (x. 2 Cr 5,14), hơn nữa, như một thách đố táo bạo trước mọi thù nghịch đủ loại, nhưng luôn với xác tín: “Chúng ta toàn thắng tất cả nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” (Rm 8,32.35-39). Tuy nhiên, để nhận thức đầy đủ về Tình Yêu của Đức Kitô trong mọi chiều kích, chúng ta cần đến tác động của Thiên Chúa qua Thần Khí của Người. Chính vì thế, Thánh Phaolô đã cầu nguyện: “TÔI quỳ gối trước mặt Chúa Cha, là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất. Tôi nguyện xin Chúa Cha thể theo sự phong phú của Người là Đấng vinh hiển, ban cho anh em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng. Xin cho anh em nhờ lòng TIN, được Đức Kitô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được BÉN RỄ SÂU và xây dựng vững chắc trên ĐỨC ÁI, để cùng toàn thể dân thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài, rộng, cao sâu, và nhận biết tình thương của Đức Kitô, là tình thương vượt quá sự hiểu biết. Như vậy anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa” (Ep 3,14-19). Với nhận thức về chiều kích siêu vời ấy, Thánh Tông đồ Gioan chia sẻ với chúng ta chứng từ về Tình Yêu của Thiên Chúa:“Chúng ta đã BIẾT Tình Yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã TIN vào Tình Yêu đó. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU” (1Ga 4,16). Tình Yêu của Thiên Chúa nhiệm mầu vì chính Thiên Chúa luôn là Mầu nhiệm siêu vời đối với chúng ta. Vậy, với ánh sáng của niềm tin, trong tiến trình bén rễ sâu xuyên qua tình mến, đặc biệt trong hiệp thông với Hội Thánh, tức là “với toàn thể dân thánh”, chúng ta hãy tìm ghi nhận hiệu quả về các chiều cao, sâu, dài rộng của Tình Yêu Đức Giêsu Kitô. Trước hết, về CHIỀU CAO: vì Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật, chính Ngài dẫn chúng ta đến ân huệ cao vời là được hiệp thông với Chúa Cha, như Ngài đã ngỏ lời với Chúa Cha: “Để tình Cha đã yêu thương Con, ở trong họ, và Con cũng ở trong họ nữa” (Ga 17,26), về CHIỀU SÂU: vì Đức Giêsu Kitô đã làm người, đã tự hạ hòa nhập với kiếp phàm nhân, nhất là vì Ngài đã tự hiến tế trên thập giá vì chúng ta, nhờ đó, chúng ta được trở nên công chính (cf 2 Cr 5, 21; 1 Pr 2,24). Hơn nữa, với bản tính là “THẦN-NHÂN” (Homo-Deus), Ngài thông ban cho con người và cuộc đời nhân thế một giá trị thần linh vĩnh cửu. Vì vậy, Công đồng Vaticanô II đã xác nhận về hiệu quả của mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể:“Chính Con Thiên Chúa, khi nhập thể, một cách nào đó đã kết hợp với tất cả mọi người. Người đã làm việc với bàn tay con người, đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu mến bằng quả tim con người. Sinh bởi Trinh Nữ Maria, Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng ta, giống như chúng ta mọi sự, ngoại trừ tội lỗi… Mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập thể… và bí ẩn về đau khổ và sự chết cũng được sáng tỏ nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Kitô” (GS 22). Tiếp đến, Kinh Thánh nhiều lần xác định: “Chúa Kitô là “Anpha và Ômêga, là Đầu và Cuối, là Khởi nguyên và Tận cùng” (Kh 22,13; 1.8; 21,6). Chính đó là CHIỀU DÀI bao quát của Tình Yêu Đức Kitô. Vì nhận thức mình được bao bọc trong Tình Yêu muôn thuở ấy, Thánh Nữ Têrêxa HĐGS đã cảm nhận cuộc đời mình như “một khoảnh khắc giữa hai Vĩnh Hằng” (un instant entre deux Eternités). Vì thế, Thánh vịnh 135 mời gọi chúng ta cả trong mỗi tình tiết của cuộc đời, hãy hát lên lời ca: “Vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn Tình Thương”. Và cuối cùng, về CHIỀU RỘNG của Tình Yêu cứu độ, Chúa Giêsu đã thực hiện bằng cách đã phá đổ các bức tường ngăn cách, và “trên thập giá, Ngài đã tiêu diệt sự thù ghét” (Ep 3,16). Quả thật, Ngài đã chấp nhận chết đi để “quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối”, và cụ thể, với ân huệ Phục sinh, Ngài đã ban Thánh Thần tràn đổ Tình Yêu Thiên Chúa vào lòng chúng ta (x.Rm 5,5). Chính Chúa Giêsu Kitô, là Đấng Emmanuel, đã trở thành hiện thân Tình Yêu.

 Thiên-Chúa -ở-cùng-chúng- ta, liên kết tất cả Nên Một trong Ngài (x. Cl 3,11). Bởi vậy, Đức Kitô tha thiết mời gọi chúng ta “hãy Ở LẠI TRONG NGÀI… hãy Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU CỦA NGÀI” (Ga 15,2.9). Và để thực hiện “ở lại” này, chúng ta cần tận dụng những gì Ngài đã trao ban để ta được sống nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, hầu đạt tới hiệp nhất như Ngài tha thiết ước mong (x. Ga 17,11.21-23). Đó là tiếp nhận Lời hằng sống (x. Ga 6,63), Ánh sáng ban sự sống (x. Ga 8,12), là lãnh nhận Thần Khí, Mạch Nước hằng sống (x. Ga 7,38), nhất là tiếp nhận Bánh hằng sống (x. Ga 6,35.41), vì Chúa Giêsu đã xác nhận “Tôi là bánh hằng sống… và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống…. Ai ăn thịt và uống máu tôi thì Ở LẠI trong tôi và tôi Ở LẠI trong người ấy… Chính ân huệ ở lại này thông ban cho chúng ta nguồn sống thần linh từ Thiên Chúa Cha: “Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,51.56.57). Sự sống ấy, Tình yêu ấy lại được thể hiện xuyên qua hiệp nhất với Thân Mình Đức Kitô là Hội Thánh. Sự hiệp nhất này cần được cụ thể hóa trong tình yêu huynh đệ kitô là nét đặc thù của các môn đệ Chúa Giêsu (x. Ga 13,35). Đây là Giới Răn Mới của Chúa Giêsu: “Anh em hãy yêu thương nhau, NHƯ Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34; 15,12); một Tình Yêu mang đậm nét Kitô là khiêm hạ (x. Pl 2, 6-7; Lc 22,27) và tự hiến đến hy sinh chính mình (x. Ga 15,13; 1Ga 3,16), với điều kiện thực hiện lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Ở LẠI TRONG NGÀI… TRONG TÌNH YÊU CỦA NGÀI” (Ga 15,2.9).

 

LỜI KẾT

Hiệu quả của tiến trình BÉN RỄ SÂU TRONG ĐỨC GIÊSU KITÔ (x. Cl 2,6), cũng như BÉN RỄ SÂU TRONG TÌNH MẾN (x. Ep 3,17), là đích thân trải nghiệm được Tình Yêu của Chúa Giêsu Kitô, và thể hiện Tình Yêu ấy trong cuộc sống; đồng thời, cùng với Dân Thánh Chúa, hội được các chiều kích Cao, Sâu, Dài, Rộng của Tình Yêu Đức Giêsu Kitô vượt quá sự hiểu biết, dẫn vào sự viên mãn của Thiên Chúa. Đó là Tình Yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa Cha (x. Ga 15,9), đã được thể hiện qua Chúa Giêsu (x. Rm 8,39), và tràn đổ bởi Chúa Thánh Thần (x. Rm 5,5). Như vậy, kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa được thực hiện “Nhờ ân sủng Đức Giêsu Kitô, Tình Yêu của Chúa Cha trong sự Hiệp thông của Chúa Thánh Thần” (2 Cr 13,13).

Vậy, chúng ta, theo lời mời gọi của Thánh Phaolô, cùng toàn thể Dân Thánh, với “lòng chan chứa tri ân cảm tạ” (Cl 2,7), dâng lên lời “Chúc tụng Thiên Chúa là THÂN PHỤ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong ĐỨC KITÔ, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ân phúc của THÁNH THẦN… Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu” (Ep 1,3.5-6).

Hướng về Đức Trinh Nữ Maria, chúng ta được chiêm ngắm nơi Ngài mô hình trọn hảo sống ân huệ Bén Rễ Sâu trong Đức Giêsu Kitô, và trong Tình Mến, vì Ngôi Lời đã Nhập Thể từ trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria; hơn nữa đã trưng dụng Ngài làm Đấng Đồng Công cộng tác trong chương trình cứu chuộc loài người. Vì thế, cùng với Đức Maria, Thân Mẫu Đức Kitô Giêsu, cũng là Hiền Mẫu của Hội Thánh, của mỗi chúng ta là chi thể, chúng ta dâng lên Chúa lời vinh tụng cảm mến: “Xin tôn vinh Đấng có thể dùng quyền năng đang hoạt động nơi chúng ta, mà làm gấp ngàn lần điều chúng ta dám cầu xin hay nghĩ tới, xin tôn vinh Người trong Hội Thánh và nơi Đức Kitô Giêsu đến muôn thuở muôn đời. AMEN” (Ep 3,20).

 

Mùa Hiện Xuống 2011     

 

 

 

 

 

 

ĐỒNG HÌNH ĐỒNG DẠNG

VỚI ĐỨC KITÔ

 

M.Théophane Ven Phạm Hữu Ái

 

Michel Henry, triết gia người Pháp của thế kỷ XX, trong cuốn sách nhan đề “C’est moi la vérité, pour une philosophie du Christianisme” đã phàn nàn về một thực tế là người ta sống với sự sống của mình, nhưng lại quên lãng chính sự sống đó. Chính việc quên lãng điều thiết thực nhất vốn làm cho mình hiện hữu, nên con người quên mất Đấng là nguồn sự sống. Đó là một nghịch lý. Nghịch lý mà nó vẫn tồn tại trong kiếp sống làm người, khiến cho con người không bao giờ cảm thấy thỏa mãn.

Thật ra, sự vô tri này đã được thánh Gioan chỉ ra trong lời mở của cuốn Tin Mừng thứ tư: “Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại …Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,3.11). Nhận ra sự sống là điều quan trọng, nhưng nhận biết nó một cách hiện sinh thì quan trọng hơn. Nói dễ hiểu: làm sao chúng ta có được sự sống và sống?

Vấn đề thứ nhất, chúng ta chẳng cần phải đặt ra, vì sự sống đã được ban tặng cho chúng ta cách nhưng không qua Đức Giêsu. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là sống thế nào, bởi lẽ sự sống ấy là ân huệ, nhưng cũng là một lời mời gọi. Vì thế, nó mang trong mình một yêu sách, nghĩa là điều kiện cần và đủ khả dĩ cho chúng ta sống và sống dồi dào. Yêu sách ấy, theo thánh Phaolô không gì khác hơn là “nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” (Rm 8,29; Pl 3,10).

Kiểu nói “Đồng hình đồng dạng” không hàm ý một sự đồng hóa, nhưng là sự hoàn thành của một tiến trình khẩn thiết mà Thiên Chúa đã “sắp sẵn cho những ai tin kính vào Ngài” để được ơn cứu thoát, là sự sống đời đời. Tiến trình này dưới cái nhìn của Tin Mừng chính là “sequela Christi”: Bước theo Đức Kitô. Bước theo Đức Kitô đồng nghĩa với việc tiến tới một sự thật toàn vẹn và đạt tới mức viên mãn của sự sống: “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Theo truyền thống Kitô giáo, bước theo Đức Kitô là một lời đáp trả cho lời mời gọi: “Hãy theo Thầy” (Mt 4,19). Lời đáp trả này không nằm trên bình diện duy lý, nhưng là một cách sống, một cách diễn tả lòng trung tín với vị thầy của mình. Nơi tư tưởng thánh Phaolô, bước theo Đức Kitô bao gồm hai khía cạnh: hiện diện trong Đức Kitô và bắt chước Ngài. Trong khi đó, với thánh Gioan, “bước theo” đồng nghĩa với việc hiệp thông thâm sâu với Đức Kitô phục sinh và vinh quang (x. Ga 12,26), nghĩa là hiệp thông với Chúa qua việc tin vào lời của Ngài và vào Thần Khí (x. Ga 14,15-17; 25,26). Điều đó đi liền với việc khướt từ bóng tối để bước vào ánh sáng của sự sống (x. Ga 8,12; 12,46). Hai cái nhìn trên tuy có khác, nhưng bổ túc cho nhau và cho chúng ta có một cái nhìn hoàn hảo hơn về cùng một thực tại: “theo” để “nên giống” Chúa Kitô hơn.

 Theo các nhà Kinh Thánh, hạn từ “trong Đức Kitô” được sử dụng trên 160 lần nơi Tân Ước. Trong các thư, khi sử dụng hạn từ này, thánh Phaolô luôn đặt trong tương quan với ơn cứu độ và trong tương quan với Thiên Chúa (x. Ep 1,3-5; 2,16; 2 Cr 5,18-19).

 Dưới cái nhìn của nhiệm cục cứu độ, “hiện diện trong Đức Kitô” chính là hiệp nhất với Ngài. Thế nhưng khi nói “hiện diện trong” là nói đến một sự hiệp thông trong sự sống và với sự sống. Ở đây, Đức Kitô không chỉ là con đường đưa đến sự sống, mà chính là sự sống, vì Ngài với Cha là một (x. Ga 10,30). Như vậy, “hiện diện trong” là sống chính sự sống của Thiên Chúa. Làm sao có thể sống chính sự sống của Thiên Chúa, nếu chưa cùng chết đi trong cái chết của Đức Kitô (x. Pl 3,10). “Dìm mình vào trong cái chết của Đức Kitô” ngoài ý nghĩa cởi bỏ con người cũ, con người xác thịt; nó còn có một nghĩa khác là sự liên đới. Đức Kitô chịu chết không phải vì để chết, nhưng chịu treo trên thập giá để lôi kéo mọi người lên với Ngài, và những ai tin vào Ngài sẽ được ơn cứu độ (x. Ga 8,32).

Ý tưởng “cởi bỏ con người cũ” bàng bạc khắp nơi trong tư tưởng của thánh Phaolô như là một điều kiện cần thiết để nhận được sự sống. Việc cởi bỏ con người cũ là một phần của việc biến đổi trong tiến trình gồm 3 bước mà Thánh nhân đề cập đến trong Rm 6,3-4: Dìm mình vào nước thanh tẩy- cùng được mai táng với Đức Kitô-cùng được sống lại với Người. Trong thực tế, người ta thường xem nhẹ bước thứ nhất mà chỉ chú trọng đến giai đoạn cuối cùng. Đây là hệ quả đương nhiên của việc quá đề cao thần học đi xuống và cái nhìn duy đức tin. Theo đó, việc bước theo Chúa Giêsu là một ân huệ và con người chỉ có thể có sự sống qua và trong Đức Kitô nhờ lòng tin … dĩ nhiên, chúng ta không phủ nhận chiều kích đi xuống, nhưng phải có một cái nhìn dưới lăng kính của mầu nhiệm cứu độ: con người được biến đổi trong thân phận phàm nhân để thành con người-Chúa. Chân nhận điều này, trong khảo luận “Thiên Chúa là tình yêu”, thánh Bênađô nhấn mạnh: con người luôn khởi đầu với xác thịt và trong xác thịt, nên tình yêu đầu tiên nơi con người đối với Thiên Chúa cũng là tình yêu xác thịt. Biểu tượng của tình yêu này là vị lợi. Con người hướng mình về những gì có lợi cho chính mình và cố gắng làm thỏa mãn vì cái lợi đó. Đó là sự thật mà chúng ta không thể tránh né. Vì thế, về phía con người việc cởi bỏ con người cũ luôn luôn phải là bước đầu tiên và cần thiết trong việc trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô.

Bỏ cái lợi, không nhắm đến cái lợi có lẽ là một điều phi thực tế. Bởi lẽ, Đức Phật khuyên chúng sinh phải phá chấp qua việc sống vô cầu là điều kiện để chúng sinh được siêu thoát. Lời dạy ấy xem ra khó thực hiện. Vì một điều hiển nhiên: Đã là con người không thể không có nhu cầu; đã là con người, không ai thoát được hỉ, nộ, ái, ố …Chúng ta có thể xem như nó không tồn tại để có cuộc sống an vui và một tâm hồn bình an. Cách thức đó, xem ra thực hiện được, nhưng nó chỉ nằm ở bề mặt, không thể đưa ra một lời giải đáp triệt để. Trong khi đó, Tin Mừng không khuyên ta sống với cái “vô cầu”, trái lại hướng chúng ta đến cuộc tìm kiếm kho tàng vô giá hơn mà mối mọt không thể phá hoại được (Mt 6,19-20). Kho tàng đó theo thánh Phaolô là Đức Kitô. Bởi thế, ngài luôn lao mình về phía trước để chiếm được mối lợi tuyệt vời là Đức Kitô.

Bỏ cái lợi ít hơn để chiếm lấy Đức Kitô, cái lợi tuyệt vời là một hành vi nằm ngoài khả năng của con người. Vì vậy, cởi bỏ con người cũ vừa là hành vi tự do, vừa là một ân huệ đến từ Thiên Chúa.

Chúng ta gọi đó là ân huệ vì việc cởi bỏ con người cũ không đến từ sáng kiến của chúng ta mà đến từ tình thương của Thiên Chúa và chúng ta được mời gọi “ở trong Đức Kitô”. Với nghĩa này, việc “ở trong” không theo nghĩa bản thể mà theo nghĩa tương quan. Lúc đó, “ở trong” có nghĩa là “nên một”. Đức Thánh Cha Benedicto XVI, trong cuốn sách: “Đức tin Kitô giáo, hôm qua và hôm nay” đã phân tích rất tỉ mỉ mối tương quan giữa Chúa Cha và Chúa Con. Qua đó, ngài trình bày mối tương quan giữa Đức Kitô và các kitô hữu. Chúa Con nên một với Chúa Cha và Chúa Con “không thể tự mình làm bất cứ điều gì” (Ga 5,19.30). Theo ngài, câu nói này cho thấy Chúa Con như thể hoàn toàn bất lực. Ngài không có gì để làm của riêng mình và chính vì là con, nên Ngài làm được điều gì là đều do bởi Cha [1]. Từ “con” ở đây hoàn toàn thuần túy là tương quan, hoàn toàn quy chiếu về Cha và Ngài luôn ẩn mình nơi Cha, nên một với Cha của Ngài. Như vậy, theo đức đương kim Giáo hoàng, chữ “con” trong thần học của thánh Gioan bao hàm một sự khai mở: Sống hoàn toàn “bởi” và “cho”. Từ đây, có thể nhìn thấy mối tương quan giữa Chúa Kitô và kitô hữu. Cũng như Đức Kitô nên một với Cha để luôn sống trong sự khai mở thì kitô hữu “hiện diện trong Chúa Kitô” đương nhiên sẽ sống với chiều kích khai mở đó: “bởi” và “cho”, vì họ cũng nên một với Đức Kitô trong tương quan. Vì thế, dấu chứng để thấy các kitô hữu sống mối tương quan này là họ cũng có khả năng khai mở với người khác. Nói khác đi, một khi “hiện diện trong Đức Kitô”, hệ quả đương nhiên là sự hiệp nhất với các chi thể trong thân mình Ngài (x. Ep 4,16). Khía cạnh thứ hai của hạn từ “trong Đức Kitô” diễn tả sự hoàn tất kế hoạch của Thiên Chúa[2] . Với nghĩa này, từ “trong” không còn có nghĩa là tương quan hay sự sống, nhưng nó hàm ý “qua” và “với”: qua Đức Kitô và với Đức Kitô. Như vậy, trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Đức Kitô được đặt làm Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và con người. Đức Kitô là trung gian và việc chúng ta được mời gọi ở “trong Ngài” diễn tả một sự tuyển chọn và tiền định của Thiên Chúa để thông ban cho chúng ta tình yêu (x. Rm 8,38; 5,8-10), ánh sáng (x. Ep 5,8-14) và sức mạnh của Ngài (x. Ep 6,10) qua cuộc đối thoại được thực hiện trong Đức Kitô, con người-Chúa. “Trong cuộc đối thoại này, vấn đề không phải là nói một hay nhiều ‘điều gì đó’, nhưng là tự thông ban nơi chính Lời[3]. Theo Đức Benedicto XVI, cuộc đối thoại đã đạt đến mục đích như Thiên Chúa muốn từ trước muôn đời. Thế nhưng nó “đạt mục đích không phải vì đã truyền một khối lượng tri thức lớn hết sức có thể, nhưng là vì qua Lời đó mà Tình Yêu tỏ hiện, và trong Lời đó nhân loại được đưa vào trong mối liên hệ mật thiết với Thiên Chúa[4] . Cùng một cái nhìn với đương kim Giáo hoàng, cha Karl Rahner đã có một nhận định rất đẹp và chính xác: “(Thiên Chúa) chẳng nói thêm điều gì khác nữa, không theo nghĩa: ‘mặc dầu còn rất nhiều điều đáng nói!’, nhưng chính vì Người đã nói hết tất cả, đã trao ban tất cả nơi Người Con Chí Ái, trong người con đó, Thiên Chúa và trần gian đã nên một[5] .. Chính trong Người Con, chúng ta được mời gọi “ở trong” để nên một với Đức Kitô và nên một với Thiên Chúa, qua đó những ai “bước theo Chúa Kitô” được Thiên Chúa làm cho nên giống hình ảnh Con Ngài (x. Rm 8,29).

Việc được nên giống hình ảnh Đức Kitô không phải là một thực tại đã hình thành rồi và có tính chất cố định nhờ bí tích rửa tội như nhiều người lầm tưởng. Trái lại, “nên giống Chúa Kitô” là một thực tại đã và đang được hình thành, đang được xây dựng vì nó là đỉnh điểm của việc “bước theo Chúa”. Nên giống Chúa là nên một, nhưng không phải là đồng hóa. Chúng ta nên một với Ngài khi chúng ta “ở trong”, nhưng đồng thời chúng ta mang trong mình “cuộc thương khó của Đức Kitô” để rồi được hưởng vinh quang với Ngài. Kiểu nói “mang trong mình” nói lên đặc tính “bắt chước” mà thánh Phaolô đã triển khai rất nhiều trong các thư (x. Rm 15,3.7; 2Cr 5,14; 8,9; 10,11; Pl 2,5; Ep 5,2.25). Đây là đặc tính thứ hai của việc “bước theo Chúa Kitô”.

Đặc tính này đòi hỏi mỗi chúng ta luôn dõi theo những bước chân của Ngài. Lúc đó, Chúa Giêsu trở nên khuôn mẫu cho chúng ta bắt chước. Tuy nhiên, khuôn mẫu trong tư tưởng của thánh Phaolô không phải là một đối tượng để bắt chước như một họa sĩ họa lại một bức hình giống như hình mẫu hay như một nghệ nhân tạo nên một tác phẩm giống hệt đối tượng mà ông muốn gửi gắm. Trái lại, Đức Kitô là khuôn mẫu theo nghĩa Ngài là một chủ thể chủ động. Chủ thể chủ động vì chính Ngài gợi hứng cho lối sống của mỗi chúng ta[6]. Hình ảnh “chủ thể chủ động” ở đây không hàm nghĩa chúng ta là những chủ thể hoàn toàn thụ động. Điều này chỉ muốn nhấn mạnh một điểm căn bản nơi hướng đi trong cuộc đời của chúng ta. Hướng đi đã được Chúa Giêsu vạch ra qua cuộc nhập thể và nhập thế của Ngài. Một hướng đi mà Đức Benedicto XVI tóm kết trong hai chữ “maximum” và “minimum[7]. Nói rõ hơn, Đức Giêsu đã biến điều được xem là nhỏ nhất nơi bản thân của Ngài qua việc nhập thể để trở thành hữu ích cho toàn thể con người. Đây là hướng đi của mầu nhiệm tình yêu và chỉ qua tình yêu tự hủy, cái “minimum” mới trở thành “maximum”.

Cũng thế, việc bắt chước của chúng ta là một hành vi “tự hủy” chính mình để nối kết với Đức Kitô. Việc “tự hủy” này không lệ thuộc vào những gì chúng ta phải làm hay vào tên gọi của các công việc mình phải thực hiện, nhưng hệ tại vào việc hiện tại hóa con đường của Chúa Giêsu trong mỗi chúng ta. Con đường Chúa Giêsu và mỗi cá thể chúng ta được giao thoa trong sự hiệp nhất để biến cái “minimum” là bản thân giới hạn của mình thành “maximum” là xây dựng và thực hiện căn tính riêng mà Thiên Chúa muốn chúng ta thực hiện. Căn tính đó là gì? Đó là trở nên một con người mới theo mô hình của Đức Kitô: “bởi” và “cho”.

Bước theo Đức Kitô là “hiện diện trong” và “bắt chước” Ngài để đi đến sự hoàn thành của nó là nên “đồng hình đồng dạng” với Ngài. Nên “đồng hình đồng dạng” là một sự biến đổi triệt để từ con người “xác thịt” đến con người “thần thiêng”; từ “minimum” đến “maximum”. Ở đây, việc biến đổi từ con người “xác thịt” là biến đổi thuộc về bản thể. Biến đổi này rất cần thiết để từ đó chúng ta có một định hướng mới cho cuộc đời. Biến đổi đó cũng kéo theo một biến đổi khác là biến đổi trong tương quan. Với biến đổi trong tương quan, chúng ta nhận ra chỗ đứng của mình và hướng chúng ta đến việc chân nhận rằng “trong Đức Kitô, chúng ta hiện hữu, sống và hành động” (Cv 17,28). Bên cạnh đó, biến đổi trong tương quan cũng nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta được khuôn đúc theo Đức Kitô, nên cần phải có cuộc sống khai mở: khai mở với mình và khai mở với người khác.

Khai mở với người khác mà cụ thể là với những con người trong cộng đồng và xa hơn là cùng với Giáo Hội sống chiều kích khai mở. Theo chiều hướng này, việc “nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” còn mang chiều kích chung: chiều kích của hiệp thông trong Giáo Hội. Chúng ta chỉ có thể có một sự biến đổi để nên giống Chúa Kitô thực sự khi chúng ta biến đổi trong, với và qua Giáo Hội. Điều này đòi hỏi một niềm tin và nhất là tình yêu dưới sự hướng dẫn và ân sủng của Chúa Thánh Thần.

Chính tình yêu cho ta nghiệm thấy rằng việc nên “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” là một sự “nhận lãnh”,nghĩa là một quà tặng. Nói rõ hơn: Nên “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” trước tiên đến từ sáng kiến và tình yêu của Thiên Chúa. Nên nó là quà tặng của tình yêu Thiên Chúa. Thế mà, tình yêu không phải là thứ mà chúng ta làm ra, nó chỉ có thể lãnh nhận. Chính việc “nhận lãnh” này làm cho chúng ta được nên trọn vẹn, vì con người chỉ được nên trọn vẹn khi được yêu thương. Theo góc độ này, “nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” cũng hướng chúng ta đi trong ánh sáng của chiều kích cánh chung là chiều kích mà trong đó, theo thánh Bênađô, tình yêu nơi con người đạt đến cấp độ thứ tư là cấp độ “thần hóa”[8] .

 

Kết luận

Việc nên “giống hình ảnh Con Chúa” là sự hoàn thiện của một tiến trình khởi sự từ việc “bước theo Chúa Kitô”. Một tiến trình chỉ có thể thực hiện trọn vẹn trong niềm tin và với lòng mến. Như vậy, tiến trình này cũng là tiến trình “nhận lãnh”. Từ chối “nhận lãnh” là chúng ta bước vào vết xe đỗ của ông bà nguyên tổ. Theo đó, với nhận định của Louis Evely: “Lịch sử nhân loại rơi vào lầm lạc chỉ vì Adam hiểu sai về Thiên Chúa. Ông muốn trở nên như Thiên Chúa … Adam tưởng mình trở thành Thiên Chúa mà thực ra trở nên hoàn toàn khác Thiên Chúa. Ông rút vào cô đơn, còn Thiên Chúa là hiệp thông”[9] . Adam cô đơn vì ông lầm lạc về kiểu mẫu: ông cần phải nhận lãnh, nhưng không muốn được nhận lãnh…

 

 

 

 


 

[1] Đức Thánh Cha Benedicto XVI, Đức tin Kitô giáo, hôm qua và hôm nay, bảng dịch tiếng việt của Lm Athanasio Nguyễn Quốc Lâm và Phạm Hồng Lam, NXB Tôn giáo, năm 2009, tr. 192.

[2] Sdt, tr. 279.

[3]Sdt, tr. 280

[4]Sdt, tr. 280.

[5]Karl Rahner, Schriften zur Theologie I, Einsiedeln 1954, tr 60, trích trong “Đức tin Kitô giao, hôm qua và hôm nay” tr . 280.

[6]Dictionnaire de la vie spirituelle, Suivre le Christ, Du Cerf, 1987, tr. 1083.

[7]Benedicto XVI, Đức tin Kitô giáo, hôm qua và hôm nay, bảng dịch tiếng việt của Lm Athanasio Nguyễn Quốc Lâm và Phạm Hồng Lam, NXB Tôn giáo, năm 2009, tr. 149;164.

[8]Thánh Benađô, khảo luận “Thiên Chúa là tình yêu”, cấp độ thứ 4, bản dịch của Vp. M. Dominico Phạm Văn Hiền, tr.37.

[9]L. Evely, Manifest der Liebe. Das Vaterunser, Freiburg 1961; trích trong “Đức tin Kitô giáo, hôm qua và hôm nay”, tr . 285-286.

 

 

 

 

 

 

Đọc Lại Thông Điệp

“Đấng Cứu Chuộc Loài Người”

của ĐGH Gioan – Phaolô II

“Redemptor Hominis”

Lên ngôi giáo hoàng năm 1978 Đức Gíao Hoàng Phaolô II linh cảm rằng mình sẽ là người dẫn đầu hội thánh bước qua thiên niên kỷ thứ ba, ngài có lý khi coi triều đại của ngài như một mùa vọng,hướng về một ngày Đại Hỷ. Ngài viết: “Một cách nào đó chúng ta đang ở trong một mùa vọng mới, một màu vọng, một mùa đợi trông. Hẳn thật xưa kia Thiên Chúa đã nhiều lần và bằng nhiều cách, nói với cha ông chúng ta, qua các ngôn sứ nhưng vào những ngày cuối hết này, Ngài nói với chúng ta qua Người Con, đó là Đức Giêsu, Đấng Cứu Chuộc con người

Khi bắt đầu thông điệp với hai từ “Redemptor Hominis”, “Đấng Cứu Chuộc con người”, chân phước Gioan Phaolô II đã nói lên niềm xác tín: “Đức Giêsu Kitô là trung tâm điểm của vũ trụ và của lịch sử”. Nhưng một khi nói đến lịch sử, là khẳng định Thiên Chúa đã đi vào thế giới con người chấp nhận bị chi phối bởi thời gian. Ngài thật sự là Con Người giữa lòai người. Tất cả thông điệp nhằm khai triển những điều nhập thể và phẩm gía con người: “Vì lòai người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế” (Credo).

Qua thông điệp đầu tiên đức tân Giáo Hòang cũng bộc lộ niềm tin vo niềm tin đã có nơi Phêrô, vị Giáo Hòang tiên khởi:“Dưới gầm trời này chẳng có danh nào được ban cho con người, để nhờ đó chúng ta được cứu độ ngòai danh Đức Giêsu Kitô”(Cv 4,12). Niềm tin ấy đã làm cho Phêrô hiên ngang sau khi bị hạ nhục với trận đòn chí tử. Niềm tin ấy cũng làm cho Gioan Phaolô II luôn nở nụ cười xuyên suốt 27 năm tại ngôi giáo hòang, dù cho viên đạn của hung thủ Ali Aka đã xuyên sâu vào bụng tại công trường thnh Phêrô vào ngày 13-05-1981. Lời khích lệ mà ngài đã gióng lên vào buổi ban phép lành đầu tay chiều ngày 22-10-1978, được chứng minh qua ý chí sắc đá trước những đau khổ thể xác và tinh thần mà ngài ã phải chịu trong suốt hơn ¼ thế kỷ. “Redemptor Hominis” là khuôn mẫu, là nghị lực, là sức sống của ngài mà ngài cảm thấy gắn bó hơn bao giờ hết, đồng thời bộc lộ qua những gì ngài viết trong thông điệp mà chúng tôi xin triển khai qua bốn điểm sau đây:

– Gia sản

– Mầu nhiệm cứu chuộc của Đức Kitô

– Con người được cứu chuộc

– Giáo hội có sứ mạng nào đối với con người

 

1.Gia Sn

Đức Gioan  Phaolô  II cảm thấy vững tâm trước gia sản mà ngài được thừa kế: nào là giáo huấn của Công Đồng Vatican II, nào là giáo huấn của các vị tiền nhiệm như là Đức Gioan XXIII và  Phaolô  VI, ngài lạc quan nhìn về phía trước và như phượng hòang chấp cánh tung bay vào vòm trời hy vọng của thiên niên kỷ mới.

 

2. Mầu Nhiệm Cứu Chuộc Của Đức Kitô

Và đây mối bận tâm hàng đầu của ngài là tiếp tục giúp con người ý thức hơn về giá trị ơn cứu chuộc họ đã lãnh nhận bằng cách đâm rễ sâu vào Đấng Cứu Chuộc của mình. Câu hỏi đầu tiên hiện ra trước mắt là: Mầu nhiệm Cứu Chuộc có ý nghĩa gì đối với người được cứu chuộc? Để trả lời Đức Thánh Cha đặt vấn đề cứu chuộc vào ngay trọng tâm mầu nhiệm Đức Kitô, vì không có Đức Kitô, không ai và không tạo vật nào đã có thể hiện hữu. Ngài là Ngôi Lời, Ngài đã can thiệp vào việc sáng tạo thứ nhất của vạn vật: Gioan 1,3 “Nhờ Ngài mà muôn vật được tạo thành”. Thế nhưng con người đã sa ngã, công trình nguyên khởi ấy như đã bị hỏng. Tình thương Thiên Chúa không bao giờ chấp nhận bỏ cuộc. Do đó, công trình cứu chuộc cũng là một cuộc sáng tạo, sáng tạo mới trong Đức Kitô (x. Gl 3,39).

 

3. Con người được cứu chuộc

Để thực hiện một cuộc lột xác con người cũ, không những chúng ta phải được tha thứ khỏi tội tổ tông mà còn được chia sẻ thiên chức làm con Thiên Chúa (x. Rm 8,15.16). Làm sao điều đó đã được thực hiện?

Thưa, về phía Thiên Chúa phải có một cú nhảy từ trời xuống đất. Cú nhảy vượt qua một khoảng cách quá xa đến nỗi Phaolô dám mô tả như một sự tự hủy của Con Thiên Chúa làm người (Kenosis, Pl 2,6). Nhưng đâu là nguyên do của cú nhảy này? Đức Thánh Cha trích Gioan 3,16 để trả lời: “Thiên Chúa yếu thế con người quá đỗi, đến nỗi ban Con Một”. Tình yêu kết nối tất cả, dù cách xa nhau đến bất tận, khi tình yêu ấy trở thành nội dung của một hơn ước: Một cô nàng khố rách áo ôm ở vùng sơn cước kia nếu được ông vua nào đó say mê và cưới làm vợ, thì hẳn được nâng cao ngang hàng với ông vua để từ nay được gọi là mình. Con người được chia sẻ sự sống của Con Thiên Chúa, để rồi Con Thiên Chúa và con người trở thành mình của nhau: “Thầy là cây nho, anh em là cành” (Ga 15,3). Hay “Đức Kitô là đầu, anh em là chi thể” (Cl 1,18).

Nói tóm lại, ơn cứu chuộc thực hiện một cuộc hơn ước mới, trong đó tình thương Thiên Chúa đóng vai trị chủ chốt; còn con người được cứu chuộc, được nâng cao vượt mức đến nỗi có thể được gọi “kẻ chia sẻ cùng một bản tính thần linh” (2 Pr 1,4).

 

4. Giáo hội có sứ mạng nào đối với con người

Mầu nhiệm Đức Kitô như vừa trình bày theo Đức Gioan Phaolô II, là nền tảng, là sức bật cho sứ vụ Gio Hội. Hẳn thật Gio Hội, trước khi đi loan báo Tin Mừng cho tha nhân nên tìm hiểu họ là ai và cần mang đến gì cho họ. Công Đồng Vatican II đã mở ra một lối nhìn hết sức thông thóang, thông thóang theo nghĩa có thiện cảm với những gì tha nhân đang sống. Gương thánh Phaolô còn đó để Giáo Hội noi theo, hẳn thật khi đến thánh Athena, một thành phố đầy ắp tượng thần từ khắp nơi mang về, tạo nên cả một niềm tin tôn giáo hết sức vừa mê tín vừa phức tạp. Nhưng thánh Phaolô vẫn khám phá ra được sự hiện diện của Đấng Vô Minh, để rồi qua vị Thần Vô Minh ấy ngài chỉ cho mọi người thánh Athena biết Thiên Chúa vô hình cũng như vai trị trung gian của Đức Gisu Kitô.

Sứ mệnh Giáo Hội như thế không bị bỏ hay phá đổ, nhưng là giải phóng, một sự giải phóng mang lại tự do chân thật. Trong Galat 5,13 thánh Phaolô đã viết: “Chính để anh em được tự do mà Đức Kitô đã đến để giải phóng anh em”.

Nói rõ hơn, sứ mệnh của Giáo Hội là mang lại tự do cho con người. Bằng cách nào? Trong Ga 8,32: “Sự thật sẽ giải phóng các ngươi”. Sự thật đây chính là Đức Giêsu Kitô. Cuộc giải phóng Giáo Hội nhắm tới không do vũ khí hay quân đội, nhưng do ánh sáng Tin Mừng. Con người luôn bị trói buộc trong sự u mê của tội lỗi và tội lỗi tự bản chất là bóng tối, nên chỉ cần chiếu ánh sáng và bóng tối. Nói rõ hơn, để giải phóng con người không có cách nào khác hơn bằng việc cho họ nhận ra khuôn mặt rạng rỡ của Con Thiên Chúa làm người (x. 2 Cr 4,6).

Đức Kitô là con đường chính của Giáo Hội, đường dẫn về nhà Cha và dành cho bất cứ ai đang ở trên đường của Đức Kitô và kết hợp với Ngài. Do đó, Giáo Hội không thể bị ngăn cản bởi bất cứ uy lực nào trên đường đến với con người. Dĩ nhiên Giáo Hội không bao giờ có thể thờ ơ với con người trừ khi Giáo Hội ở ngồi con đường Đức Kitô.

Con người nói đây hẳn không phải con người trừu tượng nhưng là con người cụ thể, tại thế và mang tính lịch sử, bởi lẽ từng người một đã được bao hàm từ mầu nhiệm cứu chuộc và trao cho Giáo Hội săn sóc chăm lo từ lúc mới là thai nhi cho đến khi lìa đời. Đức Thánh Cha trích dẫn lời sau đây của Công Đồng Vatican II khi nói về hình ảnh Thiên Chúa: “Con người là thụ tạo duy nhất trên trần gian đã được Thiên Chúa tạo nên vì chính nó” (Ds số 24). Và sau đây là hệ luận đương nhiên về phẩm gía con người: Tất cả mọi con đường của Giáo Hội đều dẫn tới con người, nghĩa là con người là đối tượng được Giáo Hội quan tâm về mọi mặt, bởi lẽ con người đã được Đức Kitô cứu chuộc.

 

 

 

 

 

 

THINH LẶNG CỦA ĐỨC KITÔ 

THINH LẶNG ĐAN TU

 

Trích từ Collectanea Cisterciensia, Tome 38, 1976, 1.
Emmanuel LATTEUR OSB 

Chuyển ngữ: Phan Bảo Luyện 

 

 

I. THINH LẶNG TRONG MẦU NHIỆM CHÚA KITÔ

Khi suy nghĩ về những yêu sách của thinh lặng đan tu, chúng ta buộc phải cứu xét đến chuẩn mực cuối cùng, đó là thinh lặng của chính Chúa Kitô. Nhưng thinh lặng ghi dấu quá sâu đậm vào toàn thể mầu nhiệm Chúa Kitô nên trong khuôn khổ những trang này không thể nói gì khác ngoài những tiếp cận rất giới hạn thôi. Những tiếp cận này sẽ dần dần đưa chúng ta tới một vài phương diện quan trọng nhất nơi thinh lặng của Chúa Kitô.

Tất cả cuộc đời Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta vị trí rất lớn của thinh lặng trong toàn bộ mầu nhiệm của ngài.

 

 

1.Thinh lặng và đời sống ẩn dật.

Mặc dầu Thánh Kinh ít nói về sự thinh lặng của Chúa Giêsu, chúng ta cũng không được quên rằng Ngài đã trải qua phần lớn cuộc đời dương thế trong nếp sống thinh lặng tại Nadaret. Sự kiện đơn giản này cho chúng ta thấy thinh lặng có thể nói là bản tính của Chúa Giêsu. Ngôi Lời thành xác phàm đã giữ thinh lặng trong ba mươi năm!

 

 2.Thinh lặng chống lại ồn ào.

Trong cuộc sống công khai, Phúc Âm cho thấy Chúa Giêsu không ưa tiếng động, sự ồn ào, tiếng kêu la. Được dẫn đến với Chúa Giêsu, người bị thần ô uế nhập gào thét (Mc 1,23-24), người bị quỉ nhập ở Ghêrasa kêu lớn tiếng (Mc 5,7), thằng quỉ câm thét lên và lay đứa trẻ rất mạnh (Mc 9,26), đám đông khóc lóc kêu la ầm ĩ (Mc 5,38).

Đối lại với những tiếng ồn đó, Chúa Giêsu chỉ nói nhẹ nhàng, vắn gọn: “Câm đi!”, như Ngài bảo thần ô uế (Mc 1,24; Lc 4,35), bảo mặt hồ dội sóng (Mc 4,39) hay: “Tại sao mà ồn ào?” Mc 5,39). Khi Ngài có mặt là ồn ào bùng ra, nhưng Ngài chế ngự ngay bằng sức mạnh nhiệm mầu của thinh lặng và bình an nơi Ngài (Mc 4,39; 5,15; 6,50-51; 9,26). Tiên tri Isaia đã nói: “Ngài không kêu la, không lớn tiếng” (Is 42,2).

 

3. Thinh lặng-kín đáo.

Hoạt động công khai của Chúa Giêsu luôn luôn diễn ra rất kín đáo. Trước đám đông sửng sốt thán phục và náo nhiệt vì những phép lạ ngài làm, Chúa Giêsu lại tỏ ra chán ghét cái danh tiếng tạm bợ và rẻ tiền ấy. Ngài rất sợ những lời ca tụng của con người gây phương hại cho sứ mệnh cứu thế của mình. Khi đã chữa người mù ở Betsaiđa, Ngài bảo anh ta:  “Anh chớ vào làng!”(Mc 8,26); và Ngài bảo người bệnh phong vừa được Ngài chữa khỏi: “Anh hãy cẩn thận, đừng nói gì với ai!” (Mc 1,44); với người câm điếc (x. Mc 7,36) và với ba môn đệ từ trên núi Tabo xuống (x. Mc 9,9) Ngài cũng căn dặn như thế. Nhưng, vì người ta không thể âm thầm giữ kín niềm vui do những ân huệ đã nhận được nên Chúa Giêsu phải lánh đi. Ngài không thể công khai vào thành nào được, nhưng ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành(x. Mc 1,45). Sự kiện đám đông loan truyền cách bồng bột những biểu lộ diệu kỳ của mầu nhiệm Chúa Giêsu khiến người ta mộ mến Ngài theo chiều hướng xã hội quá đáng và có nguy cơ gây tổn hại cho công việc giáo dục đầy nhẫn nại của Ngài để dẫn đưa con người tới đức tin. Vinh quang nhân loại luôn luôn có nguy cơ chiếm chỗ của Chúa Kitô trong các tâm hồn. Vì thế Ngài không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn, nhưng Ngài lại giải thích hết cho các môn đệ (x. Mc 4,34) và Ngài chúc tụng Cha Ngài đã giấu các nhà khôn ngoan thông thái những điều ấy và đã mạc khải cho những kẻ bé mọn (x. Mt 11,25). Đó là tất cả bước khởi sự đi vào mầu nhiệm Nước Trời (x. Mc 4,11-12) có liên quan trong sự thinh lặng-kín đáo này.

 

4. Thinh lặng và thanh vắng của sa mạc.

Nếu Chúa Giêsu ở lại những nơi vắng vẻ, chính vì có sự tương hợp nhiệm mầu nào đó giữa Ngài và những nơi ấy. Ngay sau khi Ngài chịu phép rửa, Thánh Thần đẩy Ngài vào sa mạc (x. Mc 1,12). Chính trong nơi vắng vẻ Ngài đã làm cho các môn đệ lấy lại sức (x. Mc 6,31), Ngài dạy dỗ và cho dân chúng ăn (x. Mc 6,34-44), Ngài tìm đến để cầu nguyện (x. Mc 1,35). Chính nơi thanh vắng của núi đồi Ngài đưa ông Phêrô, ông Giacôbê và ông Gioan tới khi Ngài biến hình hay khi Ngài hấp hối (x. Mc 9,2; 14,33).

Nơi bản thân Ngài tóm gọn lại tất cả kinh nghiệm thiêng liêng mà Israel đã có nơi sa mạc. Trong Thánh Kinh, sa mạc là phần đất cằn cỗi, không cây, không trái, không nước, không đường đi, không người hướng dẫn, vùng đất chết và bị chúc dữ, nơi ưa thích của Kẻ Thù. Nhưng đó cũng là vùng đất mà trong cuộc xuất hành Thiên Chúa dẫn đưa dân Ngài vào để cho họ thấy quyền năng của Ngài và để thử thách họ.

Khi ở trong sa mạc lâu ngày, Chúa Giêsu cũng trải qua những thử thách về sự tin tưởng, vâng phục, nghèo khó và về việc phụng sự Thiên Chúa như Israel đã trải qua. Nhưng Ngài đã thắng Kẻ Thù và tước đoạt chủ quyền của nó. Như vậy Ngài đã làm chủ sa mạc và trở nên nguồn ơn cứu độ cho dân Ngài. Phải chăng điều đó đã không phản ánh nơi Phúc Âm, đặc biệt là nơi thánh Gioan, khi Chúa Giêsu tuyên bố Ngài là nước ban sự sống, bánh bởi trời, manna, ánh sáng hay cột lửa, con đường, người dẫn lộ và mục tử. Tất cả ý nghĩa thiêng liêng của thanh vắng và thinh lặng trong sa mạc đều tái xuất hiện nơi Chúa Giêsu.

 

 5. Thinh lặng – thân mật

Ban ngày Chúa Giêsu giảng dạy trong Đền Thờ; nhưng đến tối Ngài đi ra và qua đêm tại núi gọi là núi Cây Dầu. Sáng sớm, toàn dân đến với Ngài trong Đền Thờ để nghe Ngài giảng dạy (x. Lc 21,37-38). 

Chúng ta biết rằng nơi thanh vắng mà Chúa Giêsu tìm đến chưa diễn tả được tất cả những gì người ta muốn nói về sự thinh lặng của Ngài. Thanh vắng chưa phải là tất cả nội dung của thinh lặng. Ở một mình trên núi Horeb, nhưng tiên tri Êlia vẫn phải học cho biết thế nào là thinh lặng, nơi Thiên Chúa ẩn mình: Tiếng rì rào của làn gió nhẹ! Ai sẽ nói cho chúng ta hay về sự thân mật nhiệm mầu giữa Chúa Giêsu và Cha Ngài trong thinh lặng của những đêm nguyện cầu? Chúng ta chỉ có thể phỏng đoán rằng ngài đã lắng nghe Cha Ngài cách vô cùng tinh tế, đã tha thiết khẩn cầu, đã bày tỏ lòng tri ân hiếu thảo, đã nồng nàn yêu mến và kính trọng Cha. Tất cả những điều đó mang lại cho lời giảng dạy của Ngài sáng hôm sau một sức thu hút mãnh liệt. Ngài hoàn toàn thuận hợp theo tư tưởng, ý muốn và lời của Cha. Ngài luôn chăm chú lắng nghe lời Cha, Ngài là tiếng vọng tuyệt hảo của lời Cha, Ngài chính là Ngôi Lời Thiên Chúa. Thánh Gioan Thánh Giá nói: “Cha trên trời chỉ có một lời, đó là Con của Ngài. Ngài nói lời ấy từ muôn thuở trong thinh lặng muôn thuở, và chính trong thinh lặng của tâm hồn mà lời ấy lên tiếng[1]. Lòng yêu mến Chúa Cha thúc đẩy Chúa Giêsu sống mật thiết với Cha trong thinh lặng sâu thẳm. Như cha Hausherr nói: “Càng gần gũi thân mật với Đấng Duy Nhất, người ta càng ít nói, càng trở nên thầm lặng, câm nín, và không chịu được tiếng động dù nhỏ nhất, nó khác nào như một lưỡi dao đâm. Người ta chán ghét tiếng nói, dù là trong nội tâm, nó giống như tiếng chó sủa giữa cái thinh lặng khi tôn thờ Chúa ban đêm”[2]

 

6. Thinh lặng và từ bỏ mình.

Khi mặc khải cho chúng ta tình thân mật thắm thiết với Chúa Cha, Chúa Giêsu không chỉ muốn nêu gương mẫu bên ngoài cho sự thinh lặng của chúng ta, nhưng nhất là Ngài muốn dẫn chúng ta theo gương Ngài mà từ bỏ mình, đó là điều kiện để được đón nhận mặc khải của Ngài. Không ai biết Chúa Cha trừ Chúa Con và người nào Chúa Con muốn mặc khải cho (Mt 11,27). Để chúng ta, những kẻ điếc, có thể đón nhận Ngài, thì bằng việc nhập thể, Ngôi Lời đã vào trần gian, một điều chưa từng thấy. Đó là từ bỏ mình, là cởi mở và vâng phục trong thinh lặng, là tự hủy hay trở nên trống không, nhờ vậy mà thế giới sẽ được đem trở lại tình trạng gần như nguyên thủy trong bàn tay tạo dựng của Chúa Cha.

Chúa Kitô chuẩn bị một cuộc tạo thành mới theo cách đó. Người ta không đựng rượu mới trong bầu da cũ (x. Lc 5,38), người ta không lấy miếng vải mới để vá áo cũ (Lc 5,36). Để thực hiện trong thế giới điều mới mẻ của Đấng đã tuyên bố: “Này đây ta đổi mới mọi sự” (Kh 21,5), xem ra phải cần có đoạn tuyệt cách nào đó giữa cái cũ và cái mới, cũ kỹ và lỗi thời, một lỗ hổng, lỗ hổng của bỏ mình hoàn toàn và của thinh lặng nơi toàn hữu thể trước nhan Chúa Cha. Từ lỗ hổng ấy ngài đợi chờ một trật tự mới sẽ sinh ra.

Cần phải dốc sạch bình, phải gắng sức chà cọ thật mạnh cho sạch bình để nó có thể chứa đựng được thực tại nhiệm mầu này[3]. Tất nhiên Chúa Giêsu mời gọi những ai nghe Ngài kể dụ ngôn noi theo Ngài mà thực hiện thinh lặng-bỏ mình, trong khi giúp họ hiểu hơn mầu nhiệm của Ngài. Ngài mời gọi họ vượt lên trên những cuộc gặp gỡ quá hời hợt và sức lôi cuốn của những cái kỳ diệu lạ lùng để gặp Ngài ở mức độ cao hơn, mức độ từ bỏ chính mình, để mất chính mình, tự xóa mình đi vì yêu mến một Đấng Khác mà Ngài quí chuộng hơn chính mình. Ngài đã không dành cho được ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hủy mình ra không, mang lấy thân nô lệ, nên giống như người phàm. Ngài còn hạ mình hơn nữa khi vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá (Pl 2,6-8). Sự triển nở tròn đầy trong ơn gọi của Chúa Kitô -và cũng trong nhân cách của Ngài theo bình diện tâm lý, cần phải có sự cởi mở hoàn toàn, sự lệ thuộc, sự tước đoạt mình, sự chối từ mình như thế. Nói không với chính mình, đó là thinh lặng đích thực làm cho toàn thể con người dịu lại, cho tới tận nơi sâu thẳm của linh hồn đang chăm chú hướng về một mình Thiên Chúa mà thôi [4]

Vì thế Chúa Kitô hoàn toàn trong suốt trước sự hiện diện, trước giáo thuyết và hành động của một Đấng Khác. Sự trong suốt thinh lặng này xác nhận tính chân thực nơi chứng từ của Ngài. Chúa Giêsu hoàn toàn thuận hợp với Lời của một Đấng Khác: “Đạo lý tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi. Ai tự mình mà giảng dạy, thì tìm vinh quang cho chính mình, còn ai tìm vinh quang cho Đấng đã sai mình thì là người chân thật” (Ga 7,16-18). “Tôi không tự mình mà nói, nhưng Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền cho tôi phải nói gì và tuyên bố gì. Vậy những gì tôi nói thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi” (Ga 12,49-50).

Cũng vậy, khi hành động, Chúa Giêsu không làm công việc riêng của Ngài, hay làm theo ý Ngài. Chúa Con không thể làm điều gì mà không phải là điều Ngài thấy Chúa Cha làm: Điều gì Chúa Cha làm, Chúa Con cũng làm như vậy (x. Ga 5,19). Tôi không tự mình làm bất cứ điều gì. Tôi luôn luôn làm điều Người ưa thích (x. Ga 8,28-29). Khi giữ thinh lặng bằng trọn cả bản thân mình, Chúa Giêsu không ham muốn giữ lại bất cứ điều gì cho mình, Ngài qui hướng tất cả, lời nói và hành động, về cùng đích của Ngài là Chúa Cha:“Lạy Cha, con đã hoàn tất công việc Cha trao cho con. Họ thuộc về Cha. Con đi đến với Cha” (Ga 17,2-11). Ngài tự hiến mình làm của lễ toàn thiêu dâng lên Chúa Cha, Ngài tự thiêu và tiêu hao trọn cuộc đời vì Chúa Cha. Và thập giá chính là sự hoàn tất chung cuộc của lễ toàn thiêu này.

Thinh lặng – bỏ mình đó là điều cốt yếu tới độ Chúa Giêsu không muốn thực hiện một mình. Bằng khoa sư phạm trong Phúc Âm, Ngài muốn ghi khắc nó vào tâm trí chúng ta. Biết được con người là gì, Ngài từ từ chuẩn bị các môn đệ của Ngài đón nhận sự mất mát lớn lao mà cái chết của Ngài và mầu nhiệm của tối tăm sẽ đề nghị với con người vốn đã cho mình là đầy đủ mọi sự. Ngài dạy các môn đệ đừng mù quáng tin tưởng nơi mình, nơi những tình cảm và xung động của mình. Ngài truyền thông sự thinh lặng của Ngài vào lòng các môn đệ.

Và để làm thế, Ngài cho họ thấy tính mỏng manh của lòng con người: “Con sẽ liều mạng vì thầy ư? … Quả thực, gà chưa gáy con đã chối thầy ba lần rồi!” (Ga 13,38). Bây giờ các con tin à? Này đến giờ các con sẽ bỏ thầy một mình! (x. Ga 16, 31-32).

Ngài cho các ông thấy sự dòn mỏng thiêng liêng của cả cộng đoàn khi nói nó sẽ bị mầu nhiệm của tối tăm hành hạ:“Các con không sạch cả đâu” (Ga 13,10-11); “Một trong các  con là quỉ!” (Ga 6,70); “Thầy không nói về tất cả các con đâu. Kẻ ăn bánh của Ta lại giơ gót đạp Ta” (Ga 13,18). Các con sẽ bị phân tán (x. Ga 16,31).

Ngài cũng dạy các ông về sự dòn mỏng trong các tương quan giữa con người, kể cả những tương quan xem ra thiêng liêng nhất khi Ngài loan báo rằng sẽ chỉ còn ở với các ông ít lâu nữa thôi, sẽ không chuyện trò với các ông nữa, chẳng bao lâu thế gian sẽ không thấy Ngài nữa, Ngài sẽ từ bỏ thế gian, … (x. Ga 13-17). Ngài cũng để lộ cho các ông thấy tính dễ bị tổn thương của Ngài phần nào như bước khởi đầu đi vào mầu nhiệm của bóng tối: Giờ đây tâm hồn Thầy xao xuyến. Biết nói gì? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này.

 

7. Thinh lặng-tin tưởng.

Nhưng cùng lúc với mầu nhiệm tự hủy, Chúa Giêsu dẫn đưa các môn đệ vào mầu nhiệm về sự tin tưởng của Ngài nơi Chúa Cha. Ngài củng cố đức tin và niềm trông cậy của các ông. Ngài không muốn các ông xao xuyến. Ngài trấn an các ông và yêu cầu các ông tựa nương vào Thiên Chúa, bám chặt lấy Thiên Chúa, ở lại trong Thiên Chúa, khi lãnh nhận Đấng An ủi, Đấng Bảo Trợ, Đấng Cố Vấn mà Ngài sẽ gửi tới từ nơi Chúa Cha. Như thế, Ngài dạy các ông đón nhận hành động của Chúa Cha, để Chúa Cha làm việc, nhào nặn, uốn nắn các ông, như thánh Irênê nói[5].  Mối tương quan sống động với Chúa Cha bằng sự tin tưởng dịu dàng, ngoan ngoãn, phó thác, dễ dạy nói lên cách sâu xa hữu thể làm con của Chúa Giêsu. Sự tin tưởng đó là cội rễ mọi hành động của Ngài. Trong tư cách là Con, Chúa Giêsu hoàn toàn phó thác mình trong tay Chúa Cha. Chính niềm xác tín tuyệt đối vào tình thương của Chúa Cha đã giúp Chúa Giêsu bày tỏ sự từ bỏ mình hoàn toàn, ngay cả khi xem ra Chúa Cha ruồng bỏ Ngài. Chúng ta khám phá ra rằng sự thinh lặng ấy của Chúa Giêsu vừa là đỉnh cao của tuổi thơ ấu thiêng liêng vừa là sự trưởng thành hoàn hảo của con người. Đức cha Bloom nói rằng tuổi thơ ấu thiêng liêng không là khởi điểm con đường thiêng liêng nhưng là đích điểm. Ngài thêm: Tôi nghĩ khi Chúa Giêsu nói với chúng ta: Hãy nên như trẻ thơ. Ngài đòi hỏi một điều chúng ta không thể làm được. Trước hết phải đạt tới sự trưởng thành nhân bản trọn vẹn rồi mới có thể từ bỏ mình và đạt tới sự đơn sơ mà tôi nghĩ không ai trong chúng ta đây có khả năng đạt tới được[6].

Tại vườn Cây dầu hay trong cuộc thụ nạn, Chúa Giêsu đứng trước thử thách lớn lao là sự thinh lặng của Thiên Chúa. Ngài hoàn toàn tin tưởng trong lúc mà, theo thánh Macaire: “Thiên Chúa tránh mặt Ngài như nước rút khỏi bãi biển. Có thinh lặng nào lạ lùng cho bằng thinh lặng của Chúa Giêsu trước những kẻ xét xử Ngài!” Lúc ấy vị Thượng tế đứng lên hỏi Ngài: Ông không đáp lại gì ư? Nhưng Chúa Giêsu thinh lặng (x. Mt 26,62-63). Chúa Giêsu không tự bào chữa. Ngài phó thác cho Chúa Cha. Thiên Chúa sẽ bênh vực Ngài (x. Mt 26,53-54). Quan Philatô hỏi: “Ông không nghe họ tố cáo ông sao? Ngài không đáp lại lời nào, khiến quan tổng trấn rất ngạc nhiên” (Mt 27,13-14; Mc 14,60). Chúa Giêsu thực hiện điều Ngài đã dạy: “Các con hãy ghi lòng tạc dạ điều này là các con đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào, vì chính Thầy sẽ cho các con ăn nói thật khôn ngoan, khiến địch thù của các con không thể nào chống chọi hay cãi lại được” (Lc 21,14-15). Với Ngài lúc này, ăn nói thật khôn ngoan chính là thinh lặng. Thinh lặng gây ngạc nhiên và là một chứng từ. Chúa Giêsu thể hiện điều mà thánh Biển Đức gọi là bậc khiêm nhường thứ bốn. Kiên cường trong tình yêu của Chúa Cha, Ngài đứng vững không hề lay chuyển và âm thầm nhẫn nại trước những bất công, những lời cáo gian, những ngược đãi. Khi ấy Ngài sống nơi bản thân mình lời thánh vịnh: “Con thinh lặng chẳng hé môi, vì chính Chúa đã hành động” (Tv 38,10). Con như kẻ điếc chẳng nghe gì, như người câm không mở miệng, như người chẳng nghe chi hết, không một lời đối đáp ngoài môi, vì lạy Chúa, chính Ngài là Đấng con tin cậy. Lạy Thiên Chúa của con, chính Chúa sẽ đáp lời (Tv 37,14-16). Ngài giữ vững niềm tin tưởng nơi Chúa Cha, mặc dầu sự thinh lặng của Cha trở nên nặng nề hơn, tới độ đã để cho Ngài bị chơ vơ đơn độc mà chết trên thập giá và bị mai táng trong mồ. Pseudo-épiphane nói: Hôm nay, thinh lặng bao trùm mặt đất, thinh lặng và cô tịch. Vì Đức Vua đang ngủ. Trái đất rung chuyển rồi lặng yên vì Thiên Chúa đã thiếp ngủ trong thể xác và Ngài đi đánh thức những kẻ đã ngủ từ ngàn xưa[7]. Nếu Chúa Kitô đã chấp nhận cái cô tịch toàn diện, cái vẻ thất bại hoàn toàn, chính bởi vì một sự thinh lặng như thế là cần thiết để Thiên Chúa có thể tái tạo mọi sự nên mới, cải tân loài người tận gốc rễ.

Cha Urs von Balthasar có lý khi nghĩ có thể liên kết sự thinh lặng đan tu với sự hoàn tất việc “Ngôi Lời trở nên xác phàm”, với việc Ngôi Lời chìm sâu vào cuộc đời thinh lặng, với thái độ của con chiên bị dẫn đi làm thịt mà không hề mở miệng kêu than[8].

 

8. Thinh lặng-phong phú.

Bằng sự thinh lặng của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, Thiên Chúa đã chôn vùi Lời Ngài xuống chỗ sâu thẳm nhất của tạo thành. Khi mở ra một không gian nội tâm trong nhân loại bằng cuộc khổ nạn và thập giá của mình, Chúa Kitô đã trao phó nơi Chúa Cha trọn vẹn công trình tác sinh. Vào ngày lễ Vượt Qua và ngày lễ Ngũ Tuần, Lời được trả lại cho chúng ta, trong suốt và mang sức mạnh truyền thông phi thường. Ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Cha nói! Ngài làm cho Lời đã trở nên xác phàm thành phong phú, làm cho thập giá phải im lặng. Ngài làm cho Lời ấy hóa ra nhiều (phép lạ ngôn ngữ) và mọi người đều hiểu được. Và nhờ đức tin, Ngài đặt Ngôi Lời của Ngài vào lòng mỗi người, để Ngôi Lời nói trong chúng ta và hoàn tất trong chúng ta công trình của Ngài. Chúng ta trở nên một hữu thể với Ngôi Lời (x. Rm 6,5). Chúng ta được tái tạo trong Ngôi Lời: “Ai ở trong Chúa Kitô, người ấy là một tạo vật mới; con người cũ đã qua đi, bây giờ là con người mới” (2 Cr 5,17; x. Gl 6,15). Và từ nay tâm lòng người tín hữu trở nên đền thờ Thiên Chúa, cung điện của Chúa Kitô [9]. Guardini đã nói: “Khi Chúa Giêsu lên trời, Thánh Thần mở ra trong con người một không gian nội tâm, nơi đó Đức Chúa đã được biến đổi có thể đi vào. Giờ đây Ngài ở trong chúng ta, và chúng ta ở trong ngài nhờ Thánh Thần” [10].

Hiệu quả chính phát sinh từ đó là sự thinh lặng của kitô hữu không được và không thể chỉ là bắt chước từ bên ngoài sự thinh lặng của Chúa Kitô, nhưng từ nay nó liên kết với Đấng đang sống và đang nói trong chúng ta. Phúc thay linh hồn tự hủy chính mình, hoàn toàn qui hướng về Thiên Chúa, không sống nơi mình nhưng sống trong Chúa Kitô, được thấm nhuần trọn vẹn bằng tình yêu của Ngài[11]. Và Tauler nói: “Chẳng bao giờ con người nghĩ rằng mình sẽ trở nên hoàn thiện nếu con người bên ngoài không mất hút đi trong con người nội tâm”[12]Thinh lặng của chúng ta là để cho một Đấng Khác với mình cư ngụ nơi mình, nhường hết chỗ cho Ngài và không cậy dựa vào cái cũ kỹ trong ta đã được mời gọi tan biến đi. Lúc này chúng ta phải mặc lấy con người mới (x. Cl 3,10) và để chúng ta được đổi mới nhờ bản thân Chúa Kitô đã được đặt để trong lòng chúng ta, phải quan tâm đến Ngài như tới điều cần duy nhất và để Ngài lên tiếng nói trong bản thân chúng ta, hy sinh vì Ngài mọi giao động vô ích. Paul Evdokimov nhấn mạnh điều này: “Vì Thiên Chúa làm mới lại mọi sự, nên phải có đoạn tuyệt, con người bên ngoài nơi ta phải bị tiêu hủy đi và con người nội tâm phải được đổi mới. Từ đó, sự sống thiêng liêng qui hướng rất chính xác về sự biến đổi này: Mặc lấy con người mới. Các thánh Giáo Phụ dạy rằng không phải ta bắt chước, nhưng ta nội tâm hóa Chúa Kitô. Như thế ta hiểu được sự sống thiêng liêng gây nên một sự đoạn tuyệt tức khắc như thế nào”[13].

 Sau khi tìm hiểu vắn tắt như thế, hẳn chúng ta đã thấy rõ hơn thinh lặng của Chúa Giêsu bao gồm những chiều kích rộng lớn hơn là chỉ giữ gìn môi miệng: a) Nếu Chúa Giêsu sống ẩn dật lâu dài, trốn tránh những lời ca tụng và yêu thích nơi thanh vắng chính là để đáp ứng tốt hơn những yêu sách của mối thân tình giữa Ngài với Chúa Cha; b) Sâu xa hơn nữa, sự thinh lặng của Ngài cho thấy điểm trung tâm trong mầu nhiệm của Ngài, đó là việc từ bỏ ý riêng của con người trước Thiên Chúa và tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu của Chúa Cha; c) Chính vì đã chiến thắng thử thách khi kiên trì trong niềm tin tưởng ấy mà Chúa Giêsu trở nên hiện diện đối với mỗi người chúng ta, một sự hiện diện tuôn trào cách mầu nhiệm từ nơi sâu thẳm nhất của chúng ta, nhờ quyền năng tác sinh của Chúa Cha. Chúa Kitô tiếp tục thinh lặng trong chúng ta. Ngài mời gọi chúng ta cùng thinh lặng với Ngài trong nơi sâu thẳm đó, nơi mà Ngài nói với chúng ta bằng tiếng nói nhỏ nhẹ của Thánh Thần.

Chính đây là lúc để nhắc tới thinh lặng trong đời sống đan tu.

 

II. THINH LẶNG ĐAN TU 

Toàn thể truyền thống đan tu được thấm nhuần xác tín Phúc âm rằng nước Thiên Chúa, theo điều cốt yếu, đã ở giữa chúng ta. Nước Thiên Chúa ở trong anh em (x. Lc 17,21). Nếu nhờ Bí tích Thánh tẩy, chúng ta chỉ còn là một với Chúa Kitô, thì mỗi người chúng ta đã trở nên người mang Lời sự sống, như thư Philiphê nói (x. Pl 2,16). Từ đó chúng ta hiểu tại sao truyền thống đan tu nhấn mạnh nhiều đến tầm quan trọng của trái tim. Thực vậy, trái tim là nơi Lời tác sinh của Ngôi Lời cư ngụ và ở nơi đó chúng ta có thể cùng thinh lặng với Ngài mọi lúc, bằng cái nhìn tin yêu. Theo Isaac de Ninive: Trái tim là cơ quan trung tâm của các giác quan nội tâm, là giác quan của các giác quan vì nó là cội rễ. Nếu cội rễ là thánh, tất cả mọi cành cũng thánh[14] . Trong một lá thư Pseudo-Chrysostome gửi các đan sĩ, ta đọc thấy: “Bạn là một đền thờ, đừng tìm nơi nào khác”[15]. Với Cassien, tất cả đều nằm trong cung thánh sâu thẳm của linh hồn[16] và với thánh Maximô khi hiện diện trong trái tim, Thiên Chúa thấy rằng cùng với Thánh Thần ghi khắc vào đó sứ điệp của Ngài như ghi trên các phiến đá của Môsê là điều tốt[17]. Tất cả các tác giả lớn về đời sống thiêng liêng sau đó đều liên tục nhắc lại chân lý cốt yếu này. Thánh Gioan Thánh Giá và truyền thống Cát minh cho rằng trung tâm của linh hồn chính là Thiên Chúa. Thực vậy, chính trong bản thể của linh hồn, nơi giác quan và ma quỉ không thể xâm nhập được, mà Thánh Thần cử hành lễ tình yêu[18].

Do đó, khổ hạnh đan tu không phải là một nỗ lực giả tạo để làm ra một bầu khí thiêng liêng, nhưng chỉ là hiện diện trước Đấng hiện diện trước mặt ta, là chấp nhận những đòi hỏi của tình yêu Ngài và cộng tác với Ngài để tái tạo con người nội tâm của ta. Nhưng chúng ta biết đó, việc cộng tác này không luôn luôn dễ dàng. Vì, nếu nó nhằm giúp chúng ta hòa hợp trọn vẹn với Thực Tại sâu xa cư ngụ trong chúng ta, nó cũng mời gọi chúng ta loại bỏ tất cả những gì không am hợp với Thực Tại ấy trong cách sống của ta và chống lại với khuynh hướng tự nhiên hay quên, với tính đãng trí và sự phân tâm. Pseudo-Macaire, thánh Gioan Climaque và thánh Grêgôriô Palamas nhắc lại rằng: Từ khi lỗi phạm luật Chúa, con người nội tâm thích ứng cách tự nhiên với những hình thức bên ngoài[19] . Từ khi phạm tội Nguyên thủy, con người bị phân tán, không còn sự hiệp nhất trong nội tâm nữa bao lâu Chúa Kitô chưa tái tạo sự hiệp nhất ấy trong họ, nhờ việc họ dự phần vào cuộc khổ nạn và thập giá của Ngài. Đan sĩ hướng tới sự hiệp nhất ấy, đã chớm nở trong họ, nhờ có Chúa Kitô hiện diện nơi đáy lòng họ. Thầy Eckhart nói: “Trong mọi sự, con người phải được đào tạo từ nội tâm trong Chúa Giêsu Kitô, tới độ người ta có thể thấy phản ánh nơi họ mọi công việc cũng như hình ảnh thần linh của Ngài, và con người phải thực hiện nơi bản thân, theo khả năng có thể, mọi công việc của Chúa Kitô, giống hệt như Ngài thực hiện. Chớ chi trái tim bạn làm quen với những công việc ấy trong mọi lúc để bạn có thể hòa nhập vào Ngài trong mọi việc bạn làm” [20]. Điều này đòi phải chấp nhận một cuộc chiến đấu thiêng liêng cực kỳ cam go. Thánh Simêon, nhà thần học mới dạy:

“Nước trời đòi phải dùng sức mạnh và những ai mạnh mẽ mới chiếm được, vì chúng ta phải trải qua nhiều gian truân để vào được Nước trời. Mà Nước trời là dự phần vào Thánh Linh, đó là ý nghĩa của câu nói rằng Nước trời ở trong chúng ta, giống như là chúng ta nhiệt tình đón nhận và giữ lấy Thánh Linh ở trong ta”[21]. Nếu, như mọi kitô hữu, đan sĩ ở trong một cuộc tranh chấp đòi buộc họ phải liên tục cởi bỏ con người cũ với những hành vi của nó (x. Cl 3,9), con người cũ hư hỏng vì dục vọng (x. Ep 4,22) và mặc lấy con người mới được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa trong công bình và thánh thiện chân thực (x. Ep 4,24; x. Cl 3,10); 2 Cr 4,16; Ep 3,14-19), họ sẽ chiến đấu trong khi đặc biệt quan tâm để không ngừng đặt hoạt động bên ngoài dưới ánh rạng ngời của vị Khách nội tâm. Như Tauler nói trong bản văn đã trưng dẫn: Không bao giờ con người nghĩ mình sẽ trở nên hoàn thiện nếu con người bên ngoài không được hoà nhập vào con người bên trong. Vả lại đan sĩ sống một cuộc sống thuận lợi cho việc hoà nhập đó và cho hoạt động âm thầm của ân sủng. Những đoạn tuyệt mà cuộc sống này đòi hỏi sẽ đều qui hướng về việc giúp con người nội tâm triển nở trọn đầy để phục vụ Giáo Hội.

Sau những điều trình bày trên đây, ta có thể đề cập tới một số điểm của Tu Luật thánh Biển Đức. Chương nói về: Thinh lặng đặt giữa hai chương nói về: Vâng phục và Khiêm nhường, đã nêu bật mối liên kết chặt chẽ (như nói trên đây về thinh lặng của Chúa Kitô) giữa thinh lặng và vâng phục, thinh lặng và khiêm tốn, tự hủy, bỏ mình. Mối giây liên kết này còn chặt chẽ hơn nữa trong chương về khiêm nhường. Chương này khai triển cả một khoa sư phạm về thinh lặng khi đưa chúng ta đi vào trung tâm sự thinh lặng của Chúa Kitô. Đại khái chúng ta có thể phân thành ba giai đoạn tương ứng với – bậc khiêm nhường thứ nhất, rồi bậc thứ tư và thứ năm, – rồi bậc thứ chín, mười, mười một và mười hai.

 1.Ta có thể gọi giai đoạn thứ nhất là cuộc sống chăm chú. Nếu trong suốt cả chương VII ta thấy hành động vô cùng nhẫn nại của Thiên Chúa càng ngày càng động viên đan sĩ có thái độ tin tưởng phó thác nơi tình thương của Chúa Cha, thì điều đó mới chỉ khởi đầu ở bậc khiêm nhường thứ nhất. Sự liên tục tưởng nhớ Chúa hiện diện cho thấy đã có thinh lặng cách nào đó không những ngoài môi miệng, mà cả trong tư tưởng, cảm tình và nơi mọi sinh hoạt của đan sĩ. Dường như toàn thể con người đan sĩ đều được xem xét lại, từ đầu tới chân. Đặt mình trước cái nhìn của Chúa, đan sĩ thấy mình được Chúa nhìn thấu suốt toàn diện con người mình tới độ họ dần dần ý thức được mình sống trong tương quan nhiệm mầu với Chúa và Ngài thấu nhập vào họ từ khắp nơi. Họ cảm nhận rằng cái nhìn của Chúa đang dò thấu tâm hồn họ là cái nhìn sáng tạo và làm nảy sinh ra nơi họ điều tốt nhất của họ, đó là sự thật sâu xa nhất về họ. Vì thế họ cố gắng sống tinh thần chăm chú bao nhiêu có thể. Người ta đã định nghĩa đời sống đan tu là cuộc đời chăm chú. Định nghĩa này diễn tả điều chính xác nhất trong thành ngữ đời sống chiêm niệm hay đời sống thiên thần. Thực vậy, nếu nhìn gần, ta sẽ không khỏi ngạc nhiên thấy ở bậc khiêm nhường thứ nhất chồng chất những hạn từ như canh chừng (cavere), giữ gìn (custodire), trốn tránh quên lãng (oblivionem omnino fugere) và những từ về nơi chốn hay thời gian như không ngừng, khắp nơi, mọi giờ phút, liên tục, ở mọi nơi, mọi lúc, tất cả đều nói lên rằng đan sĩ quyết liệt tránh mọi phân tâm chia trí, dù là do tư tưởng, con mắt, trái tim, tay chân hay gì khác. Thánh Biển Đức không có đủ từ để diễn tả việc đan sĩ trầm mình vào trong ánh sáng của Thiên Chúa mà họ đã khám phá ra được nơi trung tâm của lòng mình. Một sự thinh lặng thần linh bao trùm toàn thân và mọi sinh hoạt của đan sĩ nhằm làm dịu lại tất cả những gì là vội vàng, hấp tấp khiến ta không nhận ra Thiên Chúa hiện diện. Don Augustin Baker nói trong tác phẩm Sự khôn ngoan thánh: “Hãy để ý đừng làm bất cứ việc gì mà lòng bồn chồn vội vã, nhưng làm cách bình thản lặng lẽ. Những động tác hung hăng dữ dội không đến từ Thần Khí Chúa, Ngài là sự an bình, thanh thản, yên tịnh tuyệt đối. Vội vàng là cản trở lớn cho việc suy niệm, một việc đòi phải có sự bình an và êm đềm rất lớn trong tâm hồn”[22]. Như vậy cuộc sống trước sự hiện diện của Chúa giống như là một cật vấn đối với sự náo động và những vội vàng hấp tấp của chúng ta:

“BẠN có cần phải vội vã lao mình vào công việc đó không? Phải chăng đó là điều cần duy nhất?”

Như vậy đan sĩ giữ mình trong tư thế tự cảnh giác. Khi đã nhận ra được điều cần duy nhất, tức là nơi chốn của Thiên Chúa, đan sĩ cố gắng đi sâu mãi vào đó, như chân phước Êlisabeth Chúa Ba Ngôi nói: “Hãy tiến mãi vào vực thẳm này. Không được ngừng ở bề mặt, phải đi sâu mãi vào Hữu thể Thần linh bằng tĩnh niệm. Thánh Phaolô thốt lên: “Tôi chạy đua!” Cũng thế, mỗi ngày chúng ta phải đi sâu xuống vực thẳm là Thiên Chúa. Hãy lướt đi trên con dốc đó trong niềm tin tưởng tràn đầy mến yêu. Vực thẳm kêu mời vực thẳm. Khi đó sẽ xảy ra cú sốc thần linh, khi đó vực thẳm hư vô của chúng ta, vực thẳm khốn cùng của chúng ta sẽ gặp vực thẳm của lòng thương xót, của sự bao la, của Tất Cả nơi Thiên Chúa. Chính khi ấy chúng ta tìm được sức mạnh để chết đi cho chính mình, và khi mất đi dấu vết của mình, chúng ta sẽ được biến đổi nên tình yêu[23].

Để hỗ trợ sự chăm chú nội tâm này, các vị thầy về đời sống thiêng liêng, bên Đông phương cũng như bên Tây phương, khuyên nên dùng một số phương tiện mà các ngài biết là có hiệu quả:

a. Lặp đi lặp lại một lời nguyện tắt hay một tiếng có sức nhắc nhở chúng ta về Đấng đang hiện diện trong nội tâm chúng ta. Có thể là lời kinh Chúa Giêsu: “Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”, hay một câu Thánh vịnh như Cassien nói tới trong bài thuyết trình thứ mười của ông: “Lạy Chúa Trời, xin tới giúp con”. Một câu đáp ca trong phụng vụ, một lời nguyện tắt hoặc những câu ngắn ngủi như: “Lạy Chúa Giêsu”, “Lạy Cha”. Những lời kinh chăm chú lặp đi lặp lại như thế sẽ giúp ta đi vào nội tâm. Thánh Biển Đức cũng biết tới điều đó khi nói: Để tỉnh thức, đan sĩ luôn luôn lặp đi lặp lại trong lòng: tôi sẽ trong sạch trước mặt Ngài, nếu tôi giữ mình khỏi phạm tội (x.TL7,50). Silouane nhắn nhủ: “Nếu bạn muốn cầu nguyện bằng trái tim mà bạn không làm được, thì hãy lặp lại trên môi những lời kinh bạn đọc, và chăm chú vào những lời bạn đọc đó. Sớm hay muộn, Chúa sẽ ban cho bạn cầu nguyện được trong nội tâm mà không chia trí. Bạn sẽ có thể cầu nguyện dễ dàng”[24]

b. Trong khi làm việc, thỉnh thoảng ngưng lại một chút để giảm bớt vội vàng và nghĩ đến. Chúa hiện diện trong ta mà thờ lạy và kết hiệp với Ngài. Về điểm này, chân phước Laurent Phục Sinh khuyên ngừng lại một chút, và nhiều lần bao nhiêu có thể, để thờ lạy Chúa trong thâm cung linh hồn, nếm hưởng Ngài, dù chỉ là thoáng qua và như thể lén lút vậy[25]. Nhờ những giây phút ngắn ngủi năng lặp lại đó, linh hồn được kiên định trong thinh lặng trước tôn nhan Chúa.

c. Sự quan trọng của bầu khí thinh lặng. Tất cả những ai đã nếm hưởng được tình thân mật với Chúa đều yêu quí sự thanh vắng. Họ giữ gìn thinh lặng bên ngoài và trân trọng những khoản luật qui định duy trì thinh lặng trong cộng đoàn. Vì, như Philoxème de Mabboug nói: Thinh lặng bên ngoài dẫn tới thinh lặng thiêng liêng, và thinh lặng thiêng liêng nâng con người lên để sống trong Chúa; nhưng nếu bỏ mất thinh lặng, con người sẽ không còn giao tiếp với Chúa nữa. Với ai đã có kinh nghiệm về Chúa Kitô, thinh lặng quí hơn mọi sự[26]. Như vậy, đối với những ai sống đời sống thiêng liêng, tìm kiếm thinh lặng không phải là một quan tâm theo hình thức, nhưng là lòng nhiệt thành hăng say. Vì thế mọi cuộc cải cách đan tu đều luôn luôn được cảm hứng từ lòng nhiệt thành ấy. Chẳng hạn với thánh Bênađô: “Thinh lặng bảo vệ đời tu. Thinh lặng là sức mạnh của đời tu”[27],  với Rodolphe de S. Trond: “Không có thinh lặng, đan sĩ không thể giữ kỷ cương luật lệ gì được”[28], hay với thánh Brunô: Thanh vắng và thinh lặng mang lại ích lợi và dịu ngọt ra sao cho những ai yêu thích chúng, thì chỉ những người ấy mới biết được vì họ đã có kinh nghiệm. Nhờ thanh vắng và thinh lặng, những con người mạnh mẽ có thể tĩnh niệm bao lâu họ muốn. Nhờ thanh vắng và thinh lặng mà có được cái nhìn bình thản làm cho Đức Tình Quân chí thánh phải đau khổ vì yêu và đó là tình yêu hết sức tinh tuyền nhờ tình yêu ấy người ta chiêm ngắm Thiên Chúa[29], và gần chúng ta hơn, với chân phước Charles de Foucauld: “Ai không sống trong sa mạc sẽ khó mà hiểu được thời gian dừng lại một năm trong thinh lặng, xa thế giới văn minh, có thể giúp con người tự thoát khỏi mình và chỉ lo tìm kiếm điều cần duy nhất mà thôi. Sa mạc cho ta hiểu thế nào là chiêm niệm. Sa mạc làm cho linh hồn tập trung vào chính mình, và từ đó tập trung vào Thiên Chúa”[30]. Càng dễ bị tổn thương vì những gì trái ngược với thinh lặng, ta càng thấy cần thinh lặng hơn, như Cha Jacques Loew cho thấy: “Đời sống thiêng liêng rất đòi hỏi đối với những ai đã khấn hứa sống trong đời sống ấy. Nhà giải phẫu muốn mổ xẻ chính xác thì không được có những thao tác mạnh và con người mò mẫm đi vào cõi vô hình phải giữ gìn con mắt: Phim ảnh và suy niệm, truyền hình và tôn thờ không thể cùng cư ngụ nơi một con người, chẳng khác gì những trò xiếc xưa kia. Phải công nhận rằng chúng ta dễ bị tổn thương hơn những người sống trong bậc hôn nhân”[31]. Từ đó chúng ta hiểu rõ hơn trách nhiệm của mình trong việc duy trì bầu khí thinh lặng của cộng đoàn, tới độ có thể nói rằng sức sống của một đan viện, phẩm chất của lời cầu nguyện và việc đón tiếp khách tùy thuộc phẩm chất thinh lặng của đan viện ấy. Và nếu việc hiến tế cái lưỡi cùng với Chúa Kitô[32]là một hy sinh thực sự, nó càng là biểu hiện rõ ràng hơn của một đức ái huynh đệ cao vời. Trước hết là bác ái huynh đệ đối với cộng đoàn, vì, như Thomas Merton nói: “Khi các cửa sổ đan viện không còn mở về phía chân trời sa mạc nữa, cộng đoàn đan viện sẽ không thể tránh khỏi bị chìm nghỉm trong cái hão huyền. Khi ấy tất cả những gì là vô nghĩa và phụ thuộc sẽ có tầm quan trọng lớn, sẽ trở nên cùng đích của đời sống đan tu”[33]. Cũng là bác ái đối với Giáo Hội mà tình trạng thường xuyên trong sa mạc được biểu thị trước mắt mọi người bằng sự hiện hữu lâu dài và bền vững của đan viện[34], như Urs von Balthasar mới nhắc lại.

d. Canh giữ tu phòng. Các linh phụ xác tín rằng chính Thiên Chúa, ông chủ của thinh lặng, khiến các ngài nghĩ rằng tu phòng sẽ dạy ta mọi sự[35]. Các ngài tin tưởng rằng nơi tu phòng, Thiên Chúa vô cùng nhẫn nại sẽ chiến thắng mọi cản trở: “Hãy tránh mọi người, hãy ngồi yên trong tu phòng của con, hãy khóc lóc vì tội lỗi con, đừng ham nói nhiều, rồi con sẽ được cứu độ”[36]; “Cá nằm lâu trên mặt đất sẽ chết. Cũng vậy, đan sĩ la cà bên ngoài tu phòng sẽ mất năng lực cần thiết để sống bình an. Vậy, cá phải lập tức trở xuống biển, chúng ta phải mau lẹ trở về tu phòng. Lang bang bên ngoài, chúng ta sẽ quên mất việc giữ gìn nội tâm”[37]. Vai trò của vị cao niên cơ bản là nhắc nhở đan sĩ trẻ về khoa sư phạm thánh thiêng này. Một đan sĩ hỏi viện phụ Arsène: Thưa cha, con phải làm sao đây, vì con bị quấy nhiễu bởi tư tưởng này: “Vì mày không thể ăn chay, cũng không làm việc được, vậy ít là hãy đi thăm bệnh nhân! Mày sẽ đáng thưởng đấy”. Vị cao niên biết đó là những tư tưởng của ma quỉ, ngài trả lời: “Con hãy đi ăn uống rồi ngủ đi; nhưng chớ ra khỏi tu phòng”[38]. Tu phòng thinh lặng là nơi Thiên Chúa tỏ mình ra cho đan sĩ: Tu phòng của đan sĩ là lò lửa Babilon nơi ba thiếu niên gặp được Con Thiên Chúa. Nó còn là cột mây nơi Thiên Chúa nói với Môsê[39].

2. Giai đoạn hai của thinh lặng đan tu tương ứng với bậc khiêm nhường thứ tư và thứ năm. Đó là thời gian thanh tẩy, trong thời gian này, Chúa Cha đào tạo đứa con của Ngài về thinh lặng-từ bỏ mình và về thinh lặng-tin tưởng; do đó ta thấy được tầm quan trọng của vị cao niên mang danh hiệu của Ngài (danh hiệu viện phụ) và vai trò của vị ấy là phân định những bước vượt qua mà Chúa Cha muốn để giúp môn đệ thực hiện.

Ở bậc khiêm nhường thứ tư, Thánh Biển Đức khích lệ đan sĩ, trước những thử thách đủ loại, trước hết hãy nhẫn nại mà lặng lẽ vâng phục cho dù lệnh truyền có khó thực hiện và trái ý mình tới đâu, hay có phải chịu mọi thứ sỉ nhục đi nữa. Nghĩa là thế nào? Thiên Chúa muốn nhào nặn con người nội tâm nơi ta và đưa ta đi sâu hơn vào sự thinh lặng con thảo của Chúa Kitô. Điều đó đòi phải có những vượt qua chính mình và những từ bỏ. Như chúng ta biết, không phải Chúa Cha đòi chúng ta phải chịu những thử thách độc đoán. Chúa Cha đã không ngược đãi Chúa Kitô bằng cách bắt buộc Ngài phải giữ thinh lặng-từ bỏ. Chúa Giêsu đã nói: “Không ai lấy được mạng sống tôi, mà tôi tự trao hiến nó” (Ga 10,18). Nhưng khoa sư phạm của Thiên Chúa nhằm tạo nên trong ta, qua việc tự hủy, phương diện cốt yếu khác của thinh lặng nơi Chúa Kitô: thinh lặng – tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa (dù những vượt qua cần thiết có đau đớn thế nào đi nữa). Và lúc này vị cao niên phải can thiệp. Trong khi cố gắng hành xử giống Chúa Cha chừng nào có thể, nhiệm vụ của cha thiêng liêng là giúp người con thiêng liêng nhận ra thời giờ của Thiên Chúa và cùng với họ phân định xem hiện tại Chúa mời gọi họ làm gì, vác thập giá nào và vượt qua khỏi mình ở điểm nào. Đó là một việc sáng tạo chứ không phải hủy diệt. Ngày nay người ta có khuynh hướng cho rằng vâng phục kìm hãm sự triển nở của nhân vị. Nhưng vâng phục là vâng phục Chúa Cha thì ngược lại, đó không phải là dịp may duy nhất giúp ta vượt khỏi mình và đạt tới ân sủng làm triển nở mạnh mẽ nhất, ân sủng mà Chúa Kitô nói tới: “Không có tình yêu nào lớn hơn là hiến mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15,13) sao? Và Thiên Chúa lại chẳng dành sẵn ân sủng cùng với thử thách sao? (x. 1 Cr 10,13). Xin nêu lên một vài điểm trong những bước vượt qua để đi tới thinh lặng nội tâm lớn hơn.

a. Sự bất công hay những điều cực nhọc khó chịu thường có hậu quả đầu tiên là khiến cho tình cảm ta sôi sục và muốn nổi loạn. Mà, như Angelus Silesius nói: “Nếu có gì còn làm con bị xáo trộn, thì con chưa hoàn toàn được chôn trong mồ với Thiên Chúa”[40]. Trong những thử thách ấy, chiến thắng chính là sự thinh lặng ngoài môi miệng. Thinh lặng này dẫn ta tới thinh lặng trong tâm hồn giúp ta tránh hao phí sức lực và nương tựa vào tình yêu Chúa Kitô, Đấng ngự trong ta. Giai đoạn này có tính quyết định, vì tự sức mình, chúng ta không thể vượt qua được thử thách. Chân phước Elisabeth Chúa Ba Ngôi nói: “Dành sức lực cho Chúa, chính là tạo sự hiệp nhất trong toàn thân bằng sự thinh lặng nội tâm. Linh hồn nào tranh luận với cái tôi của mình, bận tâm đến những cảm xúc của mình, theo đuổi một tư tưởng vô ích, một ước muốn nào đó, linh hồn ấy sẽ làm hao phí sức lực, nó không hoàn toàn qui hướng về Chúa”[41]. Bước vượt qua này cần thiết tới độ Viện phụ Isaia nói: “Với người mới bắt đầu không gì hữu ích bằng sỉ nhục. Người mới bắt đầu mà được chịu đựng sỉ nhục thì giống như một cây được tưới nước mỗi ngày”[42], và khi có ai tố cáo con điều gì con đã làm, hay con không làm, – nếu con thinh lặng, con sẽ giống như Chúa Giêsu; – nếu con trả lời: “Tôi đã làm gì nào?”, là không giống Ngài; – nếu con cãi qua cãi lại, đó là con chống Ngài[43]. Thánh Gioan Thánh Giá bảo: “Nếu chúng ta muốn giữ tinh thần siêu nhiên thì tôi xin nhắc lại: không có phương thế nào hiệu nghiệm hơn là chịu đau khổ, hành động, thinh lặng, đóng các cửa giác quan lại, trầm mình vào thanh vắng, và có tình yêu nhạy cảm để chịu đau khổ trong mọi hoàn cảnh[44]. Thánh Têrêsa Lisieux nói: “Khi chúng ta bị hiểu lầm và bị kết án bất công, thì tự bào chữa, tự thanh minh nào có ích gì! Hãy bỏ qua, đừng nói gì cả. Thật là êm dịu khi chẳng nói gì, khi cứ để mình bị kết án thế nào cũng được. Ôi sự thinh lặng hồng phúc, làm cho linh hồn được bình an biết chừng nào!”[45]

 b. Nhưng không phải chỉ có những gian nan khốn khó bên ngoài. Mỗi người chúng ta đều gặp những bách hại nội tâm đến từ dục vọng, từ những điều thích thú và những xung lực ồn ào. Ở đây cũng thế, việc cởi mở tâm hồn với vị niên trưởng, được nói tới ở bậc khiêm nhường thứ năm, dẫn chúng ta vào sự thinh lặng của các khuynh hướng[46]. Cha thiêng liêng sẽ giúp phân định các tư tưởng và ước muốn của tâm hồn xem cái nào quan trọng, cái nào không, để Chúa Kitô cũng chiến thắng cả tiếng ồn ào của các dục vọng này nữa. Chân phước Elisabeth Chúa Ba Ngôi ghi chú: Để không gì kéo tôi ra khỏi sự thinh lặng tốt đẹp bên trong, tôi vẫn phải nắm giữ điều kiện đó, vẫn phải sống tách biệt, phải giũ bỏ hết. Nếu những ước muốn, những sợ hãi, những niềm vui hay nỗi khổ của tôi. Nếu mọi tác động đến từ bốn dục vọng này không hoàn toàn qui hướng về Chúa, tôi sẽ không có được sự thanh vắng, vẫn còn tiếng động trong tôi. Vậy, phải yên tịnh, các năng lực phải lắng dịu, phải có thống nhất nơi bản thân[47]. Và khi tội lỗi cũng như sự bất an mà tội lỗi kéo theo[48] dường như thắng thế và làm ta sao lãng Chúa, vai trò của cha thiêng liêng lại cũng không phải là giúp ta vượt qua chính mình bằng cách làm cho ta tin tưởng vào tình yêu Chúa ngay cả khi ta yếu đuối sao?

Nhờ kinh nghiệm bản thân về sự yếu đuối của mình và về tình âu yếm của Thiên Chúa, cha thiêng liêng sẽ làm tan đám mây bất an nội tâm, sẽ dẫn ta qua khỏi tâm trạng khô khan[49], khỏi sự nản lòng, và phục hồi bình an trong ta. Ngài giúp ta giữ cặp mắt hướng về Đấng yêu thương ta[50] và như thế đưa ta trở lại với thinh lặng nội tâm. Aphrate quả quyết rằng thinh lặng này là cầu nguyện, rồi ông thêm ngay:

“Thinh lặng kết hợp với một lương tâm nhạy bén có giá trị hơn là tiếng la lớn của con người”[51].

Vậy khi trải qua những việc thanh tẩy của bậc khiêm nhường thứ tư, đan sĩ noi theo sự thinh lặng-từ bỏ và sự thinh lặng-tin tưởng của Chúa Kitô. Họ nhận chìm ý riêng và cảm xúc của mình vào sự thinh lặng của Thiên Chúa và, như Chúa Kitô, tập trung vào ý muốn và sự hiện diện của một Đấng Khác.

3. Nơi bậc thứ mười một, thánh Biển Đức nói: “Người khôn thì ít lời”. Ở giai đoạn thứ ba này, chúng ta thấy lời nói ta đã hy sinh đi trong sự thinh lặng-từ bỏ được trả lại cho ta, sau khi đã được thanh tẩy cũng như được thấm nhuần bằng thinh lặng và sự phong phú của Thiên Chúa. Madeleine Delbrel đã ghi chú rất tinh tế rằng: Sự thinh lặng không thích nhiều lời. Chúng ta biết nói hay biết thinh lặng, nhưng chúng ta không biết bằng lòng chỉ nói những lời cần thiết thôi. Chúng ta không ngừng giao động giữa thái độ câm nín nặng nề và việc tuôn trào ra những lời nói quá sự thật[52].

Bậc khiêm nhường thứ chín, mười, mười một và mười hai là những dấu chỉ, tức là những dấu bên ngoài về sự bình an nội tâm nhiệm mầu hiện có nơi đan sĩ. Ở bậc thứ chín, chúng ta thấy rằng sau khi đã trải qua thinh lặng hiến tế của bậc thứ tư, như Chúa Giêsu đã thinh lặng, đan sĩ có thể nói, nhưng nói hết sức dè dặt. Bậc thứ mười cho hay đan sĩ dường như không còn khả năng dễ dàng cười nói ồn ào nữa. Bậc thứ mười một nêu lên sự nhẹ nhàng, từ tốn, nghiêm trang nội tâm trong lời nói của đan sĩ. Ở mức độ này, ta có thể nói lời ấy trào ra từ nguồn mạch, đó là Ngôi Lời. Lời đan sĩ nói được liên kết với con người nội tâm; lời nói ấy không làm con người nội tâm bị bất an, nhưng cho ta thấy được con người nội tâm đó. Lời nói ấy mang tính cách trang trọng, nghĩa là bày tỏ chính sự hiện diện của Chúa Kitô. Lời nói bên ngoài rất khó kiềm chế, như thánh Giacôbê nhận xét, thì bây giờ được thấm nhuần bởi Ngôi Lời ngự trong nội tâm. Nhờ tâm hồn đã được thanh tẩy, Ngôi Lời Nhập Thể bày tỏ sự hiện diện của Ngài để phục vụ anh em. Nơi đan sĩ đã được an định, được tái thống nhất, sẽ không còn chỗ cho khuynh hướng muốn tranh luận, phản kháng[53] hay cãi cọ nữa.

Có rất nhiều câu cách ngôn thú vị và hài hước mô tả những dấu hiệu bên ngoài của sự an định nội tâm[54] và bày tỏ nỗi ngạc nhiên trước sự an định ấy: “Thưa viện phụ Nisthérôos, do đâu mà cha có được nhân đức này, là khi trong cộng đoàn xảy ra chuyện gì gây bất ổn, cha chẳng nói gì, cha không can thiệp?”[55] . Nỗi ngạc nhiên này biểu lộ lòng thán phục của tất cả những ai, khi được ơn gần gũi những con người như thế, đã phát hiện ra nơi họ những ánh quang ban đầu của việc tạo thành mới. Thực vậy, theo kinh nghiệm của họ, đây không còn chỉ là việc tự chủ thuần túy nhân bản nữa, nhưng là một chứng từ lặng lẽ, đó chính là công việc của Thánh Thần. Lời nói được trả lại, nhưng thấm nhuần thinh lặng, và chính thinh lặng trở thành lời nói, hàm chứa lời nói nội tâm. Lời nói nội tâm này được nói ra với nội dung phong phú nhiệm mầu. Lời nói đó là chính lời Chúa Cha đã ban cho Con của Ngài nhờ ơn sủng Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ Tuần. Đó là ân sủng Chúa dùng Thánh Thần đổ tràn xuống cho tôi tớ của Ngài khi họ đã được thanh tẩy khỏi những khiếm khuyết và tội lỗi.

 

 


 

[1] Thánh  GIOAN  THÁNH  GIÁ,  Châm  ngôn  307,  trong  Oeuvres spirituelles de saint Jean de la Croix, Paris, Seul, 1947, tr. 1226. 

[2] I. HAUSHERR, Prière de vie, vie de prière, Paris, Lethielleux, 1965, tr. 421.  

[3]Thánh AUGUSTIN, Commentaire de la 1re Épitre de S.Jean, Tr. 4, 6-7: Sources chrétiennes 75, Paris, 1966, tr. 233. 

[4]G. CHOPINEY, Le silence dans la tradition monastique (chưa xuất bản).

[5]Saint IRÉNÉE DE LION, Contre les hérésies, IV, 39, 2-3: Sources chrétiennes 100**, Paris, Cerf, 1965, tr. 965-969.

[6]A. BLOOM, Prière et sainteté, Notes ronéotypées, Louvain, 1968, tr. 72.

[7]PSEUDO-ÉPHIPHANE, Homélie pour la Samedi Saint (PG 43,440-464) được trích dẫn trong H. URS VON BALTHASAR, Dieu et l’homme d’aujourd’hui, Paris ĐB, 1966, tr. 258.

[8] URS VON BALTHASAR, Les thèmes johanniques dans la règle de saint Benoit et leur actualité dans Colectanea Cisterciensia 37 (1975) tr. 6.

[9]x.1Cr 3,16; 6,19; 2 Cr 6,16; 1 Ga 4,4.

[10] GUARDINI, Le Seigneur, Paris, Alsaria, 1945, tr. 151.

 [11] PAUL GUSTIANIANI trong Jean LECLERCQ, Seul avec Dieu, La vie rmitique d’aprs la doctrine de Bx P.Gustiniani, Paris, 1955, tr. 144.

 [12]Jean TAULER, Homélie pour la veille des Rameaux trong Sermons de Tauler, bản dịch của Hugueny v Thery, Paris, 1928, tr. 301.  

 [13]EVDOKIMOV, Les âges de la vie spirituelle, Paris, DDB, 1964, tr. 64.

 [14]X.J. GOUILLARD, Petite Philocalie, Paris, Seuil, 1953, tr. 38.

 [15]PG 60, 752-755; x. Un moine de l’Église d’Orient, La prière de Jésus, Chevetogne, 1963, tr. 36.

 [16]25 Jean CASSIEN, Conférences , I, 13: Sources chrétiennes, 42, Paris, Cerf, 1955, tr. 91.

 [17]SAINT MAXIME, Cent.gnost. II, 80 (PG 90, 1161D-1164A); x. Myst. 7 (PG 91, 688B); Ambig. (PG 91, 1149B) và thánh Macaire, Hom. 15, 20 (PG 34, 589A).

 [18]SAINT JEAN DE LA CROIX, Vive flame d’amour, atr. 1, trong Oeuvres spirituelles de saint Jean de la Croix, Paris, Seuil, 1947, tr. 919.

 [19]PSEUDO- MACAIRE, Hom. 16, 7 (PG 34, 617D). X. JEAN CLIMAQUE, L’échelle, 28 (PG 88, 1133B v 25; PG 88, 1000D-1101A); GRGOIRE PALAMAS, Triades ou la défense des saints hésychastes, dẫn nhập và dịch bởi J.Meyendorff, Louvain, 1959, tr. 90.

 [20]MAITRE ECKHART, Instructions spirituelles 18, trong Les Traités, Paris, Seuil, 1917, tr. 70.

 [21]SYMÉON LE NOUVEAU THÉOLOGIEN, Catéchèse VI: Sources chrétiennes 104, Paris, Cerf, 1964, tr. 23.

 [22] D. AUGUSTIN BAKER, La sainte Sapience, t. 1, Paris, 1954, tr. 221.

 [23] H. URS VON BALTHASAR, Élisabeth de la Trinité et sa mission spirituelle, Paris, Seuil, 1960, tr. 94.

 [24] Trích dẫn trong Contacts (1960) 2, p. 129.

 [25]X. I. HAUSHERR, Les Lecons d’un contemplative. Le traité de l’Oraison d’Évagre le Pontique, No 149, Paris, Beauchesne, 1960, p. 180.

 [26] LAURENT DE LA RÉSURRECTION, L’expérience de la présence de Dieu, Maxime spir. 4, Paris, Seuil, 1947, p. 94-95.

 [27]PHILOXÈME DE MABBOUG, Lettre à un juif converti trong L’Orient Syrien, 6 (1961), p. 45.

 [28]SAINT BERNARD, Sermon 2 in Dom. I post Oct. Epiph. (PL 183, 161c: Bernardi opera, IV, p. 324.

 [29] RODOLPHE DE S. TROND, Cesta Bab. Trudon, VIII, 19.

 [30]SAINT BRUNO, Lettre à Raoul le Verd (PL 152, 421).

 [31]Charles de Foucauld et la fraternité, Maitres spirituels, Paris, 1961, p. 149

 [32] J. LOEW, Comme s’il voyait l’invisible, Paris, 1964, p. 65.

 [33] SAINT GRÉGOIRE DE NAZIANE, Lettre  à Palladios: Écrits des saints, Namur, Devolder, 1960, p. 115.

 [34] Lời Tựa sch của J. LECLERCQ, o.c.

 [35] URS VON BALTHASAR, Les thèmes johanniques dans la règle de saint Benoit et leur actualité, trong Collectanea Cisterciensia 37 (1975), p. 8.

 [36] J.C. GUY, Les Apophtegmes des Pères du désert  (Spir. Orient. No 1, Bellefontaine, s.d.), sr. Alph. Moise, 6; Macaire, 27.

 [37] Nt, Macaire, 41.

 [38]Nt, Antoine, 10. X. Vie de S. Antoine par S. Athanase, trong R. DRAGUET, Les Pres du desert, Paris, Plon, 1949, tr. 67.  

 [39] Arséne, 11, N. 195 trong Les senrences des Pères du désert, Solesmes, 1966, tr. 106.  

 [40] 206, Nt, tr. 109.

 [41]ANGELUS SILESIUS, Le Pèlerin chérubinique I, 34, Paris, Aubier, 1946.

 [42] LISABETH DE LA TRINITÉ, Dernière retraite, Dijon, Jobart, s.d., p. 4.

 [43] Abba Isaie, trong J.C. GUY, o.c. , p. 100.

 [44] Abba Isaie, Log. 3,4.  

 [45] SAINT JEAN DE LA CROIX, Lettre aux religieuses carmélites de Véas trong Oeuvres spirituelles se saint Jean de la Croix, Paris, Seuil, 1947, p. 1060.

 [46] SAINT JEAN DE LA CROIX, Lettre aux religieuses carmélites de Véas trong Oeuvres spirituelles se saint Jean de la Croix, Paris, Seuil, 1947, p. 1060.

 [47]  SAINT JEAN DE LA CROIX, Maxime 319, trong o. c., p. 1227. X. Lettre à Mère Éléonore Baptiste,  ibidem, tr. 1061: “Điều cần thiết hơn cho chúng ta là bắt đầu các khuynh hướng và lưỡi chúng ta im lặng trước nhan Thiên Chúa, vì ngôn ngữ Ngài thích nghe chỉ là thinh lặng của tình yêu mà thôi”.

 [48]ÉISABETH DE LA TRINITÉ, Dernière retraite, Dijon, Johart, s.d., p.21 

 [49]x. Về những “bất an” này, được so sánh với những con cáo trong vườn nho, x.SAINT JEAN DE LA CROIX, Cantique spirituel, str. 25, trong Oeuvres spirituelles de Saint Jean de la Croix, Paris, Seuil, 1947, tr. 825-826.

 [50] SAINT SYMON LE NOUVDEAU THOLOGIE: “Dần dần Ngài đã xua tan bóng tối trong con, Ngài đã xua đi đám mây bao phủ con, Nài đã mở tai thiêng liêng, Ngài đã thanh tẩy con ngươi của cặp mắt tâm trí con … và bỗng nhiên, Ngài xuất hiện như một mặt trời khác, ôi Thiên Chúa nhân hậu khôn tả”, Sermon 90, Éd. Du Mont Athos, II, 487-489. X. Vie spir. 28 (1931), p. 76-77.

 [51] TL 7, bậc thứ tư, trích dẫn Rm 8,37. 

 [52] APHRATE, Dmonatration, 22,26. 

 [53]Madeleine DELBREL, Le silence dans la ville, trong Christus, 49 (1.1966) tr. 5.

 [54]“Hãy chặt đứt khỏi con óc phản kháng đối với bất cứ điều gì, hãy khóc lóc và thống hối”, Matoès, 12 sér. Alph., d. J.C. Guy, sđd., tr. 191. – “Nếu ai chối mà nói ‘tôi không nói thế’, con đừng cãi lại mà bảo: ‘anh nói mà’, vì người ấy sẽ vặn lại con: ‘Ừ thì tôi nói đấy, rồi sao nào?’ “. Apophtegme, série anon. 63 Madeleine DELBREL, Le silence dans la ville, trong Christus, 49 (1.1966) tr. 5.

 [55]Chẳng hạn việc thử cãi nhau giữa hai người cao tuổi, J.C. Guy, sđd, tr.398, No 221 và giai thoại về con chim câu con hay con quạ, hoặc giai thoại về con heo rừng con: nt, tr. 297, No. 11.

 [56]J.C. GUY sđd, tr. 191, No. 11.

 

 

 

 

VẾT THƯƠNG

Hai tay con ướt đẫm,
Tươi rói những máu hồng,
Chúa,Tia-Nhìn-Thẩm-Thấu,
Thấy tình yêu con không?

Chúa ơi, nhích lại đây
Chén cứu độ vơi, đầy,
Giọt này thêm vào nữa
Cho Tình lên men say.

Điệp Lan Đình

 

 

 

 

Không Gì Quý Hơn

Tình Yêu Chúa Kitô

 

 J.M. Vianney Nguyễn Văn Ngọc

 

Các bạn thân mến!

Khi nói không lấy gì làm hơn hay quí hơn – tôi liên tưởng đến cái khẩu hiệu mà người Việt Nam ai cũng biết đó là:

“Không gì quí hơn độc lập tự do!”

Thế nhưng được độc lập tự do trên ba bốn chục năm nay rồi, chúng ta đã cảm thấy là không có gì quí hơn chưa? Đau ốm bệnh tật vẫn còn, nghèo đói vẫn còn, cướp bóc vẫn còn, ngu dốt vẫn còn, phân biệt đối xử vẫn còn… và vẫn còn rất nhiều thứ tệ nạn xã hội… vậy thì chưa thể bảo là “Không có gì quí hơn được?”

Nhưng khi tôi nói: “Không gì quí hơn tình yêu Chúa Kitô”. Thì tôi thấy ngược lại, có nghĩa điều đó là một chân lý đúng 100%.

Nếu tôi nói không gì quí hơn tình yêu vợ chồng – Không gì quí hơn ngọc trai, thì có thể sai – Nhưng nếu so sánh với tình yêu Chúa Kitô thì quả thật không có gì quí hơn:

-Thứ nhất: Vì tình yêu là chính Thiên Chúa như Thánh Gioan đã quả quyết: Thiên Chúa là tình yêu, mà nếu một khi được Thiên Chúa yêu thì còn gì quí hơn nữa.

-Thứ hai: Tình yêu nào mà chẳng đẹp chẳng quí – Nhưng cái đẹp, cái quí đó cũng có nhiều cấp bậc. Tình yêu Con người với con người dù đẹp dù quí mấy mặc lòng, làm sao so sánh được Tình Chúa.

Con người vốn hay thay đổi. Nay yêu nhiều, mai yêu ít. Trẻ yêu đậm đà, già yêu rỉ rả. Còn Chúa thì trước sau như một. Ngài bất biến, thì tình yêu của Ngài cũng bất biến, vì thế không thể nào so sánh được với tình yêu Thiên Chúa. 

Hồi tôi còn là một sinh viên, có một cô thỏ thẻ với tôi rằng: “Em yêu anh nhất trên đời, anh có yêu em không”. Tôi bảo: Cám ơn em, yêu thì có yêu, nhưng không yêu nhất trên đời được. Cô ta hỏi lại: Sao vậy anh? Tôi trả lời: Vì tôi đã có người yêu khác rồi. Ai vậy anh? Chúa Kitô

Nhưng cũng phải thành thật để nói rằng, vẫn biết mình muốn dành tình yêu ưu tiên cho một mình Chúa. Thế nhưng mỗi lần có dịp gặp gỡ một bông hoa đẹp, nhất là khi bông hoa đó thương mình. Tôi cũng muốn giơ tay hái, nghĩ rằng điều đó có tội vạ gì đâu – Nhưng lạ thay mỗi lần như vậy tôi thấy như Chúa nhìn tôi. Tôi cảm thấy thẹn thùng và rút tay lại. 

Nếu đã nói “không gì quí hơn”, thì cũng phải đề phòng đừng làm gì tệ hơn. Dù một ánh mắt, một nụ cười, một cái xiết tay mà thôi… đều có thể bôi bẩn, và làm lu mờ cái của quí hơn đó của mình. 

Khi đã cảm nghiệm không có gì quí hơn tình yêu Chúa Kitô, thì tất cả mọi thứ tình yêu khác đều phải được xếp hạng thứ hoặc loại bỏ. Mình không thể bắt cá hai tay. Đã chọn lựa là có loại bỏ. Bỏ cái này để lấy cái kia, bỏ cái xấu để lấy cái tốt hơn, quí hơn.

Hồi mới đi tu, mẹ tôi bảo: “Đi là đi luôn, đừng có về nghe con!”. Lời mẹ dặn, làm cho tôi suy nghĩ cả một đời. Có ai thương con bằng mẹ – Cha chết, lúc mẹ mới 20 – Nuôi con tới tuổi 15,16. Mẹ đã phải vất vả hy sinh biết bao nhiêu! Tại sao mẹ không muốn giữ mình ở lại bên mẹ – Rồi đây sớm hôm ai đi lễ, ai đọc kinh với mẹ. Ai sẽ đi kiếm củi, lấy nước cho mẹ thổi cơm – Ai quét sân, nhổ cỏ nhặt rau với mẹ – Ai coi nhà khi mẹ đi vắng vv… Tất cả những hình ảnh thân thương đó sao mẹ quên được, thế mà bây giờ mẹ lại bảo: “Đi luôn, đừng trở về nghe con”; lời dặn dò vắn vỏi đó, tôi biết mẹ muốn nói gì rồi: Xa con mẹ đau lòng lắm. Khác nào đứt ruột vậy, nhưng mẹ vì Chúa mà dâng con, thì con cũng phải vì Chúa mà tu cho đến cùng. 

Tình yêu gia đình dù có cao quí mấy cũng chỉ nhất thời. Còn tình yêu Chúa thì thiên thu vạn đại. Mẹ hy sinh con, vì mẹ biết tình yêu của Thiên Chúa cao quí hơn. Con mẹ sẽ hạnh phúc hơn khi hoàn toàn thuộc trọn về Chúa. Cám ơn! Mẹ đã cho con lời dặn dò vàng ngọc ấy.

 Người đời thường bảo: Tu là cõi phúc – Tình là dây oan. Đã biết tu là cõi phúc. Tại sao ít có người đi tu thế? Tình là dây oan. Tại sao ai cũng thích đeo dây oan đó vậy?

Đã hỏi thì cũng phải trả lời. Sở dĩ người ta ít đi tu là bởi vì người ta chưa cảm nhận được cái phúc đó như thế nào ? Mà muốn cảm nghiệm được cái phúc đó. Không phải một sớm một chiều mà được.

Ai cũng mê cái vị thế của ông bác sĩ, chỉ cần ống nghe qua loa trên bụng, trên ngực một cái là có mấy trăm ngàn rồi. Thế nhưng họ đâu có biết để làm được bác sĩ phải học hành,thi cử, tốn tiền tốn bạc suốt cả chục năm trời chứ đâu phải một ngày hai ngày mà được đâu.

Cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa cũng tương tự như thế: phải tìm, phải học, phải nghiền ngắm, suy tư và cầu nguyện…

Trên đời này bất luận cái gì quí đều phải trả giá, quí nhiều trả giá nhiều, quí ít trả giá ít.

Có một chàng trai con nhà giàu khôi ngô tuấn tú và thông minh. Anh ta hiểu rằng mọi sự trên trần gian này rồi sẽ có ngày qua đi. Chỉ có sự sống đời đời là quan trọng. Nhưng làm thế nào để có được sự sống đời đời? Anh đã từng đọc hết sách này sách nọ, cũng đã từng tìm đến các vị cao minh chỉ bảo nhưng anh đã không tìm được câu trả lời thỏa đáng. Rồi một hôm, anh nghe có ông thầy Giêsu đi ngang qua, anh ta tới gặp Ngài hỏi: “Thưa Thầy tôi phải làm gì để được sự sống đời đời”.

Trước hết Chúa đưa ra một số luật lệ mà một người đạo đức phải có như:

– Không được giết người

– Không ngoại tình

– Không trộm cắp

– Không làm chứng gian

– Thờ cha kính mẹ

– Yêu thương mọi người như mình.

Và anh đã hãnh diện trả lời: Những điều đó con đã giữ từ thuở nhỏ. Còn thiếu gì nữa không Thầy?

Có, còn điều cuối cùng này nữa là: “Đi bán hết tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi đến theo tôi”. Nghe lời đó, chàng trai buồn rầu bỏ đi vì anh ta có nhiều của cải. (Mt 19,16-22)

Chàng trai này: biết sự sống đời đời là quí, đi theo Chúa là quí, thế nhưng lại không dám trả giá, vì anh có nhiều của cải.

Thì ra của cải vật chất, không ngờ nó lại là một vật cản quá lớn khiến cho chàng trai: dù đã có một đời sống đạo đức tốt, dù thông minh đẹp trai có dáng vẻ nhà tu đấy, vẫn phải đầu hàng bỏ cuộc.

Rõ ràng biết đánh giá đúng chưa hẳn đã sống đúng. Giảng hay chưa hẳn đã sống hay. Nhiều người viết sách dạy đời được, nhưng lại không dạy mình được. Đấy là lý do mà Cha Tổ Phụ Benoit Henri Denis. Đã bỏ hết tất cả để chôn mình trên rừng vắng Phước Sơn.

Chấp nhận mất hết địa vị, mất hết của cải, mất hết bạn bè, thân nhân… Dấn thân vào một cuộc sống khổ hạnh: Cơm ăn không đủ no, giường nằm không đủ ấm, phải thức khuya dậy sớm, phải lao động vất vả, đương đầu với rừng thiêng núi độc…
Vâng, Ngài đã phải trả một giá rất đắt để mua cho được “kho tàng vô giá” đó là tình yêu Chúa Kitô. Chỉ có những người như Cha Tổ Phụ mới hiểu được:

Tu là cõi phúc”.

Lời Chúa mời gọi:

Ai muốn theo ta phải từ bỏ mình, vác thập giá mình.

Ai yêu cha mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.

Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.

Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất. Còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy”. (Mt 10,37-38)

Những lời chúng ta vừa trích dẫn như là điệp khúc của bản nhạc trường ca của “Tình yêu Chúa Kitô”. Từ thấp lên cao, từ nhỏ nhẹ tới mạnh mẽ hùng hồn, làm rung động bao tâm hồn khát khao đi tìm Chúa. Và dù tiếng nhạc chấm dứt nhưng còn cái dấu lặng… thấm dư âm ngọt ngào hạnh phúc vào từng thớ thịt con tim.

Thật không gì hạnh phúc bằng khi con tim cảm nếm được tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa. Một tình yêu mà cho dù tình yêu cả thế gian này gộp lại cũng chỉ là cái bong bóng mà thôi…

Nói đến đây tôi nhớ bài hát của Thánh Tôma:

Nil canitur suavius

Nil auditur jucundius,

Nil con gitatur dulcius

Quam Jesus Dei Filius

Tạm dịch:

Không bài ca nào êm dịu hơn

Không lời nói nào vui thú hơn

Không ý tưởng nào ngọt ngào hơn

Đức Giêsu Con Thiên Chúa.

Vẫn biết rằng để được yêu và yêu bao giờ cũng cần phải có những điều kiện tối thiểu như trên chúng ta vừa đề cập tới trường hợp của người thanh niên giàu có.

Nhưng nếu chúng ta đọc kỹ những lời như van xin, như năn nỉ sau đây, chúng ta sẽ thấy tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu cho không, biếu không. Tin mừng Thánh Gioan đoạn 14, chúng ta thấy Chúa Giêsu lặp đi lặp lại: Hãy yêu Thầy. Không những Chúa năn nỉ, mà Chúa còn hứa ban cho một phần thưởng tuyệt vời: đó là sự hiện diện của Thiên Chúa. Chúng ta đọc chậm rãi những dòng chữ thật cảm động sau đây:

“Nếu anh em yêu mến Thầy. Thầy sẽ xin Cha và Người sẽ ban một Đấng Bảo Trợ khác ở với anh em mãi mãi”. (14,16) Đó chính là sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.

Rồi Ngài thêm: “Nếu anh em yêu mến Thầy, Thầy sẽ không để anh em mồ côi, Thầy sẽ đến với anh em và Thầy sẽ tỏ mình ra cho anh em” (14,18-21). Đó là sự hiện diện của Ngôi Con. 

Tiếp đến lời hứa thứ ba:

“Nếu ai yêu mến Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và chúng ta sẽ đến với người ấy, và chúng ta sẽ ở lại với người ấy”.

Đây là sự hiện diện của Cha.

Như vậy, ai yêu mến Chúa, thì sẽ được không phải chỉ có Chúa Giêsu mà cả Ba Ngôi Thiên Chúa: Cha, Con và Thánh Thần đến ở trong họ. Có Ba Ngôi Thiên Chúa là có cả Thiên Đàng.

Đây không còn chỉ là điều suy diễn, mà là một sự thật, một lời hứa của chính Đấng tự xưng mình là: “Ta là Đường là sự thật và là sự sống”. Mến chào các bạn trong Chúa!

 

 

 

 

Đặc Sủng Yêu Mến

Đức Kitô Trên Hết

 

Thư Lễ Hiện Xuống 2012
Fr. Mauro-Giuseppe Lepori,
Tổng Phụ Xitô

 

Gặp gỡ Đức Kitô tại Philadelphia

Nhà trực thuộc đan viện Casamari tại New Jersey rất gần Philadelphia. Từ lâu, cái tên của thành phố này đã gợi lên trong tôi ước muốn được chiêm ngưỡng bức“chân dung Đức Kitô” của danh họa Rembrandt đang được lưu giữ tại“bảo tàng nghệ thuật”. Các đan sĩ và các thân hữu của họ đã sắp xếp cho tôi một chuyến viếng thăm bảo tàng này. Càng đến gần bảo tàng viện, tôi càng thêm mong muốn được ngắm bức tranh trong đó dung mạo Đức Kitô được họa theo cùng một dung mạo và cùng một kích thước với dung mạo của một thanh niên Do thái mà danh họa Rembrandt đã gặp ở khu phố của người Do thái tại Amsterdam. Và tôi không hiểu tại sao bức chân dung ở Philadelphia này là một phiên bản gợi lên trong tôi nhiều ý tưởng nhất. Chúng tôi vào thăm ngay các phòng trưng bày các tác phẩm của các danh họa cùng thời với Rembrandt, nhưng chúng tôi không tìm thấy bức tranh tôi yêu thích. Chúng tôi phần nào nản lòng khi được các nhân viên của bảo tàng cho biết đại khái lại là “bức tranh đã được chuyển đi nơi khác… đang được phục chế… hay đang ở trong nhà kho…”. Thế là tôi đành phải chấp nhận không được ngắm bức tranh ấy và tự an ủi mình rằng còn có thể chiêm ngắm vô số những kiệt tác quý báu khác của bảo tàng viện. Nhưng trong tim tôi lại loé lên một câu nói có phần nào giống như Maria Madalenna vào rạng sáng ngày phục sinh, và tôi đã muốn nói với các nhân viên của bảo tàng: “Nếu quả thật bức tranh ở trong nhà kho, các vị hãy cho tôi biết, tôi sẽ đến đó để tìm kiếm nó!”. Vì tôi quá yêu thích bức tranh này, nên tôi đã tưởng nghĩ rằng có thể là bức tranh đã được cất giữ ở một cách đặc biệt, hoặc là những trung tâm của đại sảnh, hoặc có thể được bảo vệ trong lồng kính an toàn, mà người ta phải xếp hàng chờ đến phiên mình vào ngắm thưởng, bởi chắc chắn rằng sẽ nhiều người từ bốn phương về đây chiêm ngắm bức tranh ấy, cũng giống như bức Gioconda của Leonardo da Vinci tại Louvre, hay bức tượng sầu bi của Michelangelo. Và rồi lúc ngắm tranh trong một phòng khá trống trải tôi không mấy hứng thú khi lần lượt xem các bức họa mô tả từ cảnh thiên nhiên đìu hiu cho đến cảnh săn bắn, rồi tôi đi qua bức tranh mà tôi đã háo hức tìm kiếm bấy lâu nay, nhưng tôi lại không nhận ra nó, cho đến khi một người bạn nhắc tôi: “Đây quả là Đức Kitô của Rembrandt!!”.

Bức tranh này nằm ở một góc phòng như bao bức tranh khác. Tôi run lên vì sung sướng như thể gặp lại người bạn chí thiết mà tôi đã thất lạc bao năm và tưởng rằng người ấy đã không còn trên thế gian này nữa. Hiếm có bức tranh hay bức Icon nào đã làm tôi gặp được Đức Kitô như tác phẩm này của Rembrandt. Sau đó, sự chiêm ngưỡng đã trở thành lời nguyện cầu, phút chiêm niệm, cuộc đối thoại với Đức Giêsu. Và tôi tự hỏi tại sao, tại sao bức chân dung lại có thể nói cho tôi cách mãnh liệt về mầu nhiệm của Đức Ktô.

Ngắm nhìn bức tranh thật lâu trong thinh lặng, tôi dần dần nhận ra rằng sự thu hút của bức tranh này không xuất phát từ vẽ đẹp bề mặt, hay tự dáng vẽ của nó, nhưng từ phần nội tại vô hình mà Rembrandt đã diễn tả một cách rất thành công. Đó chính là dung mạo Đức Kitô hội tụ và tập trung nơi Thánh Tâm Người trong mối tương quan với Cha. Đồng thời, dung mạo ấy cũng thể hiện sự chú tâm đến người khác, đến người ngồi ở vị trí lý tưởng, bên phải của Người, mà Đức Giêsu đã hướng ánh nhìn và cả tai phải hiện rõ trên một nền tóc của Người theo chiều này. Đặc biệt khuôn mặt Đức Giêsu được tỏa sáng bởi một chùm ánh quang làm sáng khuôn mặt từ trên cao.

Rembrandt đã thành công khi làm toát lên nơi Đức Giêsu tính liên kết và tính đồng bộ giữa sự chú tâm nội hướng về Cha và sự lưu tâm ngoại hướng về nhân loại, về tất cả chúng ta. Một sự lưu tâm vừa nội hàm, vừa ngoại chiếu hội nhập trong sự khiêm nhường của Đức Kitô, tình yêu khiêm cung của Đức Kitô hướng về Cha và hướng về con người. Đây chính là vẽ đẹp của Đức Kitô, vẽ đẹp có sức đánh động và lôi cuốn chúng ta, và làm cho mỗi lần chúng ta gặp Người, chúng ta lại được mạc khải về Cha cũng như về chính con người của chúng ta. Phải chăng đây cũng là chính Dung Mạo mà tất cả các môn đệ đã thấy khi gặp Đấng Phục sinh, Dung Mạo đã hiển hiện trong cuộc đời và nơi trái tim của họ? Phải chăng đây chính là Dung Mạo mà thánh nữ Maria Madalena đã thấy khi Đấng Phục sinh gọi đích danh bà? Phải chăng đây cũng chính là Dung Mạo mà các môn đệ trên đường về Emmaus đã từng thấy nhưng không nhận ra Người, và họ chỉ nhận ra Người trong khoảnh-khắc-vĩnh-cữu lúc Người bẻ bánh? Phải chăng cũng với Dung Mạo ấy, Đức Giêsu đã hỏi Phêrô ba lần: “Anh có yêu mến Thầy không?”.

 

Lòng mến Chúa trên hết làm tái sinh chúng ta

“Cuộc gặp gỡ” ngoài mong đợi và đường đột với mầu nhiệm của Đức Ki-tô tại bảo tàng viện Philadelphia bất chợt diễn ra vào cuối cuộc hành trình dài hai tháng để viếng thăm các Đan viện trong dòng ở Brasil, Chilê, Bolivia và tại Mỹ. Một lần nữa, như chuyến viếng thăm Việt Nam vào năm ngoái, và chuyến viếng thăm Etiophia hồi tháng giêng năm nay, tôi đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm đẹp và quý báu qua những cuộc gặp gỡ huynh đệ; tôi hiểu rõ những vấn đề, những khó khăn của các cộng đoàn, và cả sự mệt mỏi nữa. Bức tranh Rembrandt nhắc nhở tôi rằng ý nghĩa và mục đích, sự hài hòa và tính thống nhất của những kinh nghiệm không nằm trong lòng bàn tay của tôi, trong sức mạnh của tôi, trong những đánh giá của tôi, cũng không nằm trong tay, trong sức mạnh nỗ lực và sự đánh giá của người khác, mà trong chính mầu nhiệm của một Dung Mạo đã từng đến để gặp gỡ cách cá nhân từng người chúng ta với một trái tim chan chứa tình yêu thẳm sâu của Cha và lôi kéo tất cả đến cùng Người. Và đây chính là điều đã giải thoát tôi giữa bao nhiêu âu lo, mâu thuẫn giữa những cảm thức sâu xa về những giới hạn của chính bản thân tôi và của những anh chị khác.

Điều đã làm tái sinh tôi trong kinh nghiệm này đó chính là canh tân trong nội tâm lòng mến Đức Ki-tô trên hết mọi sự, một chọn lựa ưu tiên vốn là kinh nghiệm khởi thủy của ơn gọi chúng ta và của mọi ơn gọi. Ưu tiên yêu mến Đức Kitô mang tính hỗ tương vì con tim của chúng ta quyết định và yêu mến trên hết mọi sự Đấng đã yêu chúng ta từ trước, và đã ưu tiên chọn chúng ta trước một cách nhưng không. Chúng ta ưng thuận ơn gọi của chính mình khi chúng ta ưu tiên chọn Đấng đã ưu tiên chọn lựa chúng ta. Chúng ta chấp nhận bỏ tất cả vì Đấng, đã vì chúng ta, bỏ cả “địa vị ngang hàng với Thiên Chúa”, để làm người, chết vì chúng ta và đã sống lại (x. Pl 2,6-11). Chúng ta bán tất cả để đạt được viên ngọc quý vô giá được trao ban cho chúng ta (x. Mt 13, 45-46).

Sự chọn lựa ưu tiên hỗ tương giữa các chủ vị là một sự trao đổi yêu thương, luôn là cốt lõi của mọi ơn gọi. Nhưng theo sự thường, hành trình ơn gọi cũng bao hàm cả sự hao mòn ý chí chọn lựa ưu tiên. Sau cuộc gặp gỡ mang tính quyết định, cuộc sống tiếp diễn ra với những đòi hỏi của nó, với những trách nhiệm và gánh nặng, với những thăng trầm thử thách, với những hy vọng và thất vọng. Sự chọn lựa ưu tiên vốn ban đầu rất rõ ràng và dứt khoát, dần dần trở lên kém rành mạch, ít cương quyết và thiếu nhiệt tâm. Chúng ta cảm nghiệm được mình thật mỏng dòn, bất lực để có thể đương đầu với cuộc sống trong niềm tin yêu và sức mạnh cần thiết. Thông thường, dù có cảm nghiệm được điều này, nhưng chúng ta không hiểu rằng cái mà chúng ta phải tìm kiếm trước tiên không phải là sức mạnh, và niềm vui nhưng chính là sự ưu tiên chọn Đức Kitô, một sự chọn lựa ưu hỗ tương thúc đẩy chúng ta từng ngày trên hành trình ơn gọi của chúng ta.

 

Hồng ân chính yếu của Thần Khí

Bài đọc trích sách Công Vụ Tông Đồ trong mùa phục sinh giúp tôi nhận ra hiệu quả của biến cố Ngũ Tuần mà trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ tới. Khi các Tông Đồ và các môn đệ rời khỏi nhà tiệc ly, họ đã nhận được những ơn lạ: Ơn ngôn ngữ, ơn chữa lành, ơn rao giảng làm hoán cải đám đông dân chúng. Tất cả những điều này ai cũng cảm nhận được, nhất là chính các môn đệ. Thế nhưng, lý do là những ơn này không còn nổi bật trong đời sống của Giáo Hội sau này đã làm chúng ta hiểu rằng hiệu quả quan trọng nhất của biến cố Ngũ Tuần không nằm ở chỗ những ơn này. Một ơn khác, sâu xa hơn và thường tồn, đã được Chúa Thánh Thần thông truyền cho các môn đệ, hồng ân này thể hiện sức sống của Giáo Hội qua mọi thời đại: Ơn ưu tiên chọn Đức Ki-tô, đặc sủng không lấy gì làm hơn Đức Kitô.

Ưu tiên chọn Đức Kitô thật sự là một ân huệ quan trọng của Thần Khí, một hồng ân chúng ta cần có nhất, một hồng ân giúp chúng ta đón nhận tất cả những ân huệ khác trong chân lý và sự sung mãn. Thật vậy, những ân huệ khác của Thần Khí, nếu không được đón nhận vì sự ưu tiên dành cho Đức Kitô, sẽ đi lệch khỏi bản chất và mục đích của chúng, thay vì phục vụ cho việc xây dựng Nước Chúa, lại đi phá hoại nước ấy. Bởi vì Nước Chúa là sự ưu tiên chọn Đức Kitô.

 Thật vậy chúng ta thấy rằng các Tông Đồ vốn đã rất sợ sệt, chốn bỏ Đức Kitô đã từng ưu tiên chọn chính bản thân mình hơn là chọn Người, nay nhờ biến cố Ngũ Tuần, lại trở nên hân hoan chịu bách hại vì Danh Đức Giêsu (Cv 5,41-42); trở nên những con người không sợ bất cứ điều gì và bất cứ ai, kể cả tù ngục, áp bức, họ vẫn vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm, không màng đến của cải hay ích lợi cho các tác vụ của họ. Đối với họ, ưu tiên chọn Đức Kitô là tất cả. Tình yêu Đức Kitô quý hơn cả mạng sống.

Chúng ta hãy nghĩ tới Simon Phêrô. Đâu là ước ao lớn nhất đang ẩn dấu trong thâm tâm khi ông đón chờ biến cố Ngũ Tuần cùng với Đức Trinh nữ Maria, với các Tông Đồ, và các môn đệ khác? Ông đã cầu xin Chúa Thánh Thần điều gì trong khi ông đang chờ đợi Người trong nhà tiệc ly ở Giêrusalem? Ân huệ nào ông mong muốn hơn tất cả?

Tức khắc chúng ta nghĩ tới rằng ngài đã mong đợi sức mạnh để không còn yếu đuối, sự dũng cảm để không còn phải là nạn nhân của sự khiếp sợ, ơn khôn ngoan và hùng biện để rao giảng Đức Kitô cho đám đông… nhưng chúng ta quên rằng Phêrô đã từng được Đức Giêsu chất vấn ba lần “Anh có yêu mến Thầy không?”, và, vẫn chưa đủ, “Anh có yêu mến hơn các anh em này không?” (Ga 21, 15-17). Đức Giêsu bày tỏ cho ông biết Người muốn được yêu và được chọn ưu tiên. Và Phêrô đã đáp lại ba lần một tiếng vâng trước câu hỏi khiêm nhường tha thiết của Con Thiên Chúa. Nhưng Phêrô biết rằng ông không còn cậy vào chính mình nữa. Ông biết ông không thể bảo đảm rằng ông sẽ không còn chối bỏ Thầy mình nữa.

Tôi chắc rằng ngài đã chờ đợi Thần Khí mà Đức Giêsu đã hứa với chỉ một ước mong là có thể đáp lại bằng trọn con tim và trọn đời mình khát vọng được ưu tiên trong tình yêu của Đức Giêsu. Phêrô đã cầu xin Thần Khí ơn được chọn – Đức Giêsu làm phần ưu tiên và chính Đức Giêsu đã đề nghị ông hãy có ý hướng cầu nguyện chính yếu này, một ý hướng phù hợp với điều mà Thần Khí muốn ban cho chúng ta, và tự trao mình cho chúng ta.

Nếu chúng ta không cầu xin và không đón nhận hồng ân chính yếu này của Đấng Bảo Trợ thì như thể chúng ta đã từ chối đón nhận những hồng ân và những ân sủng khác mà Chúa Thánh Thần muốn truyền ban cho chúng ta. Thật vậy, không có đặc sủng, không có ơn gọi nào, không có sứ vụ nào, không có một thừa tác vụ nào, không có bí tích nào tìm được ý nghĩa và sự sung mãn của mình nếu trong chúng ta thiếu đi sự rộng mở để đón nhận ân sủng thiết yếu hầu có thể yêu mến Đức Kitô hơn tất cả mọi sự.

Vì ân sủng, ân huệ của Thần Khí nên điều này muốn nói rằng chúng ta luôn luôn có thể trở lại để ưu tiên chọn Đức Kitô, dù chúng ta có thường từ chối ơn huệ đó cách cá nhân hay tập thể, chúng ta luôn luôn có thể đón nhận hồng ân ấy thêm lần nữa, có thể liên lỉ cầu xin Thần Khí và tin chắc sẽ nhận được hồng ân đó.

Vấn đề nằm ở chỗ là chúng ta thường không cầu xin và không mong chờ ơn sủng thiết yếu này của Chúa Thánh Thần. Chúng ta cầu xin Người những điều chúng ta thiếu, cộng đoàn chúng ta cần, nhưng chúng ta quên không cầu xin điều không chỉ chúng ta còn thiếu mà cả Đức Giêsu cũng thiếu: đó là tình yêu của chúng ta được dành ưu tiên cho Người. Đây cũng chính là ân sủng mà Thần Khí, Đấng là Lửa, muốn trao ban cho chúng ta.

Trong mọi hoàn cảnh và đối với mọi vấn nạn, nếu chúng ta không tái khởi hành bằng việc nài xin Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta ơn không lấy gì làm hơn Đức Kitô (Tu Luật 4,21; 72,11), không có gì quý hơn Đức Kitô (Tu Luật 5,2), thì sẽ không bao giờ có sự canh tân đổi mới. Chúng ta sẽ đi vòng quanh sự hư vô để rồi cứ phải đối mặt và giải quyết cùng một vấn nạn, không hề có gì là mới mẽ, một sự đổi mới phải đến từ trên cao. Chỉ một người, chỉ một trái tim chân thành khiêm cung cũng đã đủ để nài xin Thần Khí hồng ân chính yếu là yêu mến Đức Giêsu, cho tất cả mọi người, bởi vì sự canh tân bất chợt diễn ra cách mãnh liệt không thể kháng lại, như khi Phê-rô rời nhà tiệc ly, làm cho ông thỏa lòng mong đợi đáp lại khát khao tình yêu của Đức Giêsu. Chiếc bóng của ông cũng đủ làm nên nhiều phép lạ (Cv 5,15-16), bởi vì trái tim của ông đã đón nhận ánh mặt trời rực nóng của lòng mến Đức Kitô trên hết. Ông đã chia sẻ kinh nghiệm của chính mình cho các tín hữu và mời gọi họ hãy đối diện với những chống đối và bách hại “Hãy tôn vinh Người làm Chúa ngự trong lòng anh em. Hãy luôn sẵn sàng, hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em” (1 Pr 3,15).

 

Hiệp thông trong tình mến sâu đậm

Khi Phaolô không chút do dự, trực chỉ đi về Giêrusalem, nhiều người can ngăn ông không nên thực hiện dự định này; bởi vì họ biết rằng tại Giêrusalem, Phaolô sẽ bị bách hại. Chính Thần Khí soi sáng cho họ về những điều sẽ xảy đến 

với Phaolô (x. Cv 21,4.10-11). Nhưng Phaolô đã không đổi ý vì nỗi sợ hãi hợp lý của các bạn hữu mình: Nghe vậy, chúng tôi và những người địa phương nài xin ông Phaolô đừng lên Giêrusalem. Bấy giờ ông Phaolô nói: “Có gì mà anh em phải khóc lóc và làm tan nát trái tim tôi? Phần tôi, tôi sẵn sàng không những để cho người ta trói mà còn chịu chết tại Giê-ru-sa-lem vì danh Chúa Giê-su”. Không thể thuyết phục được ông, chúng ta đành thôi và nói: “Xin cho ý Chúa được thể hiện!” (Cv 21,12-14).

Đoạn Kinh thánh soi sáng cho chúng ta về cách thức mà chúng ta phải luôn luôn cầu xin và đón nhận ánh sáng của Chúa Thánh Thần. Thánh Phaolô đã hiểu rằng nếu Thánh Thần cho ngài biết về định mệnh của mình không phải để ngài chạy trốn mà để sẵn lòng đón nhận nó vì lòng yêu mến Đức Kitô. Điều đã hướng dẫn cuộc hành trình của Phaolô không phải là sự bất cẩn hay là sự ngạo mạn, hay là ước muốn không lấy gì làm hơn Đức Kitô, ngay cả tự do và mạng sống của mình. Chúa Thánh Thần không soi sáng cho chúng ta để phục vụ cho những sung sướng thoải mái của chúng ta, nhưng là nâng đỡ chúng ta thực hiện cách tự do và ý thức những chọn lựa vốn có thể giúp cho yêu mến Đức Ki-tô hơn chính bản thân chúng ta, như thánh Biển Đức đã nói vào cuối tu luật “Tuyệt đối không lấy gì làm hơn Đức Kitô, nguyện xin Người hướng dẫn tất cả chúng ta đến cuộc sống muôn đời” (Tu Luật 72,11-12).

Những người bạn của Phaolô đã đón nhận chứng tá của ngài, thay vì ngăn cản hành trình của ngài, họ đã cùng đồng hành với ngài vì được lôi cuốn bởi chính sự hấp dẫn của tình yêu sâu đậm mà ngài dành cho Đức Giêsu. Cũng như Đức Maria trong ngày Truyền Tin, họ được lôi cuốn bởi chính lòng mến của Phaolô và họ đã thuận theo thánh ý của Chúa: “Xin cho ý Chúa được thể hiện!”.

Đẹp thay một sự đồng hành huynh đệ trong đó lòng mến Chúa trên hết của một người đã hấp dẫn những người khác cùng yêu mến Chúa hơn chính mình! Lòng mến Chúa trên hết này không phải là sức năng động bền bỉ vốn có thể hiệp nhất và hòa giải các cộng đoàn của chúng ta trong tất cả những chọn lựa mà chúng ta phải quyết định trên hành trình ơn gọi của chúng ta hay sao?

 

Yêu mến không lấy lại

Phêrô, Phaolô đã lãnh nhận từ Thánh Thần hồng ân yêu mến Đức Giêsu trên hết, lãnh nhận cả sự tự do yêu mến Người mà không cần lấy lại như chính Người đã yêu mến chúng ta cách nhưng không trong sự tự do thần linh của Người.

Nhưng yêu mến không lấy lại có nghĩa là gì ?

Trong Phúc âm theo thánh Gioan chương 10, Đức Giêsu thể hiện sự tự do Vượt Qua của Người: “sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại.

Mạng sống của tôi, không ai lấy được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (Ga 10,17-18).

Đức Giêsu đã sống tự do của Người trong không gian vô tận của việc vâng phục Thánh Ý Cha. Mệnh lệnh của Cha không làm suy giảm tự do của Con, bởi vì Cha muốn và yêu cầu Con sự tự do trao ban và lấy lại mạng sống của mình. Quyền lấy lại nói lên rằng quyền trao ban là tự do thật sự, và tự do hoàn toàn. Đức Giêsu trao ban điều mà Người có thể lấy lại. Nhưng thực ra Đức Giêsu không hề lấy lại sự sống của mình: Người đã đón nhận sự sống từ Cha, Đấng cho Người tự do lấy lại sự sống ấy. Chúa Con có thể lấy lại mạng sống của Người bất cứ lúc nào trong cuộc Khổ Nạn của Người, từ vườn Giêtsêmani cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Đức Giêsu đã trao lại tự do này trong tay của Chúa Cha và trong hành động vâng phục, tín thác, Người đã trao lại cho Cha tự do mang lại cho Con mạng sống khi và như Cha muốn.

Đây chính là sự vâng phục mà lời khấn đan tu muốn thể hiện, và chúng ta thường hay lãng quên chiều sâu của nhịp thở Ba Ngôi trong ơn gọi đan tu của chúng ta, trong các lời khấn của chúng ta. Thánh Biển Đức ý thức rất sâu sắc về điều này, và chúng ta có thể tìm thấy một cách rõ ràng trong Tu Luật lời mời gọi sống tất cả những đòi hỏi của đời sống đan tu, noi theo sự tự do của Đức Kitô, Đấng đã trao mạng sống của mình, từ bỏ quyền lấy lại mạng sống để rồi nhận lại nó từ tay Cha, rồi thăng hoa sự sống ấy gấp trăm lần trong hồng ân và niềm vui phục sinh. Sau khi tuyên khấn với tất cả tự do và suy nghĩ chín chắn, đan sĩ không thể từ bỏ đan viện và những đòi hỏi của Tu Luật (Tu Luật 58,15-16); không trông mong được danh vọng và lợi lộc từ chính tài năng và công việc của mình (Tu Luật 57), từ đẳng cấp xã hội của mình (Tu Luật 2,16-22), hay từ chức vụ linh mục (Tu Luật 62, 2-4). Thánh Biển Đức tóm tắt thái độ này khi ngài nói về sự thanh bần: “Mọi nhu cầu, hãy mong chờ nơi gia trưởng, không bao giờ đan sĩ được có của gì mà không do viện phụ phân phát hay cho phép” (Tu Luật 33,5).

Nhiều lần chúng ta thay đổi bản chất của sự dấn thân đan tu, đòi lại và lấy lại tình yêu và dành tình yêu ấy cho riêng bản thân chúng ta. Chúng ta không hy vọng, không mong chờ hồng ân đến từ Cha.

Thật vậy, niềm hy vọng và chờ đợi này chính là tột đỉnh của lời loan báo Phục Sinh, và là sự hoàn thành Sự Sống thật của chúng ta trong Đức Kitô. Khi Đức Giêsu nói với Maria Madalena: “Đừng giữ Thầy lại”, Người cho biết ngay lý do sâu xa của lời đề nghị: “… bởi Thầy chưa lên cùng Chúa Cha”.

Nhưng hãy đi gặp anh em của Thầy và bảo họ : “Thầy lên cùng Cha của Thầy cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em” (Ga 20,17).

Đức Giêsu không muốn rằng tình yêu của chúng ta dành cho Người lại bị rút lại về tay chúng ta, chúng ta dần dần lấy lại tất cả khi chúng ta vươn dài cánh tay của mình ra để thu tóm mọi sự trong khả năng của chúng ta, trong cảm giác của chúng ta, trong những tham vọng của chúng ta. Thực vậy, chúng ta được tạo dựng và được cứu chuộc: chúng ta được dựng nên cho một trở lại với tình yêu xuất phát từ trái tim của Chúa Cha, từ tình yêu giữa Cha và Con: Chúa Thánh Thần. Và sự trở về với tình yêu Ba Ngôi quả là lớn lao bởi chính chúng ta phải tự đón nhận: “Hãy đi gặp anh em của Thầy và bảo họ… Cha của anh em … Chúa của anh em”. Hồng ân này của Cha dành cho mọi người là hoa trái của tình mến nhưng không của Ba Ngôi. Bởi vì Cha và Con “không giữ lại gì cho mình”- cho đến mức hy sinh trên Thập giá – đã trao ban chính mình cho chúng ta, và chúng ta có thể chiếm hữu Người trong sự sung mãn vượt quá mọi thứ “lấy lại”, hay những ích lợi mà chúng ta có thể khao khát và gặt hái cho riêng mình, như Adam và Eva xưa đã từng hái trái cấm.

 

Tự do và vâng phục

“Bà Maria Madalena đi báo tin cho các môn đệ tôi đã thấy Chúa!, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà” (Ga 20,18).

Nếu bà Maria Madalena đã đón nhận ngay sự tự do chống lại với khuynh hướng chiến hữu để rồi nắm giữ và vật hoá lòng mến của mình, nếu bà khởi hành ngay, không cần nhiều lời giải thích để chu toàn sứ vụ loan báo tin vui về sự Phục Sinh và sự hiển trị của Đức Giêsu bên hữu Chúa Cha, Đấng là Cha của chúng ta và là Thiên Chúa của chúng ta, là bởi vì bà đã thấy Chúa và đã lắng nghe Người “Tôi đã thấy Chúa, và đây là những lời Người đã nói với tôi”.

Sự tự do của chúng ta sẽ không bao giờ được hoạt hoá hay trở thành sứ vụ nếu Dung Mạo và Lời của Đấng Phục Sinh không trở nên kho tàng của trái tim chúng ta, một kho tàng mà chúng ta không cần phải níu giữ bởi chúng ta chắc chắn rằng Cha luôn ban tặng cho chúng ta. Đây chính là bí mật của sự vâng lời tự do và sung mãn. Lời loan tin của bà Maria Madalena, sứ vụ rao tin cho các môn đệ là môt hành động vâng phục Đức Kitô hằng sống. Bà đã chiêm ngắm, lắng nghe Người để rồi có thể loan báo về Người trong sự chia cách, trong sự vâng phục. Sự vâng phục của chúng ta là sự tôn vinh trọn vẹn giá trị sự tự do của chúng ta nếu trái tim chúng ta sống tự do và hướng sự tự do ấy về nguồn mạch đích thực: Yêu mến trên hết một Đức Kitô sống động và hiện diện, Đấng chúng ta chiêm ngắm và lắng nghe với tất cả tình yêu.

Đây cũng là điều thánh Biển Đức diễn tả ngay những dòng đầu tiên trong chương nói về sự vâng phục: “Vâng phục không chậm trễ là bước đầu tiên của đức khiêm tốn. Đó là nhân đức của những người không quý chuộng gì hơn Chúa Kitô”(Tu Luật 5,1.2). Trong hai câu này, thánh phụ đã diễn tả bí mật và bản chất và sự tự do mới mẻ của Kitô hữu, một sự tự do trào vọt từ tình yêu ưu tiên dành cho Đức Kitô. Chúng ta thật sự tự do nếu kho tàng của chúng ta, viên ngọc của chúng ta là Đức Kitô. Chúng ta chỉ tự do nếu chúng ta cầu xin và lãnh nhận Thần Khí, Đấng ban cho chúng ta lòng yêu mến Đức Kitô trên hết mọi sự.

Sự hiện diện của Chúa, Đấng đang đối thoại với chúng ta, là chính sự giải thoát của chúng ta, sự giải thoát toàn diện nhân vị chúng ta, sự giải thoát làm cho chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa. Thường thì chúng ta chỉ cầu xin Đức Kitô một sự giải thoát phiến diện, một sự giải thoát khỏi cái quấy rầy chúng ta, khỏi điều chúng ta không thích, hay làm cho chúng ta đau khổ, một sự giải thoát mà những người khác hay những phương tiện khác có thể đem lại cho chúng ta. Chúng ta đã muốn một sự tự do mà thực chất chỉ làm cho chúng ta co rút lại trong chính bản thân mình, thay vì để cho Đức Kitô nắm giữ và cùng đồng hành với chúng ta hướng về Chúa Cha, Cha của Người, cũng là Cha của chúng ta. Đức Kitô muốn giải thoát chúng ta cách toàn diện, cách triệt để, giải phóng chính hữu thể chúng ta hơn là thân phận bất tất của chúng ta. Sự tự do mà Đức Kitô Phục Sinh ban cho chúng ta là sự tự do của con tim cho phép chúng ta sống tự do ngay cả giữa những áp bức. Như Phaolo và Sila, dù bị đánh đập và giam cầm, nhưng vẫn ca ngợi, tung hô Thiên Chúa (Cv 16,22-25).

Tự do mà Thần Khí ban cho chúng ta là tự do yêu mến Đức Kitô, yêu mến Chúa Cha, và không quay lại với bất cứ tình yêu nào nếu không phải là tình yêu của Cha đã yêu chúng ta trong Con của Người qua Thần Khí.

Càng biết nhiều về Dòng, về các Cộng Đoàn của chúng ta, về tất cả các nam nữ đan sĩ, tôi càng yêu mến và ước mong yêu mến tất cả mọi người, và tôi không khẩn xin Chúa Thánh Thần điều gì cho tất cả chúng ta ngoài ơn biết yêu mến Đức Giêsu trên hết mọi sự. Chúng ta cùng hiệp nhất với nhau trong lời cầu nguyện này.

Roma, Lễ Hiện Xuống 2011

 

 

 

 

 

 

Cây Vả và Cội Rễ

 

Thư Mùa Giáng Sinh 2011

Fr. Mauro-Giuseppe Lepori, Tổng Phụ Xitô

 

Kính thưa anh chị em đan sĩ Xitô rất thân mến!

Chuyến viếng thăm dài ngày ở Việt nam đã giúp tôi đào sâu thêm sự hiểu biết về toàn dòng, về ơn gọi và sứ vụ của chúng ta. Tất cả là hồng ân, và hồng ân ấy như một thách đố mời gọi chúng ta tiếp tục lên đường trong cuộc hành trình mà chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể giúp chúng ta tiến bước. Khi tiếp cận với đời sống năng động, sự tiếp đón nồng nhiệt, sự thanh bần và giản dị của các anh chị em của chúng ta tại Á Châu, và của đất nước của họ, tôi càng nhận thức sâu sắc hơn về sự dấn thân mà Chúa đòi hỏi nơi chúng ta, trong mọi hoàn cảnh hay môi trường văn hóa chúng ta sống. Dù ở đâu, không có gì cấp bách hơn việc chúng ta phải đào sâu về kinh nghiệm và về việc huấn luyện ơn gọi đan sĩ cộng tu, để chúng ta có thể thực sự cống hiến chính mỗi người anh em chúng ta, cho những ai đến với chúng ta và cho xã hội đang sống quanh chúng ta, một chứng tá chính thật về một nền nhân bản mới mà chính Con Thiên Chúa đã hiện thực hóa khi nhập thể làm người.

 Nhân tính của Đức Kitô được hình thành vì chúng ta, đem lại cho chúng ta kinh nghiệm về một đời sống mới, đời sống quy hướng về Chúa Cha trong hơi thở của Thần Khí. Nhưng để điều này trở thành thực tại nơi chúng ta, chúng ta được mời gọi tự thâm tâm hãy bỏ mình và bước theo Chúa. Bước theo Chúa Giê-su là luật của tất cả các tu luật; và đối với chúng ta, thánh Biển Đức cũng như các linh phụ và linh mẫu Xitô là những bậc thầy hướng dẫn đường tâm linh, dạy chúng ta bước theo Chúa Kitô: “Vậy chúng ta lấy đức tin và sự thực thi các việc lành như đai nịt lưng, rồi dưới sự hướng dẫn của Tin Mừng, chúng ta tiến bước theo đường của Chúa, để đáng được xem thấy Đấng đã gọi chúng ta vào vương quốc của Ngài” (Tu luật, lời mở đầu, 21).

Trong kinh nghiệm này, trong việc tiến bước này, tất cả chúng ta, dù ở đâu đi nữa, đều cảm thấy có những lúc mệt mỏi, do dự, lưỡng lự. Tôi nhận thấy rằng những vấn đề của các cộng đoàn đông đảo và trẻ trung ở Việt Nam, cũng rất tương tự với những vấn đề đã xảy ra nơi các cộng đoàn nhỏ bé và già nua ở Tây phương. Nói tóm lại, tất cả chúng ta đều gặp những vất vả nào đó trong việc đơn sơ bỏ mình để dấn bước trên con đường mà chính Ngôi Lời Thiên Chúa vạch ra cho chúng ta, Đấng đã nhập thể làm người và mời gọi chúng ta bước theo Ngài. Tại sao lại có vất vả? Tại sao lại lưỡng lự để trở nên đơn sơ?

“Làm sao Ngài lại biết tôi?”

Những môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu đã biết theo Ngài; họ đã được lôi kéo bởi chính sự hấp dẫn từ con người và lời giảng dạy của Ngài. Mỗi lần gặp Ngài đều là những biến cố có sức lôi kéo cả cuộc đời của họ và trong khát vọng được ở mãi bên Ngài. Dù không ai có thể giải thích được sự hấp dẫn này, nhưng nó là một kinh nghiệm mà các môn đệ không thể nào phủ nhận được, cho dầu họ có lần bất trung, từ bỏ hay chối bỏ Ngài. Nơi Đức Giêsu, điều đánh động họ chính là điều tiếp cận với mầu nhiệm của Ngài, mặc khải cho họ biết mầu nhiệm của chính họ, mầu nhiệm của đời họ, của nguồn gốc và vận mệnh của họ.

Khi thấy Nathanael tiến về phía mình, Đức Giêsu đã nói: “Đây đích thật là một người Israel, lòng dạ không có gì gian dối”. Ông Nathanael ngạc nhiên hỏi Người: “Làm sao Ngài lại biết tôi ?” (Ga 1,47-48).

Câu hỏi này cho thấy Nathanael đã trực giác được một điều là mầu nhiệm đời mình chỉ được mạc khải trong Đức Giêsu. “ Làm sao Ngài biết tôi?”: Đức Giêsu biết chúng ta từ Nguồn Cội của chúng ta, Nguồn Cội mà chính chúng ta cũng không biết, bởi vì Nguồn Cội ấy hiện hữu trước chúng ta từ thủa đời đời trong kế hoạch của Chúa Cha; Đấng sáng tạo chúng ta theo hình ảnh của Chúa Con.

Đức Giêsu đã đáp lại Nathanael bằng câu trả lời rất khó hiểu: “Trước khi Philipphe gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh” (Ga 1,48), và điều Nathanael có thể hiểu là lắng nghe và bước theo Đức Kitô hầu trở lại với Nguồn Cội và đạt tới Cùng Đích mà Đức Giêsu chỉ cho ông biết. Thực vậy, ngay lập tức, Đức Giêsu loan báo và hứa ban cho các môn đệ một mạc khải và một kinh nghiệm, đó là nơi Ngài, họ sẽ biết được Vận Mệnh của họ: “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở và các Thiên Thần của Thiên Chúa lên lên, xuống xuống trên Con Người” (Ga 1,51). 

Sự cảm nghiệm mầu nhiệm của chúng ta trong cuộc gặp gỡ với mầu nhiệm của Đức Kitô có thể được hàm chứa trong một tâm cảm ngạc nhiên, sửng sờ vốn được chỗi dậy trong chúng ta ngang qua lần gặp gỡ đầu tiên với Đức Giêsu. Nhưng cảm nghiệm này sẽ không thể tiếp diễn trong cuộc đời của chúng ta, cho dù chúng ta đã từng được lôi cuốn bởi sự hấp dẫn của Đức Kitô nếu chúng ta không biết lắng nghe tiếng gọi của Ngài và bước theo Ngài với lòng trung thành khiêm tốn. Để thấy trời mở ra và các thiên thần của Đức Chúa lên xuống trên Con Người, cần phải thực hiện một cuộc hành trình cùng với Đức Kitô trong nhịp sống đều đặn thường ngày của cuộc đời chúng ta. Thánh Biển Đức đã nói rằng chúng ta cần phải tiến bước trên chiếc thang khiêm nhường: “Vì vậy, thưa anh em, nếu muốn đạt đỉnh cao của đức khiêm nhường trọn hảo và mau vươn tới cõi trời cao bằng cuộc sống khiêm nhường ở đời này, chúng ta hãy lấy việc làm mà dựng thành cái thang mà leo lên, như chiếc thang đã hiện ra cho ông Jacob trong giấc mộng. Trên thang đó, ông thấy các thiên thần lên lên xuống xuống (… .). Chiếc thang được dựng lên đó chính là đời tạm này. Nhờ lòng khiêm nhường, nó sẽ được Chúa nâng lên tận trời cao” (Tu luật 7,5-8).

Hành trình này sẽ đưa chúng ta đến tri thức chân thật và khiêm tốn về chính bản thân mình và tri thức ấy ngày càng trùng khớp với tri thức mà Đức Kitô có về chúng ta trong ánh sáng của mầu nhiệm Chúa Cha, trong ánh sáng của mầu nhiệm Ba Ngôi, và trong ánh sáng ấy, Đức Kitô đã biết chúng ta như Ngài đã từng biết Nathanael.

 

Ở dưới cây vả

Câu trả lời đầu tiên mà Đức Giêsu trả lời cho một người hoài nghi như Nathanael “trước khi Philipphe gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh” (Ga 1,48), đã thúc đẩy anh cất lời tuyên xưng niềm tin đầy nhiệt huyết: “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Israel!” (Ga 1,49), là một phần các mầu nhiệm của Tin Mừng mà chúng ta đang mong đạt tới trong Nước Trời, hầu chúng ta có thể hiểu được phần nào những gì Đức Giêsu đã viết trên đất trong Tin Mừng về người phụ nữ ngoại tình (Ga 8,6-8), hoặc những gì mà Đức Giêsu đã nói với ông thánh Phêrô trong bữa tiệc ly trong Tin Mừng của thánh Gioan (Ga 21,19).

Trong khi tìm hiểu xem Nathanael làm gì ở dưới cây vả, một cách thông thường, chúng ta có thể liên tưởng đến những nhánh rễ dưới gốc cây, hình ảnh gợi cho chúng ta thấy rằng, dưới bóng mát của cây vả, một cách nào đó, Nathanael đã cắm rễ đời mình trong sự thật về ơn gọi của dân Israel: “Đây đích thật là một người Israel, lòng dạ không có gì gian dối” (Ga 1,47).

Trong khi ở tại Việt Nam, đoạn Tin Mừng về sự kiên nhẫn của Thiên Chúa, được đọc trong phụng vụ đã đánh động tôi rất nhiều. Thiên Chúa kiên nhẫn cho phép cây vả được tồn tại thêm một năm nữa để người làm vườn có thể vun xới chung quanh và bón phân cho nó ( x. Lc 13,6-9).

Công việc mà người làm vườn đã làm đó chăm sóc gốc rễ, Cuốc xới chung quanh cây vả và thêm phân bón cho cây để những nhánh rễ có thêm nhiều chất dinh dưỡng cần thiết để sống và sinh hoa kết trái.

Hình ảnh này phản ánh trung thực bản chất và nhiệm vụ ơn gọi đan tu của chúng ta; ơn gọi ấy chỉ thực sự sống động và phong phú nếu chúng ta biết chăm sóc nó từ gốc rễ.

Ơn gọi của chúng ta sẽ đơm hoa kết trái nếu chúng ta nuôi dưỡng gốc rễ nhân vị của mình bằng việc tuân giữ luật đan tu. Công việc của những nhánh rễ luôn luôn âm thầm, ẩn kín và khuất giấu, không ai thấy được, thế nhưng sức sống vẻ đẹp và phong phú của toàn thân cây lại lệ thuộc vào chúng. Theo nghĩa này, thánh Biển Đức mời gọi chúng ta hãy cấm rể trong cộng đoàn qua lời khấn vĩnh cư; và mỗi cá nhân và cả cộng đoàn, hãy vun đắp hàng ngày những gì giúp cho chúng ta thuộc trọn về Thiên Chúa, Đấng đã mời gọi chúng trở nên những cây nho tươi tốt trong vườn nho vương quốc của Người. Người đan sĩ, hay nữ đan sĩ nào biết vun xới chăm sóc từ cội rễ, sẽ trở nên sống động và phong phú không chỉ cho bản thân mà cho cả cộng đoàn, cho Giáo Hội và toàn thế giới.

Điều mà chúng ta được mời gọi để sống trong cộng đoàn đan tu của mình là vun xới đất và chăm sóc gốc rễ của chúng. Trong lá thư Mùa Giáng Sinh này, tôi muốn nhấn mạnh đến một khía cạnh của công việc chăm sóc gốc rễ ơn gọi của chúng ta, mà tôi cho rằng nó phải là đối tượng cho những dấn thân của mỗi người trong toàn dòng, nếu chúng ta muốn sinh hoa kết trái như Chúa muốn và như Chúa hứa ban. Công việc đó chính là việc thường huấn khởi sự từ việc lắng nghe Lời Chúa.

 

 

Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước

Thánh Biển Đức và các linh phụ, linh mẫu của Xitô đều công nhận tầm quan trọng của việc lắng nghe Thiên Chúa trong thinh lặng và khiêm tốn. Thiên Chúa hiện diện trong đời sống của chúng ta và thường xuyên nói với chúng ta qua lời Kinh Thánh, trong Phụng Vụ, trong các Bí Tích, qua lời giáo huấn của Bề Trên, của cộng đoàn, qua truyền thống của các thánh linh phụ, linh mẫu đan tu. Khi chúng ta lắng nghe trong thinh lặng và với lòng khiêm tốn những điều Thiên Chúa nói với chúng ta, những điều Thiên Chúa thổ lộ trong con tim của chúng ta, chúng ta sẽ có khả năng nghe được tiếng Chúa, Đấng muốn đối thoại với chúng ta qua tất cả, qua mọi cuộc gặp gỡ và qua mọi hoàn cảnh.

Tôi nhận thấy trong đời sống của các cộng đoàn chúng ta, việc đọc sách thiêng liêng (Lectio Divina) chưa được trau dồi cách đầy đủ, chẳng hạn như việc đọc chậm rãi và suy niệm Lời Chúa. Có nhiều việc thực hành tâm linh, nhiều việc sùng kính khác nhau và nhất là có nhiều công việc, nhưng dường như tất cả những thực hành chưa được nuôi dưỡng cách đầy đủ bởi việc lắng nghe lời Kinh thánh.

Việc đọc sách thiêng liêng phải được thực hành hằng ngày qua việc đọc và suy niệm Kinh Thánh, suy niệm lời mà Thiên Chúa muốn nói với chúng ta ngày hôm nay, qua những hoàn cảnh, cuộc sống hiện tại, để giúp chúng ta sống theo Thánh Ý của Người, sống trong tình yêu của Người, trong ánh sáng của Người và trong mối tương quan với Người. Như lời Thánh Vịnh 118: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, ánh sáng cho nẻo đường con đi” (c 105). Lời Chúa là ánh sáng chiếu tỏa hành trình chúng ta đang tiến bước để đi theo Đức Kitô và giúp chúng ta ngày càng thăng tiến trong niềm trông cậy dù có bước đi trong đêm tối hay sương mù dày đặc. Qua việc đọc Sách Thiêng liêng, mỗi ngày chúng ta phải tìm nghe Lời Chúa, Đấng sẽ giúp chúng ta biết ngoan ngoãn để cho Người huấn luyện chúng ta trong mọi hoàn cảnh chúng ta sống, những khi thuận lợi hay những lúc bất lợi. Lời Chúa sẽ giúp chúng ta biết cách đáp lại lời mời gọi của Người, đối thoại với Người trong việc cầu nguyện liên lỉ. Khi con tim chúng ta được đong đầy bằng việc lắng nghe Lời Chúa, lời Tin Mừng, lắng nghe chính Ngôi Lời của Thiên Chúa là chính Đức Giêsu Kitô, Đấng nhập thể làm người, thì việc giữ thinh lặng không còn là điều khó khăn nữa; một sự thinh lặng sâu thẳm, ngay cả khi chúng ta sống giữa những tiếng ồn ào hay cả khi phải trao đổi với những người khác.

Việc đọc Sách Thiêng liêng nếu được trau dồi và được làm sống động theo cách này sẽ giúp chúng ta biết lắng nghe nhau, chú tâm hơn đến những người anh chị em của chúng ta, và đối thoại với nhau cách chân thành. Việc chia sẻ Lời Chúa trong cộng đoàn là một điều rất ích lợi bởi vì khi lắng nghe những điều mà Chúa đánh động nơi người anh chị em chúng ta, chúng ta sẽ chú tâm hơn đến điều Chúa muốn nói cách cá nhân với riêng mình.

Đối với thánh Biển Đức và tất cả các thánh phụ Xitô, như thánh Benado, không bao giờ suy niệm mà không kèm theo việc lắng nghe Lời Chúa. Thực hành suy niệm Kitô giáo luôn là lắng nghe Lời Chúa để đi vào cuộc đối thoại với Người. Tất cả các linh phụ và linh mẫu của chúng ta đều dạy chúng ta suy niệm bắt đầu bằng việc lắng nghe Lời Chúa.

Điều này sẽ đem đến cho chúng ta niềm vui nội tâm để chúng ta biết hài lòng trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta hãy nghĩ tới kinh nghiệm của các môn đệ trên đường Emmaus, họ đã lắng nghe Đức Giêsu khi Ngài giải thích cho họ hiểu lời Kinh thánh, họ đã cảm thấy trái tim tràn đầy niềm vui, vượt lên trên những sầu muộn tăm tối, những thất vọng càm ràm mà họ đã từng bị nhận chìm trước khi gặp gỡ và lắng nghe Đức Giêsu, Đức Giêsu là Lời, là Ngôi Lời tỏa sáng toàn bộ Kinh thánh (x. Lc 24,13-31).

Cả chúng ta nữa, nhờ việc lắng nghe, suy niệm Lời Chúa, chúng ta có thể khám phá ra từ gốc rễ sâu xa của con tim chúng ta sức sống cho toàn thân cây, cho nhành lá, cho hoa trái cuộc đời của từng cá nhân và cả cộng đoàn. Nếu không có đời sống nội tâm cắm rễ trong việc lắng nghe Lời Chúa nói với chúng ta, thì tất cả cuộc đời chúng ta ở trong đan viện chỉ bị thu hẹp trong những hình thức sống trống rỗng, mặc dù vẻ bên ngoài có thẩm mỹ thế nào đi nữa, cũng không đủ để biện minh cho những từ bỏ và những hy sinh mà ơn gọi của chúng ta đòi hỏi, và thế rồi người ta bắt đầu tìm kiếm sự bù trừ và những tiêu khiển.

 

Những nguồn mạch của việc thường huấn 

Đối với thánh Biển Đức, Lời Chúa là nguồn mạch sâu kín và thường hằng của việc huấn luyện đan tu. Lời Chúa đem lại ý nghĩa cho cuộc sống, giúp chúng ta sống cách sâu sắc và chân thành trong việc tưởng nhớ đến Đức Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa. Những nguồn mạch này được truyền trao cho chúng ta qua truyền thống của Giáo Hội; điều hết sức quan trọng là chúng ta không được quên lãng hay bỏ qua chiều kích Giáo Hội của mạc khải, nếu không việc huấn luyện của chúng ta sẽ sa vào chủ nghĩa Kinh thánh trừu tượng.

Trong chương cuối của tu luật, dường như thánh Biển Đức không khỏi băn khoăn vì Ngài không muốn thấy chúng ta rơi vào chủ nghĩa cực đoan rút gọn mọi nguồn mạch của đời sống đức tin và đời sống ơn gọi đan tu. Ngài nói rằng tu luật không tóm gọn tất cả; để sống tu luật cách đứng đắn, cần phải chuyên cần giữ luật và chăm sóc việc giữ luật bằng nguồn nước kín múc từ truyền thống “học thuyết của các thánh phụ” (Tu luật 73,2).

Thế rồi, thánh Biển Đức trình bày đan tu như việc kín nước từ nguồn suối; nước suối được truyền đến chúng ta từ nguồn suối Kinh thánh qua hai chiếc bình lớn: chiếc bình học thuyết của “Các thánh phụ Công giáo” và của “Các thánh phụ đan tu”: “Thực vậy, có trang nào, có lời nào, Chúa phán trong Cựu Ước và Tân Ước lại không phải là quy tắc rất mực ngay chính cho đời sống con người? Có sách nào của các thánh phụ Công giáo lại chẳng lên tiếng dẫn đường chỉ lối cho ta chạy thẳng đến Đấng tạo thành chúng ta? Những bài thuyết trình của các giáo phụ, các quy chế và hạnh tích của các ngài, các bản tu luật của cha thánh Basilio là gì? Nếu không phải là những lợi khí luyện đức cho các đan sĩ đạo hạnh và vâng lời đó sao?” (Tu luật 73,3-6).

Nước hằng sống của Lời Chúa truyền đến chúng ta cách trực tiếp nhưng việc kín múc của chúng ta chỉ thực sự phong phú nếu chúng ta đón nhận mạch nước ấy qua truyền thống giáo phụ và truyền thống đan tu mà Giáo Hội cung cấp cho chúng ta.

Đoạn văn trong Tu luật chương 73 thật sự quan trọng bởi nó nói lên những lý do khiến thánh Biển Đức phải nhấn mạnh đến mọi cấp độ của việc kín múc nguồn suối Mạc khải và Truyền thống Kitô giáo.

Trước hết, ngài nói rằng, Kinh thánh, đối với chúng ta là “rectissima norma vitae humanae – quy tắc rất mực ngay chính cho đời sống con người”. Lời Chúa dạy chúng ta trở nên những con người thực thụ, chứ không phải trở nên những tu sĩ, những con người đạo đức; không chỉ lo cầu nguyện hay suy niệm. Thiên Chúa nói với chúng ta để Người hoàn thành nơi chúng ta trước tiên ơn gọi làm người, một kế hoạch mà Người đã có khi tạo dựng con người theo hình ảnh và đồng hình đồng dạng với Người. Do đó, Lời Chúa phải huấn luyện tất cả nhân bản tính của chúng ta và mọi chiều kích của đời sống nhân sinh của chúng ta. Thánh Biển Đức cho chúng ta thấy rằng hơi thở của việc lắng nghe Lời Chúa xuyên suốt qua từng trích dẫn Kinh thánh trong mỗi chương của Tu luật, ngay cả khi ngài đề cập đến khía cạnh vật chất và thông thường trong đời sống hàng ngày. Lời Chúa soi sáng và hướng dẫn từng bước đi trong cuộc mạo hiểm của kiếp người, và giúp chúng ta sống tất cả mọi cảnh huống của cuộc đời trong sự hiệp nhất với kế hoạch yêu thương của Cha. Như vậy, cũng như Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm, đã cư ngụ giữa chúng ta và sống cách trọn vẹn và tròn đầy nhân tính với chúng ta, thì trong chính đời sống của chúng ta, Lời Chúa cũng muốn nhập thể kế hoạch tốt lành của Chúa Cha, Đấng muốn làm chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Con qua ân sủng của Chúa Thánh Thần.

Thánh Biển Đức còn nói với chúng ta rằng những tác phẩm của các giáo phụ cũng dạy cho chúng ta biết con đường ngay chính để trở về cùng Cha, để gặp được Đấng đã tạo dựng lên chúng ta và là nguồn cội đích thực của chúng ta. Học thuyết của các giáo phụ giúp chúng ta đi thẳng đến vận mệnh chúng ta, tiến bước hướng về cùng đích của hiện hữu nhân sinh đó, chính là tìm lại mối hiệp thông vĩnh cửu với Thiên Chúa, hình ảnh mà chúng ta đã đánh mất bởi tội lỗi. Các giáo phụ cũng là một nguồn mạch nuôi dưỡng chân lý và sự hoàn thiện của đời sống nhân bản của chúng ta.

Về “các thánh phụ công giáo”, chúng ta phải hiểu là tất cả các tác giả mà Giáo Hội công nhận học thuyết của các ngài phù hợp với chân lý mạc khải, mà Giáo Hội đã nhận từ Đức Kitô và truyền lại cho chúng ta xuyên qua hàng thế kỷ, và rõ ràng là cũng phải kể đến giáo huấn của Hội Thánh cho đến ngày nay. Để trở về với Cha, Đấng sáng tạo chúng ta, chúng ta cần đến đức tin và sự trợ lực của Giáo Hội, chúng ta cần trung thành với Giáo Hội trong chân lý và tự do.

Cuối cùng, thánh Biển Đức mời gọi chúng ta hãy đến kín múc nơi mạch suối truyền thống đan tu. Cũng như các giáo phụ và giáo mẫu chuyển tải Lời Chúa cho chúng ta để chúng ta tiến bước trong chân lý hướng về cùng đích của mình, thì cũng từ cùng một nguồn đó, các linh phụ và linh mẫu của đời sống đan tu cũng chuyển tải cho chúng ta truyền thống của Giáo Hội để giúp chúng ta sống đúng với vẻ đẹp của ơn gọi của chúng ta. Ngoài những nguồn mạch truyền thống đan tu mà thánh Biển Đức có thể trích dẫn trong thời đại của ngài; ngày hôm nay, chúng ta có thể thêm vào nhiều tác phẩm khác giúp chúng ta đào sâu ơn gọi đặc trưng của mình, hoặc là hạnh tích của các nam nữ đan sĩ đã có một đời sống gương mẫu. Hiển nhiên là chúng ta phải kể đến những học giả và các thánh của dòng Xitô chúng ta. Những tác phẩm và đời sống của các ngài-học thuyết của các ngài luôn là kinh nghiệm từ cuộc sống-tất cả “không phải là những lợi khí luyện đức cho các đan sĩ đạo hạnh và vâng lời đó sao?” Mỗi dạng thức ơn gọi, chẳng hạn ơn gọi đan tu đều góp phần vào sự hoàn thiện của con người, nếu nó trở nên “nhân đức”, tức là một giá trị mà ân sủng nhập thể nơi một nhân vị, một “cách sống đạo hạnh” giúp cho một nhân vị trở nên tốt lành, chân thành và xinh đẹp khi thực hành cách sống này để bước theo Đức Kitô “sống đạo hạnh” luôn là hoa trái của sự vâng lời, bởi vì ơn gọi của chúng ta không phải do chúng ta sáng lập ra. Nếu chúng ta sáng tạo ra ơn gọi của mình, chúng ta sẽ không bước theo Đức Kitô, chúng ta sẽ bước theo bước chân của chính bản thân mình và như thế không có dạng thức ơn gọi nào tệ hại hơn một ơn gọi chỉ kêu gọi chính mình, chỉ lắng nghe chính mình và chỉ mở “vâng lời” chính mình; lúc đó khi người ta nghĩ rằng mình đang thăng tiến, lại là chính lúc người ta quanh quẩn bên chính bản thân mình, chỉ là dậm chân tại chỗ chứ không hề tiến bước.

Nếu điều này xảy ra nơi chúng ta, có lẽ thường là do từ gốc rễ lương tâm và tự do, sự vâng phục và tuân giữ Tu luật của chúng ta đã không được nuôi dưỡng và phát triển bởi những nguồn mạch huấn luyện đan tu mà thánh Biển Đức nêu ra ở đây. Cho nên, việc ý thức và giúp đỡ nhau đạt đến những nguồn mạch này là một vấn đề quan trọng không những trên bình diện cá nhân mà cả trên bình diện cộng đoàn. Điều này không có nghĩa là chúng ta phải hiểu biết trọn vẹn Kinh thánh hay đọc hết tất cả các giáo phụ. Một cách đơn giản, mỗi người cần ý thức đến nhu cầu đón nhận ba nguồn mạch của việc huấn luyện mà Giáo Hội trao cho chúng ta, dù là ở mức độ cơ bản, tối thiểu, nhưng phải được thực hiện cách trung thành và chuyên cần. Nhờ đó mà những gốc rễ cây ơn gọi của chúng ta mới được sinh dưỡng và sinh trưởng, chúng ta sẽ sinh hoa trái dồi dào không chỉ cho chính mình, mà cho Giáo Hội và cho cả trần thế, bởi vì trong Giáo Hội, vai trò trên hết của đời sống đan tu là ơn gọi sống như nhánh rễ cây, ẩn kín nhưng lại không thể thiếu được cho sự sống, vẻ đẹp và sự sung mãn cho cả cây.

 

« Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời thiên thần nói »

Thánh Biển Đức mời gọi chúng ta chú tâm đến việc thường huấn để ngày càng thăng tiến trong hành trình ơn gọi đan sĩ cộng tu mà thánh nhân đã vạch ra (x. Tu Luật 73). Lắng nghe và đào sâu Lời Chúa suốt cả cuộc đời: Lời Chúa thực sự trở nên Lời cho chúng ta nếu chúng ta để cho Lời ấy nhập thể vào trong đời sống nhân sinh thường ngày của chúng ta qua tác động của Chúa Thánh Thần.

Về điểm này, Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ và là Thầy của chúng ta. Với Mẹ, tất cả được tập trung trong lời đáp với sứ thần Gabriel: « Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói !» (Lc 1,38). Sự tự do khiêm hạ và đón nhận của Mẹ đã để cho Lời Chúa trở thành một biến cố trong chính con người của Mẹ, biến cố Đức Giêsu Kitô nhập thể làm người để cứu độ trần gian. Lời Chúa mà chúng ta lắng nghe và suy niệm cũng muốn trở thành một biến cố trong cuộc đời chúng ta. Nhờ đó mà Lời Chúa đạt tới mục đích của mình là thực hiện trong chúng ta kế hoạch yêu thương của Ba Ngôi. Chính cuộc sống chúng ta phải trở nên một biến cố của Đức Kitô, một dấu chỉ, một khí cụ của tình yêu và sự hiện diện của Ngài.

«Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nảy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, thì Lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta trao phó» (Is 55,10-11).

Như Đức Maria, chúng ta được mời gọi tín thác vào quyền năng của Chúa Thánh Thần, để sống Lời Chúa, đón nhận và làm đâm chồi nảy lộc Lời Chúa trong mảnh đất nhân sinh nghèo khó của chúng ta. Lời Chúa không là một ý tưởng, hay một khái niệm khó hiểu, nhưng là một Ngôi Vị, là Con Thiên Chúa xuất hiện nơi trần thế như một Hài Nhi, được sinh ra, lớn lên nơi chúng ta và giữa chúng ta. Chính Ngài là Đấng thực hiện hoá trong chúng ta sự liên hợp trùng khớp giữa Lời và Biến Cố, giữa Chân Lý và Sự Sống, qua các bí tích và trong đời sống của Giáo Hội. Chính Ngài là Ngôi Lời làm mọi sự trở nên mới mẻ (x. Kh 21,5), làm tái sinh những gì là già nua, cằn cỗi và chết chóc. Chính Ngài là gốc Giêsê (Is 11,1), từ đó làm hồi sinh Dân Chúa, làm tái sinh sự sống của mỗi người chúng ta, của các cộng đoàn và toàn dòng chúng ta.

Sự tái sinh của chúng ta trong Đức Kitô chính là sự sống của Đức Kitô trong chúng ta. Tôi cầu chúc sự sống ấy đến với tất cả anh chị em trong Mùa Giáng Sinh này và trong mọi ngày của năm mới sắp tới. Sang năm mới, tôi sẽ rất hạnh phúc được gặp gỡ anh chị em hoặc ít ra, được hiệp thông với tất cả anh chị em trên cuộc hành trình khiêm tốn nhưng vui tươi của chúng ta, cuộc hành trình của lắng nghe và bước theo sự hiện diện của Đấng Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.

Trong tình huynh đệ trìu mến,

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội

 


 

 

 

 

Hạt Sáng Thức Tỉnh

 

Phương Linh

BÉN RỄ SÂU TRONG CHÚA KITÔ, là chủ đề dành cho Nội San Hạt Giống Chiêm niệm số 11. Chúng tôi xin giới thiệu cùng quý độc giả đôi dòng cảm nghiệm đích thực về Thiên Chúa cùng nên một với Ngài của thánh phụ Bernado. Ước mong như những đốm lửa đốt lên nơi lòng quý độc giả niềm khát khao Thiên Chúa, nhu cầu cầu nguyện với Thiên Chúa, sống với Người, chỉ muốn những gì Người muốn và chỉ còn là một với Người [1].

 

Tình yêu tinh ròng thì không có tính làm thuê. Tình yêu ấy không nhận sức mạnh từ một niềm hy vọng nào khác và không bị tổn thương vì sự nghi ngờ được thấy hy vọng của mình tròn đầy.

Tôi không còn nỗi vui nào hơn khi thấy Đấng như vậy không từ chối hạ mình đến sự thấp hèn của bản tính chúng.

Chúa Con chọn các môn đệ, Đấng phù trợ họ như những bạn hữu và Chúa Cha nâng họ lên như những người con cái.

Khốn khổ như tôi, Mà không những Người đã tìm tôi, mà Người đã cho tôi khát vọng tìm kiếm Người và tiếp theo là sự chắc chắn gặp được Người. (Id 84,6)

Đôi khi vẫn xảy ra là linh hồn được nâng lên, vượt lên chính mình và cắt lìa khỏi giác quan đến độ linh hồn không còn thấy chính mình nữa mà chỉ cảm nhận được Ngôi Lời. (Cant. 58,13)

Ơ quả tim đã được thanh luyện, hồn chỉ còn ước ao Thiên Chúa và không gì khác hơn chính Người.

 


 

 [1] ROBERT THOMAS O.Cist, Các Tác Giả Thần Bí Xitô, Tủ sách Đan tu, Dịch giả Đan sĩ Phaolô Tịnh Nguyễn Tuyên Phương

 

 

 

 

 

 

Đi Qua Một Thấu Kính

 

(Trích chương 13 ca sách “Ht Ging Chiêm Nim”  – Seeds Of Contemplation
ca cha Thomas Merton, ocso.
Dch gi : Thanh Bng.
Phong Trào Văn Hố xut bn, 1966, tr. 117-129).

 

Một tấm kính hiển vi tập trung ánh sáng mặt  trời vào một điểm nhỏ có sức đốt cháy được một chiếc lá khô hoặc một miếng giấy. Cũng vậy, những mầu nhiệm của Chúa Kitô trong Phúc Âm cũng tập trung ánh sáng và sức nóng của Thiên Chúa lại một điểm khả dĩ đốt cháy được tâm trí con người. Đó là lý do tại sao Chúa Kitô đã sinh ra và sống giữa gian trần, đã chịu chết và từ cõi chết đã trở về trời cùng Thiên Chúa Cha: ut dum visibiliter  Deum cognossimus per hunc in invisibilium amorem rapiamur, để trong khi nhận biết Thiên Chúa qua những vật hữu hình, chúng con đem hết tâm hồn mộ mến những sự vô hình. Qua tấm thấu kính nhân tính của mình, Chúa Kitô tập trung những tia sáng của Thánh Linh Người vào chúng ta khiến chúng ta có thể cảm thấy sức đốt cháy và tất cả những kinh nghiệm thần bí mà Người đã được phú nhập vào tâm hồn.

Đó là vì Thiên Chúa hiện diện ở mọi nơi. Chân lý và tình yêu của Người tràn ngập mọi sự vật cũng như ánh sáng và sức nóng của mặt trời tràn ngập bầu không khí. Những tia nắng của mặt trời tự nó không đốt cháy được sự vật. Cũng thế Thiên Chúa cũng sẽ không đi tới tâm hồn chúng ta bằng ngọn lửa hiểu biết và kinh nghiệm siêu nhiên nếu Chúa Kitô không cùng đi với Người.

Như tấm kính nhân tính của Chúa Kitô chỉ quay về phiá tâm linh khi nó được sửa soạn chu đáo và trở nên khô nỏ nhờ ánh sáng và lửa ấm của Thiên Chúa để sẵn sàng bốc cháy trong ngọn lửa ân huệ của Thánh Thần.

Con đường thông thường đưa tới chiêm niệm chính là tin vào Chúa Kitô. Đây là niềm tin được phát sinh ra do sự chiêm niệm sâu xa về cuộc sống và giáo thuyết của Người. Mọi thực nghiệm về Thiên Chúa đều qua Chúa Kitô. Như thế không có nghĩa là bất cứ mọi tâm hồn chiêm niệm nào cũng nhất thiết phải qua một Chúa Kitô do óc tưởng tượng của họ tạo ra. Thực vậy óc tưởng tượng chẳng qua cũng chỉ là một phương thế giữ cho đối tượng của niềm tin được hiện diện trong tâm trí chúng ta cũng phải bắt buộc phác hoạ ra một Chúa Kitô theo quan niệm của chúng ta hoặc như chúng ta phải quan niệm, bởi vì thực ra không ai có thể hoàn toàn chắc chắn về dung mạo đích thực của Người. Những tác giả thiêng liêng trước đây đã coi đó là một vấn đề thắc mắc. Nhưng chúng ta không hiểu tại sao đó lại có thể một vấn đề thắc mắc được. Niềm tin ở Chúa Kitô và những mầu nhiệm về cuộc sống và cuộc tử nạn của Người, chính là nền tảng cho đời sống của người Kitô hữu và là nguồn phát sinh ra sự chiêm niệm. Không ai có thể phủ nhận điều nhận xét trên đây. Không ai có thể loại trừ Chúa Kitô-Người ra khỏi đời sống nội tâm, vịn cớ rằng bây giờ họ đã được trực tiếp tiếp xúc với Ngôi Lời và đã đạt tới một độ chiêm niệm cao hơn. Chúa Kitô chính là Ngôi Lời của Thiên Chúa, mặc dầu Nhân tính và Thiên Tính có khác biệt nhau. Cả hai bản tính hợp nhất trong một Ngôi Vị. Do đó Chúa Kitô – Người chính là Thiên Chúa.

Nếu bạn cho rằng mình đã khám phá ra một thứ chiêm niệm trong đó bạn chỉ gặp thấy Thiên Tính của Chúa Kitô thôi, thì bạn là người rối đạo không hơn không kém.

Chính đức tin chứ không phải óc tưởng tượng sẽ đem lại cho bạn sự sống siêu nhiên, sẽ công chính hoá bạn và sẽ đưa bạn tới sự chiêm niệm. Con người công chính của tôi sống bằng đức tin chứ không bằng tưởng tượng. Tưởng tượng chỉ vào trong đó một cách ngẫu nhiên mà thôi. Nếu bạn cần phải dùng óc tưởng tượng để nhắc nhở bạn tưởng nghĩ về Chúa Kitô là Đấng bạn tin theo, thì bạn cứ việc sử dụng nó. Tuy nhiên bạn có thể luyện được một niềm tin ở Người mà không cần lúc nào cũng phải gợi lại những hình ảnh về Người. Nếu bạn được thế thì hay biết mấy. Như vậy đức tin của bạn sẽ giản đơn, thuần khiết hơn.

Đối với một số người, việc trở vào nội tâm để tìm thấy một hình ảnh đơn giản về Chúa Kitô trong óc tưởng tượng là một chuyện hoàn toàn dễ dàng. Và như thế họ bắt đầu cầu nguyện mà không cảm thấy khó khăn gì. Nhưng có một số người khác không làm như vậy được. Vì quá cố gắng đầu óc họ có thể tràn ngập những thắc mắc và rối ren khiến cho họ không thể cầu nguyện nổi. Tuy nhiên chính trong những lúc như thế, chỉ một tên Giêsu hoặc một ý niệm lờ mờ và phức tạp về Chúa Kitô, cũng đủ để giúp cho đức tin họ ý thức về Người một cách đơn giản và say mến, bởi vì Người thực sự hiện diện ở trong tâm hồn họ qua Thiên Tính của Người.

Niềm ý thức say mến này là một điều có tính cách thực tế và có giá trị hơn rất nhiều bất cứ điều gì bạn có thể lĩnh hội được khi chỉ cần nhờ đến giác quan nội tâm thôi. Thực vậy hình ảnh về Chúa Kitô mà bạn phác hoạ ra trong trí tưởng tượng chung quy cũng chỉ là một hình ảnh như trăm ngàn hình ảnh khác.

Có điều tình yêu mà ân sủng phát sinh ra trong hồn bạn có thể làm cho bạn tiếp xúc với Người một cách đích thực. Chính Chúa Kitô phát sinh ra tình yêu này trong chúng ta như là kết quả trực tiếp cá biệt của ý muốn Người. Trong khi chạm tới tâm hồn chúng ta bằng tình yêu, Người cảm nhiễm chúng ta một cách trực tiếp và thân mật hơn cả một vật cụ thể khi nó đập vào mắt hay chạm đến một giác quan nào của chúng ta. Đàng khác tại sao chúng ta lại suy niệm về Chúa Giêsu và những hình ảnh về Người mà chúng ta đã giữ lại trong ký ức? Đó chỉ là để chúng ta có thể chuẩn bị tiếp xúc với Người bằng tình yêu thân mật hơn. Do đó khi tình yêu của Người đã bắt đầu cháy lên trong tâm hồn, thì chúng ta không bắt buộc phải dùng đến trí tưởng tượng nữa. Một số người thích dùng đến trí tưởng tượng, một số người khác lại không thích, và cũng có những người không lựa chọn gì hết, và đối với họ thế nào cũng được. Bạn hãy dùng cách nào bạn thấy là có lợi và hãy xa lánh tất cả những gì ngáng trở bước đường của bạn.

Mỗi người trong chúng ta đều tạo ra cho mình một ý niệm về Chúa Kitô, nhưng dù sao cũng chỉ là một ý niệm hạn định và còn khuyết điểm. Nó cũng như một chiếc áo đã được cắt theo kích thước của chúng ta. Chúng ta có khuynh hướng tạo nên một Chúa Kitô giống như hình ảnh mình, và là hiện thân của những nguyện vọng, ước muốn và lý tưởng của chính chúng ta. Chúng ta tìm kiếm nơi Người những cái mà chúng ta đang muốn tìm kiếm. Chúng ta cho Người không chỉ là hiện thân của Thiên Chúa mà còn là hiện thân của những sự vật mà chính chúng ta, xã hội chúng ta không thể bỏ qua được.

Sự hoàn thiện hệ tại ở sự bắt chước Chúa Kitô và mô phỏng Người trong đời sống. Quan niệm như thế quả thực là chí lý. Tuy nhiên nếu chỉ mô phỏng một Chúa Kitô như chúng ta tưởng tượng ra, thì chưa đủ đâu.

Chúng ta đọc phúc âm không phải chỉ là để tìm kiếm một hình ảnh hoặc một ý niệm về Chúa Kitô, nhưng để đi vào trong và xuyên qua lớp từ ngữ dùng để diễn tả sự mặc khải.và như vậy chúng ta sẽ nhờ đức tin để tiếp xúc với Chúa Kitô sống, là Đấng đang sống trong tâm hồn chúng ta với tư cách là một Thiên Chúa.

Vấn đề tạo nên Chúa Kitô trong chúng ta không phải chỉ có thể giải quyết được bằng sự cố gắng. Đây không phải là vấn đề học hỏi Phúc Âm, và sau đó liệu cách thực hiện những tư tưởng đã lượm lặt được. Dĩ nhiên là chúng ta vẫn cố gắng làm như thế, nhưng luôn luôn phải ở dưới sự hướng dẫn của ân sủng và trong tinh thần hoàn toàn phục tùng ân sủng của Thiên Chúa.

Quả vậy, nếu chúng ta lệ thuộc vào những tư tưởng, những phán đoán và những cố gắng của chính mình trong khi mô phỏng cuộc đời Chúa Kitô. Thì chắc chắn là chúng ta chỉ phác hoạ ra được một nhân vật khó hiểu và sau cùng nhân vật ấy sẽ làm cho tất cả những người sống chung quanh chúng ta phải sợ bởi vì quá cứng cỏi, giả tạo và thiếu hẳn sự sống. Chúng ta cần phải được Thần Linh Thiên Chúa dạy bảo mới có thể hiểu biết Chúa Kitô và có đón nhận Người trong chúng ta, để từ đó biến đổi ra thành những Kitô khác. Dù sao chăng nữa, cuộc biến đổi ra Kitô khác không chỉ là một việc cá nhân. Quả vậy, chỉ có một chứ không có nhiều Chúa Kitô, và Người không thể bị chia ra từng mảnh được. Đối với tôi trở nên Chúa Kitô chính là đi vào trong sự sống của Chúa Kitô toàn diện tức là thân thể mầu nhiệm gồm cả đầu và phần mình, nghĩa là Chúa Kitô và tất cả những ai đã được Thần Linh kết hợp với thân thể Người.

Chính Chúa Kitô tự tạo nên mình nhờ vào ân sủng và đức tin trong tâm hồn những ai yêu mến Người; đồng thời Người cũng tập trung họ lại với nhau để trở nên Một trong Người. Ut sint consummati in unum.

Thần linh chính là sự sống của thân thể độc nhất này. Người sống dồi dào trong toàn thân thể cũng như trong từng phần mình. Như thế Chúa Kitô toàn diện cũng là Chúa Kitô, và mỗi cá nhân cũng là Chúa Kitô nữa.

Do đó, nếu trái tim bạn muốn có những tâm tình và những dự kiến như trái tim Chúa Kitô hồi còn sống ở trần gian, thì bạn đừng nhờ trí tưởng tượng, nhưng hãy nhờ đức tin chỉ dẫn cho. Bạn hãy nhắm mắt từ bỏ tất cả, hãy xoá nhoà mọi hình ảnh khỏi hồn bạn, và hãy để mặc cho Chúa Kitô tự tạo nên chính mình ở trong bạn bằng Thánh giá của Người.

Thần linh được sai đến tâm hồn tôi ở mọi lúc bởi vì Chúa Kitô và Chúa Cha hiện sống ở hồn tôi, cũng giống như những mạch máu sống từ con tim đang chảy vào các chi thể. Thần linh lôi kéo tôi vào trong Chúa Kitô và hợp nhất tôi với Chúa Cha trong Người để cùng với Chúa Kitô, sự sống của tôi được chìm sâu trong Thiên Chúa. Tuy nhiên tôi vẫn còn rời bỏ Người để ra đi với Thần Linh của Người và thi hành công việc của Người cũng như hoàn thành thánh ý Người ở giữa trần gian. Và khi nào cần thì Người lại lôi kéo tôi trở về với Người theo ý Người muốn.

Nếu tôi được sự sống của Người trong tôi, thì những sự kiện nhất thời như là đau khổ và hoan lạc, hy vọng và sợ hãi, niềm vui và nỗi buồn, đối với tôi đâu có thành vấn đề nữa? Chúng không phải là sự sống của tôi và cũng không có liên can gì đến nó. Làm sao mà tôi lại phải sợ hãi trong khi không gì có thể cướp giật được Thiên Chúa khỏi tôi?

Tại sao tôi còn phải ước muốn điều gì nữa trong khi không một sự gì có thể giúp tôi chiếm hữu được Người?

Tất cả những sự vật bên ngoài đến rồi lại đi. Như thế làm sao chúng có thể khiến tôi phải quan tâm đến chúng? Làm sao mà niềm vui lại có thể kích động được tôi, nỗi buồn có thể làm tôi ủ rũ, lạc thú có thể làm tôi hài lòng, đau khổ có thể làm chấn động lòng tôi, sự sống có thể lôi cuốn tôi sự chết có thể làm tôi kinh sợ, nếu tôi chỉ biết sống trong Sự Sống đang hiện sinh trong hồn tôi như là một ân huệ của Thiên Chúa? Làm sao tôi lại phải bận tâm khi tôi mất sự sống thể xác là cái dù muốn hay không tôi cũng sẽ phải mất, trong khi tôi có cả một sự sống thiêng liêng và một tính đồng nhất là những vật tôi không bao giờ mất được nếu tôi không muốn như thế? Làm sao tôi lại sợ mất cái không phải là tôi một khi tôi đã trở nên cái tôi đích thực rồi? Làm sao tôi lại phải lao tâm khổ tứ để chiếm hữu lấy những thoả mãn là những cái chưa được một giờ đồng hồ đã tiêu tan hết và chỉ để lại những đau khổ cho tôi là kẻ đã được Thiên Chúa làm của riêng mình trong niềm vui bất diệt?

Đó là một trong những mâu thuẫn chính yếu mà tội lỗi đã đem vào tâm hồn: Chúng ta bắt mình phải vất vả vô ích để tìm những cái chỉ đem lại chua cay và sầu khổ; rồi chúng ta lại chấp nhận những cái dễ dàng và tràn đầy hạnh phúc một cách miễn cưỡng, bởi vì chúng bị coi như là đối nghịch với những lợi ích của chũng ta. Một sự chống đối yếu ớt cũng làm cho chúng ta phải vất vả kinh khủng, và đôi khi một việc tự nó rất dễ dàng lại trở nên khó khăn nhất đời.

Linh hồn cũng giống như một tấm sáp ong đang còn chờ một con dấu đóng vào, và tự nó nó không có một cái tôi riêng biệt. Thiên Chúa muốn rằng định mệnh của linh hồn là trở nên mềm dẻo, và ngay từ đời này luôn luôn chuẩn bị để đến giờ chết sẽ lãnh nhận một con dấu đóng vào tuỳ theo ở chỗ linh hồn giống Thiên Chúa nhiều hay ít trong Chúa Kitô.

 Như thế là linh hồn ít ra cũng bị Chúa Kitô thẩm phán.

Một khi đã tan vào trong thánh ý Thiên Chúa rồi thì tấm sáp kia có thể nhận được con dấu tính đồng nhất của nó. Nhưng nến linh hồn lại cứng rắn, khô khẳng, nứt rạn và thiếu tình yêu thì tấm sáp sẽ không chịu nổi con dấu bởi vì khi rơi xuống, con dấu sẽ nghiền nát nó ra thành nắm bụi.

Bởi vậy, nếu bạn suốt đời chỉ tìm cách thoát khỏi sức nóng của ngọn lửa mà Thiên Chúa đã muốn dùng để làm cho bạn trở nên mềm dẻo và chuẩn bị bạn trở nên cái tôi đích thực của mình, và nếu bạn tìm hết cách để giữ cho bản thể khỏi tiêu tan trong ngọn lửa đó dường như là tính đồng nhất của bạn chỉ là một thứ sáp cứng rắn, thì sau cùng khi con dấu rơi xuống bạn sẽ bị đè bẹp. Bạn sẽ không thể có cái tên đích thực của mình và bạn sẽ bị tiêu diệt đi trong cái biến cố mà chính ra nó phải làm cho bạn được thành tựu sung mãn.

Một linh mục sống đời chiêm niệm sẽ có một cảm giác thâm trầm và sâu xa về sự “đồng tình” với Bánh Thánh đang ở trước mặt ngài trên bàn thờ, đến nỗi thánh lễ sẽ tiếp tục trong tâm hồn không những trong lúc ngài ở bàn thờ mà còn ở ngoài bàn thờ và ở trong nhiều lúc ngày nữa.

Tôi viết nên những dòng này trong khi tôi chưa là linh mục, nhưng tôi đã biết được phần nào như thế bởi vì tôi đã quỳ gối giúp lễ ở bàn thờ. Bánh Thánh lúc này đã bị bẻ ra và đang nằm trên đĩa thánh.

Chính vì đã ý thức được bí nhiệm nên bạn được đồng hoá với Bánh Thánh và những việc tiến diễn. Không cần phải nhờ đến ngôn ngữ hay suy luận bạn cũng biểu lộ được sự ưng thuận trong tâm hồn biểu lộ chỉ bằng việc đứng yên tại chỗ và đưa cặp mắt nhìn ngắm thôi.

Ở đó Chúa Kitô khai triển cuộc sống của bạn trong Người như là khai triển một tấm hình.

Như vậy, một thánh lễ liên tục, tức là một cảm giác sâu xa và khẩn thiết về sựu đồng nhất hoá, sẽ đi liền với bạn ở mọi nơi. Được như vậy là nhờ ở một hành vi quan trọng hàm chứa một sự cao cả ngoài tầm hiểu biết của con người.

Trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống hàng ngày, bạn sẽ bị thôi thúc phải đồng ý và ưng thuận, thôi thúc một cánh kín đáo nhưng lại khẩn khoản. Đấy là một chân lý kì diệu đến nỗi không ai có thể minh định hay diễn tả ra được. Nó có tính cách hoàn toàn cá nhân. Và bạn cũng không hề có ước muốn nói về nó với ai. Đó cũng không phải là một việc của bất cứ ai khác. Ngay những bổn phận và công việc bề bộn cũng không thể hoàn toàn ngáng trở nó được. Bạn luôn luôn tìm kiếm người bạn đồng hành nặc danh này vì Người cháy lên trong tâm hồn bạn như là một ngọn lửa sâu kín và lặng lẽ.

Có lẽ bạn sẽ không nhìn nhận ra một cách xác thực những việc hiện đang luôn luôn tiếp diễn trong tâm hồn bạn, nếu bạn chưa được chứng kiến những việc đó diễn ra thực sự trên bàn thờ: tối thiểu là trong lúc đó, mặc dầu chỉ là một cách tối tăm khó hiểu, bạn phải nhận ra người khách lạ trong tác động bẻ Bánh vì Người đã là Bạn Đồng Hành của bạn ngày hôm qua và ngày hôm kia, và cũng giống như những môn đệ Emmaus,lúc đó bạn nhận ra rằng trái tim bạn bừng cháy trong tâm hồn khi giữa những công việc hằng ngày bạn nghĩ tưởng về Chúa Kitô, Đấng đang sống động,làm việc và dâng thánh lễ của Người mọi lúc trên bàn thờ lòng bạn. Điều đó thực là hợp lý biết bao.

 

 

 

 

DẤU CHỈ CÒN NƯỚC

 Thiên Giang   

 

                                        Con lắng nghe
                                        Vùng thẳm lặng tâm tư
                                        Dấu chỉ còn nước
                                        Con vào thành gặp Người mang vò nước
                                        Đi theo Người tìm chỗ dọn bàn ăn
                                        Lần bước đời vào một sáng thứ năm
                                        Vượt qua nhé ! Tình yêu dành bước trước

 

                                        Nơi tiệc vui chum đá được đổ đầy
                                        Nước cuộc đời nên rượu cưới hân hoan
                                        Người người vui, hoa nở rộ trần hoàn
                                        Kìa rượu mới nay đã thành hy lễ

                                        Tiến dâng Ngài đời con là lễ tế
                                        Hương tình trời hoa báo nở mùa xuân
                                        Giòng thời gian đẹp mãi Đấng tình quân
                                        Giêsu đó, Tình yêu và Thập giá

 

                                        Bước vào đời tình yêu không mặc cả
                                        Tặng gian trần phúc hạnh Chúa muôn xuân
                                        Giêsu đó, hôm nay Ngài ở đó
                                        Giữa cuộc đời thầm lặng bước bên ai.

 

        

 

Chúa Đâu Rồi

 

Huy Mỹ

 

“Chúa đâu rồi” là một ngôn từ khá quen đối với mọi người qua bao thời đại và gắn liền với tâm thức của con người theo từng khía cạnh của cuộc sống. Từ ngữ đó, mỗi người sử dụng mỗi kiểu dưới nhiều hình thức khác nhau: có người dùng ngôn từ “Chúa đâu rồi” nhằm phủ nhận Thiên Chúa, coi như Ngài đã chết để đánh lừa lương tâm, dễ dàng chạy theo vật chất và tự do hưởng thụ của trào lưu thời đại, đồng thời tránh né trách nhiệm đối với tình đời và tình người; có người lại dùng ngôn từ “Chúa đâu rồi” để tự an ủi mình hoặc người thân trước những cảnh bi đát của cuộc đời; nhưng cũng có người dùng ngôn từ “Chúa Đâu Rồi” để than trách Thiên Chúa đã dửng dưng, im lặng trước những đau khổ của con người.

Là tu sĩ, nếu không biết xây dựng đời mình trên nền tảng là Đức Kitô, Đấng nhập thể, chịu đau khổ, tử nạn và phục sinh, thì chắc chắn “Chúa đâu rồi” cũng ảnh hưởng không nhỏ trên lối suy nghĩ và cách sống tiêu cực của tu sĩ.

Vậy đâu là nguyên do đưa tới câu nói tưởng chừng như quen thuộc: “Chúa đâu rồi”? Sau đây xin được chia sẻ dưới ba khía cạnh.

 

I. PHẢI CHĂNG THIÊN CHÚA ĐÃ CHẾT ?

Nhà triết học Nietzsche, người Đức với triết thuyết “Siêu Nhân”, đã thu hút dân chúng và các nhà lãnh đạo Tây Phương nhất là Đức Quốc Xã trong thời đại Hitler. Một triết thuyết mà kẻ mạnh và thông minh là người xứng đáng được tồn tại và bá chủ, những người yếu kém và khiếm khuyết sẽ bị diệt vong. Nietzsche đưa ra câu nói để che mắt dân chúng và kích động dòng tộc anh hùng (Nước Đức): “Thiên Chúa đã chết”, nghĩa là từ nay không còn Thiên Chúa để xen vào cuộc sống của con người vốn bị ngăn cản bởi lề luật luân lý mà con người thường lo sợ. Ông cho rằng giết Thiên Chúa là nhổ được cái gai mà lâu nay đã cản trở lối sống phóng khoáng và tự do của con người.

Tư tưởng Thiên Chúa đã bị giết chết của Nietzsche, sau đó không lâu, một nhà triết học hiện sinh nổi tiếng là J.P.Sartre đã triển khai vấn đề tự do đối với con người dưới nhãn quan vô thần: không có Thiên Chúa, con người chỉ xây dựng cuộc đời theo sáng kiến riêng của mình, không chấp nhận ai có quyền sai khiến, ra lệnh phải tuân hành. Ông phủ nhận Thiên Chúa, nên ông cũng phủ nhận mọi thứ luân lý và đề cao tự do tuyệt đối của con người: muốn làm gì thì làm, miễn là bảo vệ được sự tự do của mình[1].. Có thể nói J.P.Sartre đã thành công trong việc kích thích giới trẻ Tây Phương chạy theo làn sóng “yêu cuồng sống vội”, thể hiện “đẳng cấp” tự do của mình thời hậu thế chiến thứ hai. Nhưng ông đã để lại hậu quả cho xã hội là “bầy nhầy” và mất trật tự.

Ngày nay, xu hướng hưởng thụ để thể hiện đẳng cấp của một số trong xã hội, họ dễ dàng đánh bật Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời và mong Ngài chết đi để lương tâm khỏi phải áy náy, lo toan trước những việc làm trái với luân thường đạo lý và trật tự xã hội. Đức thánh cha Benedicto XVI, trong Thông Điệp Caritas in Veritate đã nói với thế giới: “Ngày nay vài nền văn hóa có nền tảng tôn giáo mới thâm nhập, không buộc con người phải tiến đến cộng đồng, mà chỉ tìm kiếm hạnh phúc cho cá nhân, sống hạn hẹp trong thỏa mãn của tâm lý nhất thời”[2]. Nhân loại bị tha hóa, khi chỉ dựa vào những kế hoạch hoàn toàn do con người, vào những ý thức hệ, những ảo tưởng sai lệch chối bỏ Thiên Chúa, nguồn chân lý vĩnh cửu và phổ quát”[3].

Phải chăng Thiên Chúa đã chết, cuộc sống con người là vô thần, giá trị luân lý không còn chỗ đứng trong sinh hoạt đời người, mà người ta luôn hô hào với những câu khẩu hiệu lớn lao và đẹp đẽ, đầy bác ái và yêu thương, đầy tinh thần và trách nhiệm, nhưng khi có cơ hội tiếp cận với những lợi lộc do hoàn cảnh đem lại thì không thể bỏ lỡ những dịp kiếm tiền và hưởng thụ[4] .Nhà văn Nguyễn Việt Hà trong cuốn “Cơ Hội Của Chúa” cho rằng: “Muốn biết rõ về ai nên nhúng người ấy nhiều lần vào tiền. Thứ dung dịch này sẽ làm trôi đi tất cả những màu mè bọc ngoài. Đạo mạo trở nên hau háu lỗ mãng. Dịu dàng trở nên điêu ngoa cướp giật. Lịch sử nhân loại chứng kiến số người tự tử vì tiền gấp tám lần số người tự tử vì tình”[5].

Khi nói đến tu sĩ, linh mục, được gọi là người môn đệ Chúa Kitô, chắc chắn không ai dám nói Thiên Chúa đã chết, nhưng trong thực tế không ít tu sĩ, và một số linh mục lại thể hiện một cách sống “hai mặt”. Đối với những người quen biết và anh em trong cộng đoàn, họ luôn đạo mạo với những tu phục trang trọng, với những khẩu hiệu hoa mỹ phục vụ và khiêm tốn nhưng lại không sống đúng như lời mình nói. Những năm gần đây Giáo Hội Mỹ Châu và Âu Châu đã phải khổ đau vì tình trạng linh mục bị tha hóa. Còn ở Giáo Hội Việt Nam, nhất là linh mục trong các cộng đoàn tu trì lại hoàn toàn thánh thiện hay sao.

 

II.THIÊN CHÚA THEO Ý TƯỞNG CỦA TỪNG NGƯỜI

Khi tìm hiểu Văn Hóa và Tín Ngưỡng Việt Nam, chúng ta mới dễ cảm thông với người Việt, tại sao họ lại tôn kính nhiều vị thần. Việt Nam, với một nền văn hóa nông nghiệp, gắn liền với những điều huyền bí của thiên nhiên, những may rủi, hên xui trong cuộc sống và định mệnh mà con người phải lệ thuộc. Cũng chính vì cuộc sống bao bọc giữa thiên nhiên kỳ bí và hùng vĩ mà người Việt như cảm nhận được nơi nào cũng đầy sức mạnh của thần linh, nơi nào cũng có dấu ấn của thần thánh. Từ gốc cây, hốc đá đến rừng già, sông cả; từ sấm chớp, mây mưa đến những loài vật: cọp, rắn… đều mang nét thần thiêng đáng sợ [6]. Ngay trong cõi thâm cung của lòng người cũng tiềm ẩn một nhu cầu ngưỡng vọng những gì cao siêu, mạnh mẽ và quyền lực[7].

Triết lý người Việt không cần chứng minh có một Ông Trời, nhưng sự hiện hữu của Ông Trời lại là điều rất tự nhiên và rất gần gũi với mọi người. Ông Trời có mặt khắp nơi: “lưới trời lồng lộng”, Ngài nhìn xem và điều khiển, để thi ân giáng phúc cho tất cả:

 “Lạy trời mưa xuống,
lấy nước tôi uống,
lấy ruộng tôi cày,
lấy đầy bát cơm,
lấy rơm đun bếp”

                                  (Ca dao).

Ông trời thường là một thế lực thiện, che chở và bảo vệ chúng sinh, nuôi dưỡng vạn vật, để cho nhân loại nương tựa vào đấy mà sống còn, mà kính sợ, làm thiện được thưởng làm ác bị phạt. Nhưng cũng có khi người dân nghèo đau khổ quá, quay lại oán trách, nghi ngờ ý trời thiên vị bất công:

“Trời ơi! Trời ở chẳng cân:
người ăn chẳng hết, người lần không ra.
Người thì mớ bảy mớ ba,
người thì áo rách như là áo tơi” (Ca dao).

Ông Trời đó, người Công Giáo gọi là Thiên Chúa. Nhưng trong giới bình dân, họ vẫn xem Ngài giống như vị cứu tinh luôn nâng đỡ những người bị bất công. Ngài ban phước và che chở con người, đồng thời là Đấng công bằng trị tội những người bất lương và ban thưởng những ai ăn ở ngay lành. Dầu Ông Trời là một vị thần tối cao có một chỗ đứng trong cõi lòng mỗi người, nhưng Ông Trời đó cũng có thể bị đánh đổi bằng một vị thần khác nếu Ông Trời không ghé mắt nhìn xem nỗi kêu cầu của họ. Trong cuốn “Cơ Hội Của Chúa”, Nguyễn Việt Hà xây dựng nhân vật Hoàng, một tín hữu sùng kính Đức Chúa và Mẹ Maria nhưng cũng thành tâm cầu khẩn trước bàn thờ Đức Phật. Chỉ cần vài nét bút, nhà văn đã diễn tả được nội tâm của bà chủ người Nam Định, bà tự xưng là “Công Giáo gốc thứ thiệt” nhưng tháng trước vừa lên đồng mất hết cả triệu bạc. Bà ta chủ trương Thành Tâm: Kính Chúa thờ Mẹ, xem quẻ bói toán, miễn là làm ăn thành đạt.

 Không phải qua vài nhân vật trong tác phẩm “Cơ Hội Của Chúa” hay một số người mà ta thường gặp trong cuộc sống để đánh giá về người Công Giáo Việt Nam là thế đó, nhưng cũng cần nhìn nhận trong thực tế, cách sống đạo phần đông của người Việt vẫn hy vọng vào Thiên Chúa ban phước mà cuộc sống cụ thể của họ đang cần như: tiền bạc, công danh, con cái, nhà cửa… Tuy nhiên, một số người khó chấp nhận một Thiên Chúa im lặng trước những gì họ khẩn khoản cầu xin. Vì nhu cầu và mục đích họ nhắm tới, nên nhiều người vẫn chủ trương, Chúa không cho thì xin Mẹ; Mẹ không cho thì xin các thánh; các thánh không cho thì xin Phật, miễn là Đấng nào giúp đỡ cũng được.

Nhìn chung người Việt, hình như ai cũng muốn cho mình một vị thần hộ mệnh: Nghèo khổ kiếm được nhiều tiền, bất hạnh gặp thấy niềm vui, đau thương sẽ trở thành hoan lạc, thấp hèn sẽ trở thành cao sang. Nếu lời kêu cầu của họ không được đáp ứng, thì Thiên Chúa hết ý nghĩa và câu than trách: “Chúa Đâu Rồi” sẽ không ngớt trên môi miệng.

Nhìn lại Dân Chúa trong Cựu Ước, suốt hành trình sa mạc, Thiên Chúa luôn đồng hành với họ: Bị đói, Thiên Chúa cho Manna và chim cút tới để nuôi dưỡng họ; bị khát,Thiên Chúa cho nước từ tảng đá vọt ra (x. Xh 16,1-17,7); khi gặp kẻ thù, Thiên Chúa ra tay nâng đỡ giải thoát (x. Xh 17,8-16), nhưng khi vắng bóng Thiên Chúa, họ đã quay lưng dễ dàng tìm kiếm một vị thần khác để cầu xin. Họ khẩn nài ông Aaron: “Ngài hãy làm cho chúng tôi một thần linh đi trước chúng tôi” (Xh 32,1). Dân chúng cảm thấy Thiên Chúa quá xa lạ, quá vô hình; họ không tin vào Ngài; họ thích một vị thần vừa tầm tay để họ có thể thỏa mãn và có thể mang đi bất kể nơi nào họ muốn, thay vì phải bó buộc theo Thiên Chúa và tuân giữ lời của Ngài (x. Xh 40,36t). Họ muốn Thiên Chúa đi với họ thay vì họ phải đi với Thiên Chúa[8]. Trong tâm thức, họ coi Chúa là thần hộ mệnh, là phương tiện. Ngay đến cả tu sĩ nếu không có một đời sống đức tin vững mạnh, thì cách họ tìm kiếm cũng chẳng khác gì những người Công Giáo bình dân. Họ cũng chẳng khác gì nhân vật Hoàng trong tác phẩm “Cơ Hội Của Chúa”: Vừa tôn kính Chúa Giêsu và Mẹ Maria nhưng lại vừa kính mến những gì không thuộc về Thiên Chúa. Họ yêu mến Thiên Chúa nhưng cũng ham mê những gì là thế gian. Họ lần hạt đọc kinh, xem lễ sốt sắng, nhưng lại sẵn sàng dùng những thủ đoạn để tìm kiếm danh vọng.

Người ta nói, Thiên Chúa là phương tiện thì hoàn toàn vô phép, phạm thượng nhưng đáng tiếc cách sống của một số tu sĩ, linh mục lại là câu trả lời đúng: “Thiên Chúa là phương tiện”, vì những gì họ nhắm tới không phải là Thiên Chúa, Đấng nghèo khổ tiến lên Núi Sọ, chịu đóng đinh, chịu chết và sống lại, mà là thế gian. Khi Thiên Chúa là phương tiện thì chắc chắn họ sẽ không thành công mãi, cũng có lúc bị hụt hẫng, bị thất vọng. Khi đó Chúa đâu rồi là ngôn từ không thể thiếu nơi môi miệng để than trách Ngài.

 

III. SÓNG GIÓ CUỘC ĐỜI CHE LẤP THIÊN CHÚA

Sóng gió cuộc đời là một đề tài muôn thuở, không bao giờ nói cho hết cảnh bi đát của con người. Nó muôn hình muôn vẻ và đa dạng, gắn liền với cuộc sống của từng người. Người ta dễ dàng nói và diễn tả sóng gió qua những tác phẩm, những bài nói chuyện cũng như những lời khuyên để thuyết phục người đang bị sóng gió cuộc đời vùi lấp. Mỗi người mỗi cách diễn tả: các triết gia thường đặt câu hỏi: khổ đau là gì? Nó bắt nguồn từ đâu?… Các nhà thần học và tu đức giải thích đau khổ như một thứ gì đó hết sức linh thiêng để cho người nghe biết nguyên nhân của sóng gió và tìm phương thế hữu hiệu để vượt qua. Đôi khi những người nói về bi đát của kiếp người lại là những người chưa thực sự nếm thử thế nào là đau khổ cùng cực. Họ là những người ai cũng thấy khỏe thân xác, mạnh tâm hồn và đang vui sống. Đức hồng y Veuillot khi bị hành hạ do căn bệnh ung thư vào giai đoạn cuối đã thổ lộ rằng: “Chúng ta có đủ tài để nói rất hay về đau khổ, và bản thân tôi cũng đã từng nói về đau khổ với tất cả nhiệt tình. Nhưng bây giờ hãy bảo các linh mục đừng nên nói gì về đau khổ cả, chúng ta chẳng biết đau khổ là gì, tôi chỉ biết khóc thôi”[9] .

Ai đã từng trải qua sóng gió cuộc đời cách bi đát mới cảm nghiệm được lời nói của Đức hồng y Veuillot là đúng. Nói về đau khổ và sống trong đau khổ không bao giờ đi đôi với nhau. Khổ đau thể xác có thể vượt qua, nhưng nỗi đau tinh thần mới đáng nói. Một số người đã mất phương hướng khi khổ đau tinh thần ập đến chỉ còn biết tìm cái chết để giải thoát. Ai đã từng bị đói khát, mới thấy được nỗi khổ đau của những người thiếu ăn; ai đã vào tù thì mới hiểu được thế nào là mất tự do; ai đã từng đau thương mới có thể chảy nước mắt trước những cảnh đời bất hạnh; ai đã từng bị hắt hủi mới hiểu được thế nào là kiếp nô lệ; ai đã từng bị bỏ rơi mới thấm thía cảnh cô đơn ruồng bỏ… Chúa Giêsu, Ngài biết rõ mọi sự, nhưng khi đối diện với cái chết, đối diện với sự cô đơn, các môn đệ thân tín chạy trốn, Cha của Ngài vẫn im lặng không một lời khuyên, Ngài đã phải hoảng sợ và đau thương đến đổ mồ hôi máu. Lời tha thiết của Ngài: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con”(Mc 15,34). Đó là một lời diễn tả của những người trong lúc tuyệt vọng không còn gì để bám víu, để nương tựa.

Đức Thánh Cha Benedicto XVI cho rằng, đau khổ là một phần của cuộc sống con người. Đau khổ một phần xuất phát từ những giới hạn khiếm khuyết mà chúng ta gây ra cho nhau, một phần do tội lỗi là quyền lực sự dữ ngự trị trong chúng ta ngày một lớn lên không ngừng[10] . Nói đến khổ đau ai cũng muốn tránh, bất công ai cũng sợ, nhưng người ta lại thích ăn cắp hạnh phúc và niềm vui của người khác, rồi quay lại trút khổ đau lên đầu họ. Theo Đức Thánh Cha, khi hạnh phúc và sự an toàn của bản thân tôi quan trọng hơn chân lý và công bình thì quyền lực của kẻ mạnh hơn sẽ thắng thế và bạo lực cùng với gian dối sẽ ngự trị[11]

Còn trong đời sống tu trì, sống gió cuộc đời có che lấp Thiên Chúa không? Đời sống cộng đoàn bắt nguồn và họa theo khuôn mẫu của Thiên Chúa Ba Ngôi hướng đến xây dựng một cộng đoàn huynh đệ dấu chỉ Nước Trời nơi trần gian. Thế nhưng trong thực tế cộng đoàn tu trì vẫn còn tồn tại những tham, sân, si của thân phận con người, khiến cho tình hiệp nhất bị rạn nứt, niềm tin bị lung lay, từ đó hình ảnh Thiên Chúa dần vắng bóng trong cuộc đời người tu sĩ. Do đó xảy ra những tranh luận dẫn đến những bất đồng, đôi khi cả những xung khắc. Lời cảnh tỉnh của Thánh Phaolô đối với giáo đoàn Corinto vẫn còn đó: “Thưa anh em, nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận một lòng một ý với nhau … Tôi muốn nói là trong anh có những luận điệu như: “Tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apolo, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô”(1 Cr 1,10.12).

Khi các cộng đoàn dòng tu là trường dạy đức ái, nơi đó tình yêu và công lý ngự trị. Mục đích của đời tu phải vươn tới sự trưởng thành theo khuôn mẫu Đức Kitô. Nhưng một khi mục đích đã phai nhạt, thì các cộng đoàn tu sẽ trở thành một công ty tập hợp nhiều thành phần, trong đó mỗi người tranh nhau tìm kiếm những gì thuộc về thế gian. Trước một tình trạng sống như vậy, chắc chắn những người thấp cổ bé miệng không thể tránh khỏi cảnh say sẩm và tự hỏi, Chúa có còn đó nữa hay không? Chúa đâu rồi?

 

KẾT

Thiên Chúa là đề tài không những thời đại hôm nay mới bàn tới mà xuyên suốt dòng thời gian đã qua, người ta không ngớt nói về Ngài dưới nhiều khía cạnh: Ngài là ai, ở đâu và có tương quan như thế nào với mỗi người? Nhưng nếu nhìn vào Đức Giêsu Nadarét, thì người ta khó chấp nhận một Thiên Chúa: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu”(Mt 8,20). Một Thiên Chúa bị tẩy chay, bị xỉ nhục và cuối cùng bị đóng đinh như một tên tử tội. Thiên Chúa xem ra thất bại và thất vọng đó lại là kho báu quí giá cho những ai dám đánh đổi tất cả, kể cả mạng sống mình để có Ngài trong cuộc đời của mình. Nhưng kho báu đó lại phủ lấp quá nhiều thứ trần thế làm cho người ta ngã lòng và bỏ cuộc. Trên con đường đi tìm kho báu lại hấp dẫn bởi những con đường cắt ngang đầy bóng mát của vật chất- danh vọng thu hút lòng người, nên người ta dễ dàng ngồi lại nghỉ ngơi để hưởng thụ và muốn quên đi kho báu. Nhiều người cho rằng, con chim sẻ nắm trong tay còn hơn con đại bàng bay trên trời. Trong thực tế của cuộc sống, chẳng ai dám liều đánh đổi những gì mà người ta không cho là giá trị hơn. Việt Nam ta thường nói: “Bỏ con tép bắt con tôm” chứ chẳng ai dại gì mà bỏ con tôm để bắt con tép. Chúa Giêsu được ví như là kho báu, nhưng có một số người không nhận ra; Chúa Giêsu là kho báu nhưng những thứ trước mắt hấp dẫn hơn nên không còn nhớ tới Ngài nữa; Chúa Giêsu là kho báu nhưng sóng gió cuộc đời làm cho con người mệt quá nên bỏ cuộc trở về trong thất vọng.

 Câu CHÚA ĐÂU RỒI, người ta nói khác nhau, mỗi người mỗi hướng và mỗi cách diễn tả. Câu trả lời Thiên Chúa là ai chỉ đúng và có ý nghĩa khi người tu sĩ để cho Thiên Chúa có một chỗ đứng quan trọng không thể thiếu trong cuộc đời. Tu sĩ chỉ trả lời đúng Thiên Chúa đâu rồi khi không còn bám víu vào những lợi lộc trần thế làm cứu cánh của đời mình. Qua câu nói tưởng chừng như quen thuộc: “Chúa Đâu Rồi” lại là một câu trắc nghiệm về đời sống đức tin của người tu sĩ trong hành trình theo Chúa mà đỉnh cao là đồi Can-vê, nơi đó người tu sĩ mới có thể nói là đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, hiến tế cho Thiên Chúa và cho nhân loại. Nơi đồi Can-vê, tu sĩ mới trả lời thỏa đáng cho mọi người đang chất vấn câu “Chúa Đâu Rồi” khi cuộc đời họ đang chìm ngập trong sóng gió cuộc đời, đồng thời trên Núi Sọ, người tu sĩ mới thực sự là ngọn hải đăng chiếu sáng cho những người tưởng chừng như Chúa đã chết để sống buông thả lừa dối lương tâm. Như vậy, câu nói thiết thực và cụ thể nhất để mọi người cảm nhận về Chúa hay thất vọng về Ngài khi người tu sĩ diễn tả Thiên Chúa bằng chính cuộc đời của mình, nhất là những lúc bóng tối bao phủ cuộc đời. Khi tu sĩ biết xây dựng đời mình trên nền tảng là Đức Giêsu, Đấng nhập thể, chịu khổ nạn, chịu chết và phục sinh thì dầu sóng gió cuộc đời có thế nào đi nữa cũng không thể vùi lấp vì có Chúa đang đồng hành: Thầy đây, đừng sợ.

 

 


 

[1] X. Lịch sử tiết học thời Tây Phương, lưu hành nội bộ, tr. 160

[2] Benedicto XVI, thông điệp Caritas in Veritati, 55

[3] Benedicto XVI, sđd, 53

[4] Nguyễn Thái Hợp, Giá trị đạo đức trong cơn lốc thị trường, tr. 167

[5] Nguyễn Việt Hà, Cơ hội của Chúa, NXB Văn Học, 1999, tr. 436

[6] Trần Ngọc Hoan, Sđd, tr. 70-72

[7] Trần Ngọc Hoan, Tín ngưỡng Việt Nam, tr. 64-72.

[8] x. Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh, Tội, tr. 276.

[9] Xavier Thevenot, Đau khổ và hạnh phúc, chuyển ngữ Lm Đặng Xuân Thành, NXB Tôn Giáo, tr. 8.

[10] X. Benedicto 16, Thông điệp Spe Salvi, số 36.

[11] Thông điệp Spe Salvi, số 38. 

 

 

 

 

 

 

 

Rượi Mới Bầu Da Mới

 

Piô Năm Dấu (Thiên Phước)

Rượu là một trong những thức uống được con người ưa thích. Bởi thế, trong một số bữa tiệc, không thể thiếu rượu, vì không có rượu niềm vui bữa tiệc không được trọn vẹn. Trong thực tế, khi chúng ta thưởng thức rượu, không những làm tăng thêm niềm vui, mà còn giúp con người vơi đi những nỗi phiền muộn, đắng cay của cuộc đời. Người xưa có câu: “Nhất tửu tiêu vạn sầu” nghĩa là, thưởng thức một ly rượu thì quên đi mọi đắng cay của cuộc đời. Sách Châm ngôn còn cụ thể hơn khi nói: “Hãy đem chất men cho người đang hấp hối, và đem rượu cho người chịu đắng cay, để họ uống mà quên đi cảnh nghèo, khỏi nhớ đến nỗi khổ đau phiền muộn nữa” (Cn 31,6-7).

Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu ví mình là Mục Tử nhân lành, Ngài đến trong trần gian không chỉ “cho chiên được sống và sống dồi dào”, mà còn “thí cả mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,10-11). Chính tình yêu tự hiến và giáo lý của Đức Giêsu được xem như là Rượu Mới, rượu sự sống, rượu tình yêu vĩnh cửu mà Thiên Chúa Cha ban cho nhân loại. Theo Tin Mừng Mc 2,22, Chúa Giêsu mong muốn môn đệ của Ngài phải mặc lấy tâm tình mới. Nói đến tâm tình mới là nói đến việc canh tân và thích nghi. Tuy nhiên, chúng ta phải canh tân và thích nghi như thế nào?

 

1.Rượu mới-bầu da mới

Trong Kinh Thánh, rượu nho nằm trong viễn ảnh cánh chung theo hai ý nghĩa sau đây:[1]Thứ nhất, rượu ở đây được xem là một phần thưởng cao quý dành cho những người sống một cuộc đời công chính. Trong Tin Mừng Matthêu 26, 29, rượu mới gợi lên bữa tiệc cánh chung do Đức Giêsu dành cho các kitô hữu trong Vương Quốc của Cha Người: “Thầy bảo cho anh em biết: Từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy”. Ý nghĩa thứ hai, rượu là hình ảnh cơn lôi đình, “… Thiên Chúa đã nhớ đến thành Ba-by-lon vĩ đại mà cho nó uống chén rượu là cơn lôi đình thịnh nộ của Người” (Kh 16,19).

Rượu trong Thánh Kinh có ý nghĩa như đã phác họa trên đây. Còn riêng Chúa Giêsu lấy hình ảnh rượu mới và bầu da mới để dạy cho các môn đệ bài học. Rượu mới không thể nào chứa đựng trong bầu da cũ được với kinh nghiệm của các môn đệ, ai cũng biết điều này; vì rượu càng mới thì nồng độ của nó càng mạnh, một bầu da cũ sẽ không thể thích hợp để thâu nhận nó. Cũng thế, không thể lấy tinh thần cũ là tinh thần vị luật để đón nhận giao ước mới; không thể lấy con người cũ là con người nuông chiều theo tính xác thịt để đón nhận rượu mới là Đức Kitô. Theo ý nghĩa này, thánh Phaolô nhấn mạnh: “Anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,23-24a).

 

2. Đức Giêsu rượu mới-rượu tình yêu.

Khi sử dụng hình ảnh “rượu mới” để mời gọi các môn đệ đổi mới và thích nghi, Chúa Giêsu tỏ cho các môn đệ biết Ngài là rượu mới, rượu của Tân ước. Thứ rượu mới này chỉ có thể đựng trong những bầu da mới là chính tâm hồn mỗi người chúng ta. Thế nhưng, để có được “bầu da mới” cần phải trải qua một quá trình biến đổi. Biến đổi cá nhân và biến đổi cộng đoàn để tất cả đạt tới tầm mức viên mãn trong Chúa Kitô.

a. Đổi mới cá nhân.

Là Kitô hữu, chúng ta được mời gọi nên giống Đức Kitô. Nên giống Đức Kitô là kết quả của những chọn lựa sống theo Thần khí của Ngài. Một khi chúng ta nên giống Đức Kitô, thì chúng ta phải biến đổi và trở nên con người mới. Sự biến đổi là một tiến trình liên tục, từ chỗ đổi mới tư duy, đến đổi mới lời nói, hành động và trở nên con người mới trong Chúa Kitô.

Thánh Phaolô đã nài xin cộng đoàn Philipphê: “Anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Giêsu Kitô” (Pl 2,5). Tâm tình đó không gì khác hơn là làm theo thánh ý Thiên Chúa Cha “Lạy cha, xin đừng làm theo ý con, nhưng một xin vâng theo ý Cha” (Mt 26,39b). Vì thế, sứ vụ của Ngài là thực hiện theo ý của Cha: “… vì Tôi không tìm cách làm theo ý riêng Tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai Tôi” (Ga 5,30). Là những môn đệ chân chính, chúng ta cũng được mời gọi để tiếp nối sứ vụ cao cả này: “Làm theo Thánh Ý Thiên Chúa”. Chúng ta chỉ tiếp nhận sứ vụ đó khi chúng ta có cùng một tâm tình với Chúa Giêsu. Sứ vụ này chỉ được thực hiện với Chúa Kitô. Vì thế, thánh Phaolô đã tha thiết mời gọi: “Anh em hãy mặc lấy Đức Giêsu Kitô” (Rm 13,13). Một khi chúng ta mặc lấy Ngài, cũng là lúc chúng ta biết được: “… Đâu là ý Thiên Chúa, cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2).

Mặc lấy Đức Kitô luôn đi kèm theo với việc sám hối. Nói cách khác là đổi mới con người cũ, là con người, theo thánh Phaolô, “đừng chiều theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng” (Rm 13,14). Con người này luôn dẫn chúng ta đến chỗ tự khẳng định chính mình và xa rời Thiên Chúa. Bởi thế, thánh Phaolô đề nghị với chúng ta phải “ăn ở như con cái của ban ngày, không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng…” (Rm 13,13), nhưng phải để cho Thần Khí hướng dẫn và biến đổi. Điều này chỉ có thể xảy ra khi chúng ta sống khiêm tốn, tức là có thái độ buông bỏ tất cả và phó mặc cho Chúa hành động trên cuộc đời của mình.

 Một khi từ bỏ con người cũ, chúng ta phải biến đổi cuộc đời của mình nên giống Đức Kitô. Thế nhưng, để biến đổi nên giống Chúa Kitô, chúng ta cần bước theo Ngài trên con đường Ngài đã đi: “Đức Kitô vốn là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ… trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự…” (Pl 2,6-7). Con đường này phải được thực hiện mỗi ngày để chúng ta có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Nói tóm lại, chỉ khi nào chúng ta nên một với Đức Kitô thì lúc đó chúng ta mới biến đổi thực sự và biến đổi triệt để thành con người mới.

 b.Đổi mới cộng đoàn.

Báo “Công giáo và dân tộc”, số 1099, ra ngày 23.03.1997, đã cho đăng tải những suy tư của Đức Cha Bùi Tuần về đời sống chung, trong đó ngài nhấn mạnh: “Tôi thấy ở đâu có bác ái, ở đó có tôn vinh Thiên Chúa. Một cộng đoàn gồm nhiều người tài giỏi sẽ không tôn vinh Thiên Chúa cho bằng một cộng đoàn mà mọi người sống đậm tình liên đới. Một xã hội gồm toàn những cá nhân giàu sang sẽ không tôn vinh Thiên Chúa cho bằng một xã hội gồm những trái tim biết yêu thương, chia sẻ, giàu khả năng kính trọng nhau với những khác biệt, và cùng nhau phấn đấu cho lợi ích chung. Một nốt nhạc không làm nên một bài ca. Cũng thế, bài ca sống động tôn vinh Thiên Chúa là một liên đới đẹp giữa nhiều cuộc đời, giữa nhiều thân phận. Chỉ có tình yêu mới làm nên được liên đới đó. Tình yêu của Đức Kitô là một mô hình tuyệt vời, luôn luôn mới, không ngừng dẫn tới phục sinh”.

Những lời chia sẻ của Đức Cha trước tiên cho thấy cộng đoàn, là cộng đoàn huynh đệ, luôn quy hướng về Thiên Chúa. Quy hướng về Thiên Chúa là quy hướng về nguồn sống yêu thương, và sự thật. Lý tưởng của cộng đoàn không phải là lợi ích trần gian, nhưng chính là Thiên Chúa, nơi đó được ân sủng và tình yêu của Chúa Kitô nuôi dưỡng tạo mối dây liên kết: “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ, vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2, 44-47).

Cộng đoàn được đổi mới là cộng đoàn không chỉ nhắm đến những cá nhân tài năng, nhưng đến chính con người của từng anh em. Họ là hình ảnh Thiên Chúa (x. St 1,27) và cần được tôn trọng như những nhân vị độc đáo và cao quý, cùng nhau dấn bước theo Chúa Kitô trên con đường trần gian. Vì thế, cộng đoàn này sống giữa thế gian, nhưng “không thuộc về thế gian”; sống trong thế gian để kiến tạo thế giới này tốt đẹp hơn theo thánh ý Thiên Chúa.

Cuối cùng, cộng đoàn mới là cộng đoàn của hiệp nhất theo khuôn mẫu của Chúa Ba Ngôi. Hiệp nhất trong những khác biệt, nên cần phải chấp nhận sự khác biệt và tôn trọng để xây dựng thân mình Đức Kitô. Như lời khuyên bảo của Thánh Phaolô: “Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau” (Ep 4, 2-3).

Tóm lại, đổi mới cá nhân, cũng như cộng đoàn được ví như một sự chết đi và sống lại như Chúa Giêsu chết và sống lại, hay nói cách khác là gặp được Chúa Kitô Phục Sinh. Chính nhờ sự gặp gỡ Chúa Kitô Phục sinh mà hai môn đệ trên đường Emmaus quay trở lại Giêrusalem để loan báo tin vui; các môn đệ không còn sợ hãi để loan báo hồng ân cứu độ với nhiều thứ tiếng khác nhau; và cũng nhờ việc gặp gỡ này mà bao thế hệ, với bao lớp người đã trở nên chứng nhân đức tin và đã chấp nhận tự hủy để nên một với Ngài.

Gặp gỡ Đức Kitô phục sinh là chìa khóa và là con đường cho việc canh tân, thích nghi và chân thật nhất; là con đường dẫn chúng ta đến sự thật, sự sống bất diệt.

 

Kết luận.

“Không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, thế là rượu cũng mất mà bầu cũng hư. Nhưng rượu mới, bầu cũng phải mới” (Mc 2, 22). Đức Giêsu là Rượu mới, Ngài mong rằng, khi chúng ta uống thứ “rượu mới” đó nghĩa là cá nhân và cộng đoàn cần được đổi mới. Nếu chúng ta biết đổi mới theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, thì cuộc sống của chúng ta sẽ triển nở và hạnh phúc.

Tuy nhiên, trong thực tế đổi mới là một việc làm khó khăn, nhất là những gì đã ăn sâu vào trong tâm thức và thói quen của mỗi con người chúng ta, nhưng còn khó hơn khi phải đổi mới một phong tục tập quán cổ hủ đã lỗi thời và làm cản trở sự phát triển đời sống con người.

Thật vậy, ở nơi chúng ta, “tất cả những gì là mạnh mẽ, chắc chắn, vững vàng, để chu toàn giới răn của Thiên Chúa và chịu đựng những đau khổ, hay hành động trong vâng phục để bảo vệ công lý. Tất cả những điều ấy đều là sức mạnh từ “rượu mới” là chính Đức Giêsu. Nếu ngay từ bây giờ, Đức Giêsu đã là của ăn và thức uống ban sức mạnh cũng như niềm vui cho người công chính, thì trong đời sau, Ngài sẽ còn là sức mạnh và niềm vui gấp bội cho những ai trung tín biết chừng nào”[2] .

 

 


 

 [1] Điển ngữ thần học Thánh Kinh, tập III, tr. 344.

 [2] NHIỀU TÁC GIẢ. Mở Ra Với Ánh Sáng. Nxb Tôn Giáo, tr. 83.

 

 

 

GẶP CHÚA

Điệp Lan Đình.

                                                      Đi sâu vào nội tâm
                                                      Để gặp. –Tìm thấy Chúa
                                                      Con sẽ thấy đời con
                                                      Niềm vui tràn tích chứa.

                                                                    ***

                                                      Người như Cha như Mẹ,
                                                      Người như Anh như Em,
                                                      Người thân con hơn hết,
                                                      Hơn hết mọi người quen.

                                                                    ***

                                                      Nếu con gặp được
                                                      Người Con sẽ thấy đời tươi.
                                                      Hoa Quỳ Dương khi nở
                                                      Quay hướng lên mặt trời.

 

 

 

 

 

 

 

Dung Mạo Chúa Giêsu

Trong Đời Sống Cộng Đoàn

 

(Cộng đoàn Phước-Thiên) 

 

Cộng đoàn là tác phẩm tình yêu kỳ diệu do chính Chúa Giêsu là tác giả, mà căn tính của cộng đoàn là mặc lấy dung mạo Chúa Giêsu qua sự hiệp thông hướng về niềm hy vọng vĩnh hằng trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Sự hiệp thông được diễn tả sống động và cụ thể qua đời sống Giáo Hội, cách riêng trong cộng đoàn môn đệ ưu tuyển: cộng đoàn tu trì. Sự hiệp thông huynh đệ trong tình yêu luôn giúp mọi thành viên trong cộng đoàn ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu, để qua Người chúng ta cảm nghiệm được Nguồn Sống đích thật: Ba Ngôi Thiên Chúa. Như vậy, mọi cộng đoàn phải mang dung mạo của Chúa Giêsu trong mình, là trở nên một trong Chúa Giêsu, là hiệp thông liên lỉ và trọn vẹn với Thiên Chúa qua sự vâng phục Thánh Ý. Chúa Giêsu là tất cả của Chúa Cha và Người cũng là tất cả của chúng ta. Dung mạo ấy phải được chúng ta yêu mến và mặc lấy như tâm tình sống thiết thân hằng ngày.

 

1) Chúa Giêsu là tất cả của chúng ta. 

Trong kinh Tin Kính chúng ta đã tuyên xưng và xác tín niềm tin kiên định và vinh dự này: “Chính nhờ Người mà muôn vật được tạo thành”. Thật chính đáng để tuyên xưng như thế, vì tất cả mọi sự chúng ta có và mọi điều chúng ta được đều khởi sinh từ tấm lòng yêu thương của Chúa Giêsu, Người Con Chí Ái và đẹp lòng Thiên Chúa mọi đàng. Chúng ta hoàn toàn hàm ơn Chúa Giêsu trong từng hơi thở, từng nhịp đập của con tim. Sự hiện hữu của chúng ta là một huyền nhiệm mà lý trí khó có thể tìm câu trả lời, nhưng chỉ có trái tim mới bập bẹ lời cậy tin của lòng mến. Tình Yêu Người làm cho cộng đoàn hiện hữu và hiện diện bên nhau. Sự hiện diện đó nói lên điều gì? Phải chăng lời đáp ý nghĩa nhất là cùng hiệp thông trọn vẹn với Người trong Đức Ái qua tha nhân, hay nói cách khác chúng ta được tạo dựng để nên giống Đức Kitô. Càng nên giống Đức Kitô bao nhiêu thì cuộc sống và sự hiện diện của chúng ta càng có ý nghĩa bấy nhiêu. Đúng vậy, “Vì chúng ta và vì loài người chúng ta, Người đã từ trời xuống thế”. Người đến với nhân loại để chúng ta được mặc lấy dung mạo thần tính của Người. Một dung mạo chỉ có tình yêu mà không hận ghét, chỉ có bạn hữu mà không kẻ thù, chỉ có bao dung mà không dị biệt, tràn đầy hy vọng chứ không thất vọng. Đây là đặc ân vĩnh hằng và nhưng không, nó cao trọng đến nỗi Thánh Phaolô đã không ngần ngại thốt lên lời gọi mời tha thiết mà chính ngài đã trải nghiệm “Anh em hãy mặc lấy Chúa Kitô” (Rm 13,14). Điều quan trọng là chúng ta có dám mặc lấy dung mạo của Chúa Giêsu cùng với những ưu phẩm của Người hay không? Mặc lấy dung mạo của Chúa Giêsu là đi vào con đường “xóa mình” như Người đã thực hiện và làm gương cho chúng ta, là cúi xuống rửa chân cho nhau, là cởi bỏ con người cũ với nếp sống hư hèn và những ham muốn xác thịt, là thay đổi cách suy nghĩ quy ngã, là tập tành các nhân đức, để “Người lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” (Ga 3,30). Hầu hết chúng ta đều rất tự tin như Phêrô để trả lời ngay mà không ngập ngừng: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26,35). Có lẽ Phêrô và mỗi người chúng ta thường tin vào một Thiên Chúa Toàn Năng hơn sống với một Thiên Chúa Tình Yêu “xoá mình”. Vì đó là một thực tại rất khó chấp nhận cho mỗi trái tim, vì nó đi ngược với mọi giá trị mà chúng ta kỳ vọng vào Thiên Chúa. Cuộc sống của chúng ta vẫn mãi tranh nhau một tiếng khen, vẫn muốn hơn nhau trong những điều vụn vặt, vẫn còn nhiều rào cản làm cho nhau cụt hứng dấn thân. Thế nên, sống trọn vẹn với Tình Yêu “xoá mình”, quả là một thách đố thật sự. Trong những giờ phút thử thách, câu trả lời của mỗi người vẫn thường lặp lại: “Tôi không biết người này” (Mt 26,74). Điều đó có nghĩa là “Tôi không chấp nhận dung mạo này”.

 

2) Những vấn nạn giúp Cộng Đoàn nhận ra dung mạo Giêsu.

Vấn nạn được đặt ra trước hết là trong lòng cộng đoàn: Chúng ta có chấp nhận một dung mạo “xóa mình” của Chúa Giêsu trong ta và trong nhau hay không? Trả lời chân thành và đầy đủ cho vấn nạn này là chúng ta đang tựa đầu vào Chúa Giêsu (x. Ga 13,23), để nghe giai điệu yêu thương rung lên lời tình sử. Dung mạo “xóa mình” này hoàn toàn trái ngược với dung mạo tự “tỏ mình” của chúng ta. Tính kiêu căng trong mỗi người như một lực đẩy đã phản kháng và cố đánh bật sự “xóa mình”, không chấp nhận quyền năng là yếu đuối, sức mạnh là lặng thinh, vinh quang là tha thứ và dũng lực là hiến mình. Chính sự dị biệt ngay trong trái tim ta, đã làm cho dung mạo Chúa Giêsu hầu như ẩn khuất và không thể chiếu tỏa. Khi nào ta chưa “xóa mình”, ta vẫn là kẻ đang từ chối dung mạo của Người trong bản thể đời ta, chúng ta chưa đón nhận một dung mạo thần linh “hiền lành và khiêm nhượng”, tự tình trao nộp trái tim “vì bạn hữu” mình. Một dung mạo thần linh gần gũi với chúng ta và đã bị tội lỗi chúng ta làm biến dạng. Chính Chúa Giêsu đã đi con đường “xóa mình” để đến với chúng ta, Người chấp nhận chúng ta với muôn vàn khiếm khuyết, thế tại sao chúng ta còn nghi ngại khi “xóa mình” để đi vào Tình Yêu Người?

Vấn nạn thứ hai là chúng ta có chấp nhận một dung mạo “xóa mình” của Chúa Giêsu trong anh chị em hay không? Một lời nói khó chịu đủ làm ta bực tức, một hành động phiền nhiễu đủ để ta xét đoán, một thương tổn không lớn đủ để ta kết tội và “đóng đinh” người khác trong thành kiến nhỏ nhoi của ta. Chúng ta sẵn sàng bước theo Chúa Giêsu nhưng lại không muốn đi vào huyền nhiệm Tình Yêu Xóa Mình của Người. Trong Trái Tim Vô Biên của Chúa Giêsu, không có bóng dáng của chia rẽ, dị biệt, xét đoán hay loại trừ, mà chỉ có thứ tha và tha thứ, chỉ có yêu thương và thương yêu. Chúa Giêsu đã nhận lấy mọi dung mạo “đa dạng” của mọi người chúng ta, để trao cho chúng ta mối dây hiệp thông Đức Ái, để tỏ lộ cho chúng ta Tình Yêu đời đời của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã chấp nhận dung mạo “trầy trụa, nhem nhuốc” của chúng ta, vậy sao chúng ta lại không chấp nhận dung mạo “yếu đau xác – hồn” (x. Tu luật 72) của Người trong tha nhân? Dung mạo nào có thể hoàn toàn làm hài lòng ta, khi lắm lúc chính ta cũng chưa hài lòng về dung mạo của mình? Nghịch lý này chính là nguyên nhân làm cho ta không muốn nhận ra dung mạo của Chúa Giêsu trong anh chị em, vì ta muốn lấy dung mạo mình để quy chuẩn cho mọi giá trị. Nếu ta không đón nhận dung mạo “xóa mình” của Chúa Giêsu nơi anh chị em ngay trong thực tại trần thế này, là những dị biệt còn gần gũi trong bản tính nhân loại, thì làm sao ta có thể cảm nghiệm được dung mạo “tỏ mình” của Người trên Thiên Quốc, là những mặc khải quá cao vời trong bản tính Thiên Chúa so với bản thể thấp hèn của ta?

 

3) Cảm nhận và suy tư

Điều xảy ra bên ngoài không quan trọng bằng điều đang đánh động bên trong. Chúng ta đừng bao giờ dựa vào hoàn cảnh hay sự việc nào để ngụy biện cho kiểu sống chối từ dung mạo của Chúa Giêsu trong ta và trong tha nhân. Hoàn cảnh và các biến cố chỉ là tạm thời, nhưng nhân cách và mọi hành xử của chúng ta vì Tình Yêu sẽ cùng với ta đi vào cung lòng của Thiên Chúa Hằng Sống. Chúng ta sẽ tự kiểm chứng lại mình về những quyết định và hành vi trái ngược với Tình Yêu. Sống cho Tình Yêu là không còn khoảng cách và thời gian, không còn lời khen tiếng chê theo định kiến rất mong manh của tháng ngày. Khi yêu, trái tim sẽ mách bảo những điều mà lý trí bao giờ cũng lập luận, ngần ngại và nghi ngờ. Nhịp rung của Trái Tim Thánh đã khiến một Thiên Chúa Toàn Ái tự tình mặc lấy thân phận bụi đất và dâng hiến tất cả cho chúng ta. Đây là lời mời gọi và cũng là sự thúc bách trái tim chúng ta hãy làm như thế. Ý định của Thiên Chúa là chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu và mọi việc xảy đến với chúng ta đều vì mục đích cao cả này. Chính Con Một của Ngài đã đi qua con đường “xóa mình”, thì tại sao chúng ta là môn đệ Người lại khước từ sự “xóa mình”? Bởi thế, Thiên Chúa sẽ dẫn ta đi qua những trải nghiệm của Chúa Giêsu: cám dỗ, cô đơn, bị bỏ rơi, lên án, bị ngược đãi, phê bình, bị hiểu lầm, đố kỵ, bị tranh tụng, giết chết… nhưng sống lại hiển vinh. Đây là con đường tinh luyện Tình Yêu huyền nhiệm, vì khổ đau thì tạm thời nhưng vinh quang là đời đời, thập giá chỉ là một chặng đường nhưng phục sinh là bất diệt. Trong Tình Yêu, thập giá khổ đau trở thành Cây Ân Sủng lấp lánh niềm hy vọng và đó là niềm vui đích thực cho những trái tim biết yêu và đang yêu dung mạo “xoá mình” của Chúa Giêsu.

Trên bình diện Lòng Mến, được yêu là một hạnh phúc, nhưng hiến mình vì yêu thì hạnh phúc hơn, khi đó chúng ta sống trọn vẹn cho người mình yêu. Chúa Giêsu đã yêu chúng ta theo cách của nhân loại khi Người “xóa mình”, mặc lấy thân phận bụi đất như chúng ta để ôm lấy tất cả nỗi đau của nhân loại, để kéo chúng ta về tựa đầu vào Tình Yêu Cực Thánh. Như thế, mỗi thành viên trong cộng đoàn phải chiếu tỏa Vẻ Đẹp Toàn Hảo của Chúa Giêsu qua cách “xóa mình” như Người, nghĩa là hiến trao chính mình cho anh chị em như một “quà tặng” để mang lấy những dị biệt, yếu đuối của nhau, để cúi xuống rửa mọi thương tổn cho nhau, và để cùng nhau chấm chung tấm bánh cùng đĩa với Thầy, nghĩa là hiệp thông với Chúa Giêsu trọn vẹn trong nhiệm tích Thánh Thể. Cộng đoàn “xóa mình” là cộng đoàn chỉ có một thân thể và một Thần Khí, chỉ có một Chúa, một niềm tin và một phép rửa (x. Ep 4,26). Khi mỗi thành viên trong cộng đoàn đặt mình trên nền tảng “xóa mình” của Chúa Giêsu, khi ấy chúng ta đang bén rễ sâu và quang tỏa ánh sáng dung mạo “Giêsu thay thảy” cho nhân loại. Amen.

 

 

 

 

Tự Do Trong Đức Kitô

 

Max.Kolbe Hoàng Văn Thái

Dẫn Nhập

Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa và ban cho con người có tự do. Tự do như là đặc tính ưu việt mà con người được thông dự vào quyền năng, sự sống và thần tính của Thiên Chúa. Con người chỉ có thể được tự do khi ở trong tình yêu Thiên Chúa và ở trong những gì thuộc về Ngài như: chân, thiện, mỹ. Mặc dù con người là bùn đất nhưng Thiên Chúa vẫn ban cho sự sống, sinh khí, tự do của Ngài, và đặt con người vào một vị trí rất quan trọng, “Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân” (Tv 8,6-7).

Nhưng những gì mà Thiên Chúa đã ban để làm nên đặc tính, giá trị con người và tô điểm cho cuộc sống thì con người đã đánh mất khi phạm tội. Tội đã đi vào trần gian và cuộc sống con người bắt đầu mất hướng đi, không còn tìm thấy đâu là giá trị sống của tự do tâm hồn để chọn lựa. Nhưng con người được phục hồi sự sống, tự do, nhân vị, hình ảnh của Thiên Chúa nhờ công trình cứu chuộc của Đức Giêsu Ki-tô. Con người tìm thấy được con đường tự do, sự sống đích thực nơi Tin Mừng và nhờ ân sủng của Đức Ki-tô. Ngài mặc khải cho chúng ta thấy chính Ngài là đường, là sự thật, và là sự sống (x. Ga 14,6). Đó là con đường dẫn ta đến tự do của con cái Chúa.

Tự do trong Chúa Ki-tô không phải là một thứ tự do của lý trí và lòng muốn. Tự do ở đây chính là do sự tác động của Thần khí trong Đấng Phục Sinh. Như vậy, tự do của chúng ta không còn bị tội lỗi và lề luật chi phối, bởi vì đã có tình yêu và ân sủng của Đức Ki-tô chiếm đoạt nhờ cái chết và phục sinh của Người. Đó là một cuộc sống được phục hồi lại từ tình trạng nô lệ của tội lỗi mà Ađam và Evà đã phạm tội trong vườn địa đàng. Nguyên tổ đã dùng tự do để chống lại Thiên Chúa, muốn được bằng Thiên Chúa. Nhưng tự do của con người tự vạch ra không phải là con đường dẫn họ tới Thiên Chúa, cũng không phải là con đường phù hợp thánh ý Thiên Chúa; mà đẩy họ xa cách Thiên Chúa.

Nhờ tình yêu và ân sủng trong Đức Ki-tô, con người được trở về hơn tình trạng xưa cũ nguyên thuỷ. Như vậy, tự do trong Đức Ki-tô đã giúp cho con người được tái sinh trong một đời sống mới với sự tác động của Thần khí chứ không phải do xác thịt. Ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa đã bao phủ và làm đổi mới tâm hồn và đời sống chúng ta, làm cho chúng ta được trở nên một tạo vật mới trong Thiên Chúa. Nói như thánh Tông đồ Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20). Trong sự tự do đó con người đã thoát ra khỏi những ràng buộc của tội và những gì do tội gây nên để tìm lại được chính mình trong không gian và thời gian của thực tại ơn cứu độ. Thực tại này được bao trùm trong tất cả mọi ý tưởng, lời nói và việc làm của chúng ta. Đó là một cuộc sống đã được thanh tẩy ngang qua mầu nhiệm cứu độ của Đức Ki-tô. Mầu nhiệm này sẽ thánh hoá và đưa chúng ta vào trong một đời sống mới của Đức Kitô, không còn chết chóc, nô lệ cho con người cũ.

Tự do trong Đức Ki-tô sẽ nối kết mọi người nên một. Nhờ cái chết và phục sinh của Người, Thiên Chúa đã cho con người được hoà giải với Chúa và với nhau. Và nhờ đời sống đức ái sẽ củng cố mối liên hệ hiệp thông cách trọn vẹn. Cuộc sống mọi người được chia sẻ và thông phần với Đức Ki-tô trong mầu nhiệm đau khổ và cái chết của Người để nhờ sự chiến thắng của Người đem lại tự do cho tất cả chúng ta.

 

1. Nhờ đức tin và ân sủng

Con người không ai có thể cậy nhờ vào sức mình, hay nhờ vào những gì luật dạy mà được trở nên tự do và công chính; nhưng con người được trở nên công chính là nhờ ân sủng và tin vào Đức Kitô Giêsu (x. Rm 5, 1-2 ). Đó là một ơn nhưng không mà Thiên Chúa ban cho những ai Ngài muốn. Nếu không có đức tin và ân sủng của Thiên Chúa thì con người không bao giờ đạt đến sự tự do đích thực. Vì chỉ nhờ có sức mạnh tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa ban, chúng ta mới có đủ sức mạnh để chiến thắng tội lỗi, và những khuynh hướng xấu nơi con người như “cái bóng” để đạt đến tự do của con cái Chúa. Sự tự do nhờ đức tin và ân sủng tạo nên một “bước nhảy” từ tình trạng nô lệ tội lỗi sang sự tự do của con cái Chúa; giống như những tù nhân đã được ân xá, được tha mọi tội lỗi và mọi hình phạt. Đức tin và ân sủng sẽ là sức mạnh giúp cho con người ra khỏi và vượt lên trên tất cả những gì do lề luật, tội lỗi, hoàn cảnh, số phận; ngay cả những dấu vết, bóng tối và cảm thức sâu xa trong tâm hồn về những khuynh hướng tội lỗi… để đạt đến niềm vui và tự do của tâm hồn. Vì thế, Chúa Giêsu đã từng nói rằng: Đức tin của con đã cứu con, con hãy vác chõng mà đi, cho dù đó là ngày Sabat (x. Ga 5, 9-10).

Nhờ đức tin và ân sủng mà Thiên Chúa ban cho con người được ra khỏi tình trạng nô lệ của tội lỗi, được liên kết sự sống trong mối tương quan mật thiết với Ba Ngôi Thiên Chúa. Đây là một ơn mà Thiên Chúa ban cho những ai Ngài muốn (x. Mt 11, 27). Vì những ai được mời gọi đến hưởng sự sống, tự do và vinh quang của Thiên Chúa thì Ngài cũng thanh tẩy họ ra khỏi tình trạng nô lệ của tội lỗi để được thuộc về Thiên Chúa. Những ai được Thiên Chúa kêu gọi thì Ngài cũng tuyển chọn; những ai Ngài đã tuyển chọn thì Ngài cũng làm cho nên công chính (x. Rm 8, 30). Càng đến gần Thiên Chúa, con người càng phải được tình yêu thanh luyện nhiều hơn để xứng đáng với sự thánh thiện, vinh quang và tình yêu thương của Thiên Chúa. Như vậy, một khi chúng ta được bén rễ sâu trong tương quan và trong tình yêu của Đức Kitô thì chúng ta được mời gọi nên giống như Ngài, trở nên một với Ngài, đến nỗi không gì có thể tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô, cho dù là gian truân, khó khăn, khốn khổ, đói rách, bắt bớ, gươm giáo, hiểm nguy… (x. Rm 8, 35).

Con người được trở nên công chính, tự do là do ân huệ Thiên Chúa ban không trong Đức Kitô. Đây là một điều vượt quá khả năng, ước muốn, sức lực và nhận thức của con người. Nhưng qua đó con người mới nhận ra được sức mạnh và tình yêu của Thiên Chúa đã đưa con người từ cõi chết bước sang cõi sống.

Như vậy, tự do của con người không bao giờ tách rời đức tin và ân sủng; nhưng luôn luôn là một lời đáp trả bằng hành động của niềm tin, để qua đó niềm tin được bén rễ sâu và lớn lên trong lòng mến của mình mỗi ngày. Còn ân sủng là quà tặng của Thiên Chúa để giữ gìn cuộc sống và thánh hoá tâm hồn con người.

Hành động của đức tin là một hành động của con người tự do trong tin yêu và phó thác vào sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa. Bầu khí tự do này như một cánh cửa mở ra cho con người bước vào cõi vô biên, để tận hưởng, chiêm ngưỡng và cảm nhận cuộc sống trong Đức Kitô. Như vậy, tự do ở đây không mang tính tri thức, mà cũng không theo kiểu khôn ngoan của thế gian; nhưng là khôn ngoan của Thần Khí vượt lên trên tất cả mọi sự. Chỉ có sự tự do trong Đức Kitô mới đem lại cho cuộc sống con người được trọn vẹn trong bình an, hiểu biết, sức mạnh để chiến thắng và vượt trên mọi nghịch cảnh, số phận của mình.

Niềm tin là một điều kỳ diệu, là một sự khởi đầu để sức mạnh của ân sủng được lớn lên trong tâm hồn. Sự lớn lên của ân sủng làm cho tâm hồn được tràn đầy sức mạnh, trước những khó khăn, nghịch cảnh, số phận, tội lỗi, … và niềm tin sẽ đưa con người đến nguồn ơn cứu độ là sự sống trong Thiên Chúa. Như vậy, niềm tin là phương thế để con người tự cứu lấy chính mình: “Đức tin của con đã cứu chữa con”(x. Lc 7, 50).

 

2. Sống theo Thần khí và Sự thật

Tự do trong đời sống đức tin có thể được nhìn dưới những cấp độ khác nhau: Tự do theo lề luật và tự do theo Thần khí và sự thật. Tự do theo Thần khí giúp cho con người đến với Thiên Chúa với sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, và người ta nhận ra điều này bằng một tình yêu mời gọi để đến với Thiên Chúa và nên một với Ngài. Sự kết hợp trong Thiên Chúa làm cho chúng ta cũng được tự do như ý Ngài muốn. Nghĩa là làm chủ giá trị sống của mình nhờ quyền năng, ý muốn và sức mạnh Thiên Chúa thông ban.

Thần khí mà Đức Kitô ban cho chúng ta sẽ dẫn đưa mọi người đến sự thật toàn vẹn. Và khi chúng ta sống theo Thần Khí của Thiên Chúa thì chúng ta cũng được dẫn vào trong tinh thần của tự do mà Thiên Chúa đang thực hiện. Ở đó con người cảm nhận được sự thật của Thiên Chúa hằng sống, điều mà mắt chưa hề thấy, tai chưa từng được nghe, lòng người chưa hề nghĩ tới, đó là điều Thiên Chúa dọn sẵn cho những ai yêu mến Người (x. 1Cr 2, 9).

Đời sống đức tin của người kitô hữu là sống theo Thần khí và sự thật, vì họ đã được tái sinh trong Đức Kitô để chiến thắng sự chết và tội lỗi của mình. Tội lỗi và xác thịt không có quyền làm chủ trên con người nữa (x Gl 5,16, nhưng chính là sức mạnh của Thần khí và sự thật. Một sự thật vượt lên tất cả mọi qui ước mà con người thường tính toán, cân, đo, đong, đếm, hay sự công bằng theo lề luật mà con người thường áp dụng cho nhau. Sự thật ấy chính là sức mạnh của ân sủng từ thập giá giúp cho con người biết đón nhận, bác ái, yêu thương, tha thứ, cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi, và mang lại mọi điều tốt đẹp đến cho người khác. Đó là điều mà con người tự nhiên không thể tự mình tạo ra, hay có thể làm được, nếu không có sự tác động của Thần khí Thiên Chúa trong Đức Kitô.

Thần khí và sự thật trong Đức Kitô đã giải thoát chúng ta khỏi những ràng buộc của mọi đam mê, tật xấu và tội lỗi. Từ đó Thần khí dẫn con người đến cuộc sống tự do và sự thật toàn vẹn. Đây là cuộc sống vượt lên tất cả mọi giá trị sống do xác thịt mang lại. Vì tính xác thịt sẽ không có khả năng giúp cho con người đạt đến tự do và vượt qua được những
ước muốn sai trái. Chỉ có chân lý và sự sống trong Đức Kitô mới có đủ sức mạnh giải thoát con người khỏi mọi ràng buộc của tội để đạt đến tự do đích thực (x. Ga 8, 32). Còn tinh thần của thế gian chỉ đưa con người đến chỗ nô lệ và cái chết.

Chúng ta được mời gọi sống tự do của Thần khí chứ không phải tự do theo xác thịt, vì Đức Kitô đã chiến thắng tội lỗi và sự chết nơi thân xác của Ngài. Nơi con người, mầm mống, dấu vết, khuynh hướng tội lỗi vẫn còn đó. Vì tính xác thịt luôn luôn chống lại và ước muốn những điều trái ngược với Thần khí, còn Thần khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt (x. Gl 5, 16-17).

Sống theo Thần khí là sống theo tinh thần Tin Mừng và giáo huấn của Đức Kitô, những gì Ngài đã thực hiện cho chúng ta. Thần khí và sự thật sẽ dẫn đưa chúng ta đến sự hiểu biết trọn vẹn trong đời sống mới. Trong đời sống này, con người cảm nếm được bình an, niềm vui, sức mạnh, và biện phân được điều hay lẽ phải. Một khi chúng ta cảm nhận được như vậy, chúng ta mới dám đánh đổi, loại bỏ, và dấn thân cho cuộc sống đích thực của mình. Vì chúng ta mang trong mình tinh thần nghĩa tử, được liên kết và nên một với Đức Kitô.

 

3. Tự do trong đức ái

Đức ái hành động nhờ đức tin. Chúng ta có thi hành đức bác ái thì mới cảm nhận được tự do đến từ Thiên Chúa. Đó là một cuộc sống biết quên mình và chia sẻ cho mọi người được. Như vậy, đức ái sẽ giúp cho chúng ta biết từ bỏ và ra khỏi tính ích kỷ, ràng buộc của bản ngã, từ đó chúng ta mới có thể chia sẻ và liên đới với mọi người trong nhiệm thể Chúa Kitô: “Mọi người đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” (Pl 2, 2-4).

Đức ái thì không phân biệt, không tính toán. Nếu có sự phân biệt trong đức ái thì sẽ làm cho cuộc sống trở nên giới hạn, đánh mất ý nghĩa và giá trị sống. Vì vậy, một cuộc sống biết dấn thân, biết cho đi thì con người càng thoát ra khỏi mình, để được thảnh thơi và tự do trong mọi sự. Cuộc sống tự do ở đây không những chỉ là một tình trạng của tâm hồn trong tương quan với Thiên Chúa, mà còn thể hiện một tinh thần siêu thoát vượt lên bên trên những giới hạn, hiểu biết, thử thách của con người.

Chúng ta được mời gọi để hưởng tự do trong Đức Kitô, và đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau (x. Gl 5,13).

Tự do của chúng ta không chỉ mang tính cá nhân, mà còn mang chiều kích hiệp thông, chia sẻ, đồng cảm và trách nhiệm trong mầu nhiệm cứu độ. Và cuộc sống chúng ta không phải chỉ sống cho riêng mình mà còn hướng tới cuộc sống tròn đầy và viên mãn trong tình liên đới. Vì tất cả đều do ân sủng và tình yêu Thiên Chúa ban. Bởi thế, cuộc sống của con người phải là một cuộc sống trao ban và đón nhận. Để làm được như vậy thì người ta cần phải có đức tin như là yếu tố nền tảng. Nhờ đức tin, chúng ta hướng về Đức Kitô qua hành động đức ái. Từ đó,chúng ta được chia sẻ trọn vẹn trong thân thể của Đức Kitô và Hội Thánh. Đó là lý do khiến chúng ta không thể an vui, bình an hay dững dưng trước sự đau khổ của người anh em: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được”(1 Ga 3,17).

Hoạt động của đức ái là phương thế để ta tập sống tự do của mình, đồng thời trở về với căn tính cội nguồn mà Thiên Chúa đặt để nơi con người thuở ban đầu, nghĩa là sống mối tương quan trọn vẹn với Thiên Chúa và con người. Tương quan đó không phân biệt, không so sánh; trái lại mọi người như được nên một và hướng về nhau. Và như các tín hữu thời sơ khai, đã sống cùng một niềm tin, cùng một ý hướng, và mọi sự đều là của chung. Cuộc sống thanh thoát và tự do với những gì mình có làm cho tự do trong tâm hồn được lớn lên. Nói cách khác, ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa được lớn lên trong mọi chiều kích tương quan của cuộc sống.
Qua đời sống đức ái, chúng ta mới cảm nhận được tự do của một tình yêu trao ban, sự sống liên đới trong nhiệm thể Chúa Kitô, và những giá trị sống đến từ Thiên Chúa mà ta có thể trao cho nhau; một giá trị vượt lên tất cả mọi hiểu biết của con người. Điều đó làm cho tâm hồn được tràn đầy sức sống và niềm vui trong đời sống đức tin.

Mặt khác, đức ái sẽ giúp cho tâm hồn được tự do, nhạy cảm trước những nhu cầu khó khăn của người khác để hướng đến và chia sẻ. Thật vậy, tâm hồn càng được tự do thì càng quảng đại để cho đi những gì mình có mà không hề phân biệt màu da, giai cấp, ngôn ngữ và tôn giáo. Trái lại, một tâm hồn không có tự do thì đầy những ngổn ngang, tăm tối và không thể cảm nhận mối tương giao với Thiên Chúa và tha nhân. Như vậy, tự do không những là đặc ân của mỗi người trong việc chọn lựa mang tính cá nhân, mà còn theo qui luật của toàn thể: liên đới, trao ban và đón nhận.

 

4. Đau khổ và cái chết trong Đức Kitô mang lại tự do

Mầu nhiệm đau khổ không hẳn là một điều gì tiêu cực, hay một sự thất bại dưới con mắt người đời; nhưng đó là một trong những phương thế mang lại giá trị cứu độ, mang lại tự do cho những ai tin và đón nhận. Mầu nhiệm thập giá của Đức Kitô chỉ có thể mang lại cho con người tự do khi họ dám tin và đón nhận mầu nhiệm đó vào trong cuộc đời, qua đó con người cảm nhận được tình thương, ân sủng của Thiên Chúa. Nhờ vậy mà con người mới có cơ hội thanh luyện tâm hồn để nhận ra con người thật của mình: con người tự do trong đức tin. Những đau khổ của con người có được ý nghĩa và giá trị cứu độ khi nó được liên kết và thánh hoá trong mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô.

Đau khổ và Cái chết trong mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô là cái giá mà Con Thiên Chúa đã đón nhận để cứu độ loài người. Con đường đó, Đức Giêsu đã chấp nhận. Trước mắt người đời, nó là một sự thất bại; nhưng trước mặt Thiên Chúa lại là một sự ngôn ngoan. Đối với người Do Thái, cái chết của Đức Kitô là một sự khôn ngoan; còn đối với người Hy Lạp là một sự điên rồ. Đó là một thực tại bí ẩn đối với những kẻ khôn ngoan theo kiểu thế gian, vì con đường mà Đức Kitô mang lại tự do cho chúng ta không phải là con đường của lý trí, của sự khôn ngoan loài người, hay đó là sức mạnh của khí giới, chính trị; mà là con đường của sự vâng phục, cái chết và sự phục sinh của Đức Ki-tô. Con đường đó mới có thể giúp cho chúng ta phá huỷ được con người cũ trong thân phận tội lỗi để đạt đến sự tự do đích thực của con cái Chúa.

Mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô phải là trung tâm điểm của đời sống chúng ta, vì mọi hy sinh, đau khổ của chúng ta có được ý nghĩa và giá trị khi nó được thanh tẩy và liên kết với mầu nhiệm đó. Và mọi hoạt động của đời sống con người chỉ có ý nghĩa và giá trị khi được thanh tẩy và liên kết với Đức Kitô tử nạn và phục sinh.

Do đó, muốn được tự do chúng ta cần phải liên đới với Đức Kitô qua việc từ bỏ và hy sinh trong cuộc sống hằng ngày. Vì cuộc sống luôn cần đến những thử thách để thanh luyện niềm tin của mình. Và một khi con người được thanh luyện qua gian nan thử thách thì tâm hồn mới đạt được đến tự do trong đức tin và chân lý: “Vì được chia sẻ những đau khổ của Đức Kitô bao nhiêu anh em hãy vui mừng bấy nhiêu…” (x. 1Pr 4,13), bởi vì đó là những phương thế giúp ta ra khỏi chính mình, ra khỏi lớp vỏ của sự an toàn giả tạo của cuộc sống để đi vào trong chiều kích cứu độ của mầu nhiệm tự huỷ. Mầu nhiệm đó Đức Ki-tô đã phơi bày tất cả nơi thập giá. Tự do trong Đức Ki-tô là một thái độ sống, luôn biết đối diện và đón nhận những thực tại sống của mình trong tình yêu và mầu nhiệm cứu độ.

 

5. Con đường hẹp mang lại tự do

Cuộc sống đã mở ra cho chúng ta biết bao con đường, nhưng mỗi con đường đều hướng tới một đích điểm riêng, và mỗi người đều chọn cho mình một con đường và chịu trách nhiệm trước chọn lựa của mình. Riêng đối với người kitô hữu không có con đường nào khác ngoài con đường thập giá của Đức Kitô. Vì đó là con đường của tình yêu, con đường tự huỷ để ra khỏi mình và chết đi cho con người tội lỗi, điều mà thế gian cho là điên dại. Qua con đường hẹp chúng ta mới cảm nhận ra được giá trị cứu độ của Tin Mừng.

Con đường hẹp là con đường của Tin Mừng. Nó không phải là con đường mang tính tiêu cực, nhưng trong đó ta tìm được bình an, tự do, niềm vui, ý nghĩa và giá trị sống. Dù vậy, chúng ta không dễ dàng gì khám phá, chọn lựa để dấn thân.

Mỗi người cần khám phá ra con đường của mình mà Chúa mời gọi bước theo và chỉ trong con đường đó chúng ta mới nhận ra căn tính, cũng như con người thật của mình. Trên con đường này, chúng ta bước đi trong sự thanh thản và bình an, chắc chắn dẫn chúng ta đến sự sống. Còn con đường được coi là thênh thang, lắm ngã, lắm nẻo, kết cục lại dẫn đưa chúng ta đến sự chết.

Do đó, chúng ta cần phải biện phân để nhận ra con đường nào mà mình cần phải chọn và đi theo, vì có nhiều con đường luôn được mở ra trước mặt mình một cách hấp dẫn, khiến cho tâm hồn luôn bị phân tán, mất định hướng, đến nỗi nhiều lúc con người cũng không đủ ý chí nghị lực và sức mạnh tinh thần khi đứng trước những khuynh hướng xấu. Tại sao? Tại vì thân phận yếu đuối mỏng dòn, con người không thể xoá hết được dấu vết tội lỗi nơi bản thân. Những dấu vết đó không ngừng được khơi dậy nơi tâm hồn, trong tư tưởng và làm cho con người khó vượt qua. Để được tự do con người không ngừng đi vào con đường hẹp, xa lánh mọi cám dỗ và cạm bẫy; đồng thời tâm hồn luôn cần được nuôi dưỡng trong đời sống cầu nguyện, thiêng liêng để được tái sinh trong ân sủng, đặc biệt qua bí tích thánh thể và hoà giải.

Con đường hẹp không phải là con đường làm cho chúng ta mất tự do; trái lại đó là con đường dẫn đến với tự do của con cái Chúa. Vì con đường hẹp mới có thể giúp chúng ta khám phá ra giá trị sống của Tin Mừng-Nước Trời. Và một khi chúng ta cảm nhận được như vậy thì mới có thể đánh đổi được những giá trị trần thế để đi vào con đường của Tin Mừng. Nơi đó chúng ta sẽ tìm được nguồn mạch của sự sống, và một chân trời mới đầy tự do, ngơi nghỉ và bình an trong trong đồng cỏ chân lý.

 

KẾT LUẬN

Tự do là ân huệ của Thiên Chúa, vì từ nơi Ngài phát sinh muôn loài muôn vật, do ý Ngài muốn và cho chúng được hiện hữu. Tất cả đều như được an bài trong trật tự, và khôn ngoan của Thiên Chúa. Thần khí và sự thật trong Đức Kitô sẽ dẫn chúng ta đến một cuộc sống tự do đích thực.

Tự do và cuộc sống là hai yếu tố không thể tách rời khỏi con người, vì con người không thể sống đúng phẩm giá của mình được nếu không có tự do; nhưng nhiều lúc con người lại không biết sử dụng đúng tự do của mình. Vì vậy con người luôn cần đến ân sủng và niềm tin mới vượt qua được những trở ngại của tội, cũng như những giới hạn của thân phận con người.

Một khi chúng ta sống trong sự tương giao trọn vẹn với và trong Đức Kitô thì chúng ta mới có tự do đích thực. Vì Ngài là nguồn mạch, sức mạnh, căn nguyên của sự sống. Chính Ngài là khởi nguyên là cùng đích của mọi loài. Vì vậy, mỗi người cần định hướng cho mình một lối sống, đó là sống theo Thần khí và Sự thật. Thần khí và sự thật sẽ giúp cho chúng ta sống trọn vẹn chiều kích tương quan với Thiên Chúa và với mọi người.

Tự do trong Đức Kitô luôn mang lại cho chúng ta một giá trị sống mới trong Ngài. Cuộc sống đó sẽ đem lại cho chúng ta một ý nghĩa, giá trị và sự tự do sống đích thực trong Thần khí của Đấng phục sinh.

 

 

 

 

 

Tình Yêu Đức Kitô

Thôi Thúc Chúng Tôi

 

 Mai Duy Thiên

Dẫn nhập:

Vào đầu những thập niên của thế kỷ XX, ông Stephen Covey đã từng nói: “Càng ý thức được mình là ai và mình sẽ trở thành người như thế nào thì thành công chúng ta đạt được càng lớn và những điều chúng ta cống hiến được càng nhiều”[1]. Hơn ai hết, Thánh Phaolô đã cảm nhận chân lý này một cách sâu sắc khi ngài thốt lên: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi” (2Cr 5,14).

Bởi đâu Thánh Phaolô nói và làm được như thế? Chắc chắn có rất nhiều lý do, nhưng trong phạm vi của bài viết, xin mạo muội chia sẻ qua ba lý do sau:

 

1. Ý thức về ơn gọi

Theo tác giả sách Công vụ Tông đồ, Thánh Phaolô: “Là một người Pharisêu, thuộc dòng dõi Pharisêu” (x. Cv 23,6). Một người rất trung thành với luật Do thái (x. Gl 1,13-14), nhiệt thành tuân giữ truyền thống của cha ông truyền lại. Vì thế, ông đã tìm đủ cách để tra tay bách hại, tống ngục các Kitô hữu và phá hoại Hội Thánh (x. Cv 8,3). Một con người như vậy làm sao có thể trở nên vị Tông đồ nhiệt thành cho Đức Giêsu Kitô được?

Saolô cũng được gọi là Phaolô (x. Cv 13,9), có một sự biến đổi hoàn toàn sau biến cố ngã ngựa trên đường Damas (x. Cv 9,1-25). Từ một con người rất hăng say với đạo Do-thái, sẵn sàng tiêu diệt bất cứ ai nói và rao truyền về một Đức Kitô Giêsu tử nạn và phục sinh, lại trở thành một con người chỉ biết say mê sống và phục vụ duy nhất cho tình yêu của Đấng mà ông đã tìm cách bách hại. Do đâu? Phải chăng đó là một sự tuyển chọn cách đặc biệt trong ý định nhân từ và nhiệm mầu của Thiên Chúa Cha đã dành sẵn cho con người nhiệt thành này?

Vâng đó là điều chắc chắc được Thánh Phaolô bày tỏ qua tâm thư của ngài gửi cho giáo đoàn Galata:“Thật vậy, thưa anh em, tôi xin nói cho anh em biết: Tin Mừng tôi loan báo không phải là do loài người. Vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giêsu Kitô đã mặc khải. Anh em hẳn đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do thái: tôi đã quá hăng say bắt bớ, và những muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên Chúa. Trong việc giữ đạo Do thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi: hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông. Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên” (Gl 1,11-16).

Quả thật, ngài luôn ý thức được rằng ơn gọi của mình đến từ Thiên Chúa. Vì Thánh nhân luôn cảm nhận trong mình một sự thôi thúc mãnh liệt của tình yêu Chúa Kitô trên con đường phục vụ Tin Mừng. Do đó, ngài luôn mời gọi các Tín hữu Côrintô rằng: “Anh em hãy bắt chước tôi, như chính tôi đã bắt chước Đức Kitô” (1Cr 11,1).

 

2.Rao Giảng Một Đấng Kitô Chịu Đóng Đinh.

Thánh Phaolô luôn rao truyền cho mọi người một chân lý đích thực vượt trên mọi chân lý. Đó là tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Ngài không trình bày cho chúng ta một Đức Giêsu nào khác ngoài hình ảnh Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh (x.1Cr 1,22-24). Vì điều này mà Thánh Phaolô luôn khẳng định với những tín hữu vùng Galata cũng như ở Corintô rằng: “Không có một Tin Mừng nào khác cho anh em ngoài Tin Mừng mà tôi đã loan báo, đó là Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô, một Đức Kitô chịu đóng đinh” (x. Gl 1,6-10; 2 Cr 11). Đâu là nguyên nhân chính để Thánh Phaolô có thể thực thi sứ vụ này? 

Thưa, chính là một tình yêu và lòng nhiệt thành phục vụ cho Thiên Chúa. Với lòng nhiệt thành và tình yêu ấy, Thiên Chúa đã dẫn đưa ngài tới ánh sáng chân lý đích thực hơn khi tỏ mình cho ngài qua biến cố Damas. Từ đây Thánh Phaolô đã nhận ra được hình ảnh của một Thiên Chúa đầy yêu thương và giàu lòng nhân hậu, khoan thứ, sẵn sàng chia sẻ mọi nỗi thống khổ của thân phận con người chúng ta, đến độ chấp nhận hy sinh và hiến mạng vì chúng ta (x. Ep 5,2). Đó cũng chính là động lực thôi thúc ngài phải ra sức phục vụ cho Đấng đã sống và hiến mạng vì mình (x. Gl 2,20; 2 Cr 5,11-15; Rm 12,1).

 

3.Truyền Giáo Cho Muôn Dân. 

Với sứ vụ Thiên Chúa đã uỷ thác, Thánh Phaolô đã không quản ngại những gian lao khốn khó, hiểm nguy ngay cả đến mạng sống (x. Cv 20,24) suốt trên hành trình truyền giáo của ngài khởi đi từ Damas, là nơi ngài đã từng tìm cách bắt bớ đạo thánh Chúa (x. Cv 9,1-25). Kế đến, ngài đã cùng với Banaba lên Giêrusalem gặp gỡ các Tông Đồ và cộng tác với ông trong sứ vụ loan báo Tin Mừng. Nhưng ở đây, Thánh Phaolô lại tiếp tục bị người ta uy hiếp về tính mạng khiến cho các anh em phải tìm cách đưa ngài đi nơi khác lánh nạn (x. Cv 9,26-30).

Đó là mối nguy hiểm đầu tiên và là cơ hội mà Thiên Chúa đã hoạch định để Thánh Phaolô đem chân lý tình yêu cứu độ của Thiên Chúa đến cho muôn dân. Điều này được thể hiện rõ nét hơn khi Thánh Phaolô rao giảng cho những người Do Thái, nhưng đã bị họ chối từ để rồi ngài buộc lòng phải quay lưng về phía họ mà rao giảng cho dân ngoại khi nói: “Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại. Vì Chúa truyền cho chúng tôi thế này: Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất. Nghe thế, dân ngoại vui mừng tôn vinh lời Chúa, và tất cả những người đã được Thiên Chúa định cho hưởng sự sống đời đời, đều tin theo. Lời Chúa lan tràn khắp miền ấy” (Cv 13,46-48).

Nhưng tại Athena, Thánh Phaolô nhận lấy một sự thất bại cay đắng cho chính mình khi nói về kẻ chết sẽ sống lại (x. Cv 17,16-34). Biến cố này đã đưa ngài đến một hành trình cuối cùng trong sứ vụ truyền giáo là vùng đất Roma. Chính nơi vùng đất này ngài đã thể hiện sự hy sinh đến cùng cho tình yêu Thiên Chúa và tha nhân theo gương của Thầy Chí Thánh Giêsu vào khoảng năm 67.

 

Kết luận:

Khi Thiên Chúa gọi ai là Ngài trao cho người đó một sứ mệnh, như trường hợp của Ápraham, Môsê hay các Ngôn sứ. Bởi vậy, khởi đi từ ý thức mình được Thiên Chúa gọi làm Tông đồ một cách nhưng không, Thánh Phaolô đã dành cả cuộc đời để giảng rao về một Đức Giêsu Kitô, Đấng chịu đóng đinh cho mọi người, cách riêng là cho dân ngoại.

Thiết tưởng, mỗi người chúng ta hôm nay cũng phải không ngừng ý thức ơn gọi cao quý và nhưng không mà Chúa Cha ban tặng (x. Ga 15,16); để đem cả sức mình cộng tác với ơn sủng Chúa ban mà sống trọn ơn gọi; hầu muôn người sẽ nhận ra Đức Giêsu Kitô, Đấng chịu đóng đinh vì yêu thương hết thảy nhân loại và muốn cho mọi người nhận biết chân lý và được cứu độ (x. 1 Tm 2,4-6). 

Tuy vậy, hành trình sống ơn gọi không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Như Thánh Phaolô xưa (x. Cv 20,23), chúng ta cũng sẽ phải đối mặt với những thử thách trăm bề, nhưng hãy luôn xác tín: “Ơn của Thầy đã đủ cho con” (x. 2 Cr 12,9).

 


 

 [1] x. Hạt Giống Tâm Hồn, Theo dòng thời gian, số 10, tr. 165. 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

BÀI VIẾT MỚI

spot_imgspot_img

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Hạt Giống Chiêm Niệm số 32: Cầu Nguyện Đan Tu

CẦU NGUYỆN ĐAN TU Số 32 – Tháng Giêng năm 2024 ĐÔI LỜI ... Kính thưa quý độc giả, Như chúng ta đã biết, cầu nguyện là hành...

Hạt Giống Chiêm Niệm số 31: Hướng Vọng Trời Cao

 Số 31 – Tháng 7 năm 2023 Lời ngỏ Kính thưa quý độc giả, Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày qua đời của cha Biển Đức...

Hạt Giống Chiêm Niệm số 29: Tứ Hải Giai Huynh Đệ

Số 29 – tháng 07 năm 2022 Cùng Độc giả, Các sinh hoạt của Ban Biên Tập Nội San Hạt Giống Chiêm Niệm (HGCN) của Hội...

Hạt Giống Chiêm Niệm số 30: Một Đi Chung Cùng Nhau

LỜI NGỎ   Kính thưa Quí Độc Giả! Nội san Hạt Giống Chiêm Niệm số 30 phát hành vào tháng Giêng năm 2023 này mang chủ đích...

Giới Thiêu nội san “HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM” (Viện phụ Dominico Phạm Văn Hiền)

  NỘI SAN   HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM     LỜI GIỚI THIỆU      ...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 1: NGUỒN SUỐI CHIÊM NIỆM

    HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM       Nội...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 2: HƯƠNG VỊ LỜI CHÚA

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 3: THAO THỨC

  HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 4: Những Nẻo Đường Sống Đạo

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM     Nội san linh đạo đan tu   NHỮNG NẺO ĐƯỜNG SỐNG ĐẠO   Số 4 tháng 7 năm 2007 LỜI NÓI ĐẦU     Một người nọ hỏi...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số đặc biệt: Cội nguồn hy vọng

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 7: Thử Thách

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 8: Trong Lòng Giáo Hội

  HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...