Thứ Hai, 17 Tháng Sáu, 2024

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 1: NGUỒN SUỐI CHIÊM NIỆM

    HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM    

 

Nội san linh đạo đan tu 

 

NGUỒN SUỐI CHIÊM NIỆM

 

 Số 1 tháng 1 năm 2006

               

 LỜI NGỎ

 

     Nội san “HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM” số thứ nhất với chủ đề “NGUỒN SUỐI CHIÊM NIỆM” ra mắt với các cộng đoàn thuộc Hội Dòng Xitô Thánh Gia Việt-Nam nhân ngày lễ ba Thánh Phụ Roberto, Alberico và Stephano Hardingo.
     Nói tới nguồn suối là đề cập đến nơi phát xuất : nguồn, nơi lưu chuyển và chất chứa: suối. Nguồn của chiêm niệm phát xuất từ Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng gieo một cách kín đáo những “Hạt giống chiêm niệm”, những mầm sống thiêng liêng trong trí khôn và ý chí con người. Vì thế, mỗi biến cố đều là một mầm cây được trồng vào linh hồn. Một hạt giống đã được gieo vào mảnh đất của một tâm hồn có tên là Phaolo. Qua bài viết “Tâm điểm kinh nghiệm ơn gọi của thánh Phaolo”, tác giả muốn khởi từ kinh nghiệm về ơn trở lại của thánh Tông Đồ để mời gọi chúng ta sống chính kinh nghiệm về Chúa Kitô trong đời kitô hữu và một cách cụ thể trong đời đan tu. Điều đó xác minh rằng mọi người đều có thể khám phá tình yêu thương của Chúa trong cuộc đời. Như thế “chiêm niệm được trao tặng cho mọi người”, và đó là điều được trình bày “theo thánh Bernard, viện phụ Gilbert de Hoyland và viện phụ Jean de Ford”.
     Xác tín rằng chiêm niệm dành cho mọi người, cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận đã thiết lập đan viện Xitô đầu tiên trên quê hương Việt-Nam. “Cha Biển Đức Thuận và đời đan tu chiêm niệm” được nhìn dưới hai góc độ lịch sử và linh đạo để giúp chúng ta là những môn sinh của ngài thêm trung thành vào linh hứng của Đấng Sáng Lập và phát triển một cách sáng tạo gia bảo quí báu đã được trao ban.
     Nếu chiêm niệm dành cho mọi người, thì kinh nghiệm đó không phải là một cái gì ngoài tầm với nhân loại. “Thiên Chúa ở cùng…” là một cảm nghiệm đã được sống trong suốt lịch sử Dân Chúa và vô cùng quan trọng, vì là chìa khoá cho mọi thành công và hạnh phúc của đan sĩ. Để có thể khám phá ra chính Thiên Chúa ở cùng và ở trong mình, con người cần tìm đến nơi thanh vắng để sống kinh nghiệm đó. “Cõi thinh lặng của chiêm niệm” như một mời gọi cho cho con người hôm nay đang muốn phá huỷ sự thinh lặng bằng những tiếng ồn ào, đủ mọi âm thanh, hãy đi vào thanh vắng để tìm gặp Đấng là nguồn mạch tươi mát cho tâm hồn. Sự tĩnh lặng đó có thể được tìm thấy nơi cao của núi đồi : tác giả bài “Núi Tabor ngày nay” đang sống trong một đan viện toạ lạc trên sườn núi, mời gọi chúng ta làm sinh động lại linh đạo của nơi thu hút các tâm hồn tận hiến; vì đó như là nguồn tận hưởng cho bao tâm hồn đang chờ mong và khao khát. Nhưng núi cao không là nơi duy nhất để có một cảm nghiệm về sự chiêm ngưỡng Thiên Chúa, mà còn là bình nguyên, sông suối. “Dòng sông chiêm niệm” chuyển tải ý nghĩa thiêng liêng từ dòng sông bao quanh đan viện nơi tác giả đang ngày đêm kín múc nước tưới mát mảnh đất cũng như những dưỡng chất cho đời nội tâm; để theo dòng chảy của phù sa đổ dồn về biển cả, đan sĩ cũng được bơi lội trong dòng sông chiêm niệm để được đưa vào biển cả tình yêu của Thiên Chúa.
     Một khi đi vào cái bao la của tình yêu, hiệp nhất trong mối tình hôn ước với Đấng Tình Quân, linh hồn được mời gọi sống phẩm chất phong nhiêu của “Nữ tính trong đời đan tu”. Đó là một cuộc đời nhận lãnh và trao ban, để qua hai chuyển động đó, như Đức Maria, sinh ra các linh hồn cho Thiên Chúa. Như vậy, kinh nghiệm chiêm niệm không còn là điều xa lạ và tách biệt khỏi hoạt động của con người. Qua bài viết “Thần học và cầu nguyện”, tác giả là một mục sư, xuyên qua việc chú giải câu nói của đan sĩ Evagre “Nếu bạn là thần học gia, bạn phải thật sự cầu nguyện; và nếu bạn cầu nguyện thật sự, bạn là thần học gia”, muốn chuyển đến sứ điệp là hai chị em – thần học và cầu nguyện –đều được Đức Vua chiêm ngắm cả hai cùng một lúc.
     Với thiện chí và cố gắng, các tác giả tung gieo một vài hạt giống khiêm tốn, nhỏ bé và ước ao rằng những hạt giống âm thầm đó sẽ được gặp mảnh đất tốt, được chăm sóc và vun tưới để chính Thiên Chúa cho kết thành một cách đồng vàng ối, tràn đầy những bông lúa nặng chĩu để ca ngợi Thiên Chúa.

Đan viện Thánh Mẫu Phước Sơn.
Lễ Chúa Hiển Linh, 09/01/2006
Ban Biên tập

 

 

 

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM

 

Nguyên tác : Seeds of contemplation

Tác giả : Thomas MERTON

Chuyển ngữ : Thanh Bằng – NXB XÂY DỰNG, Sài Gòn, 1966

 

     Thomas MERTON sinh ngày 31 tháng 1 năm 1915 tại Pradès, miền núi Pyrénée (Pháp). Khi lên 16 tuổi Thomas mồ côi cả cha lẫn mẹ và được ông nội tại Mỹ quốc nuôi cho ăn học. Năm 1931 Thomas theo học tại Cambridge và sau đó qua Ý… năm 1934, Thomas rời bỏ Âu Châu để không bao giờ trở lại nữa, lúc này Thomas đã trở thành một chiến sĩ cộng sản, nhưng chỉ sau ba tháng hoạt động đã xin rút tên khỏi đảng và tiếp tục việc học tại đại học Columbia (1935) cho đến khi đậu cử nhân văn chương. Một ngày kia, một người bạn giới thiệu cho Thomas cuốn Gương Chúa Giêsu (De Imitatino Christi) và cuốn tự thú (Confessiones) của thánh Augustino. Thomas bắt đầu muốn sống cho Thiên Chúa và có tư tưởng muốn là linh mục. Thế là năm 25 tuổi, Thomas chịu phép thánh tẩy tại thánh đường Corpus Christi ở Broadway. Nhưng vì thiếu người hướng dẫn, Thomas đã phải trải qua một thời khủng hoảng tâm hồn, trở nên chán nản và do dự… Thoạt tiên Thomas xin vào dòng thánh Phanxicô khó khăn tại New York, nhưng sau cùng đã quyết định vào dòng Trappe Kentucky…

    Cha Thomas Merton đã viết nhiều sách thiêng liêng có giá trị, trong đó có những cuốn The Ascent to Truth (1945), The Seven Storey Moutain (1948), The Water of Siloe (1949), Seeds of contemplation (1949), No Man is an Island (1955)…

    Mỗi giây phút, mỗi biến cố trong đời sống con người là một mầm cây được trồng vào linh hồn. Gió trời mang theo muôn ngàn hạt giống có cánh mắt trần có thể xem thấy hay không xem thấy được. Dòng thời gian cũng mang theo những mầm sống thiêng liêng vào trong trí khôn và ý chí con người một cách kín đáo. Đa số những hạt giống đó bị huỷ diệt và thất lạc vì con người không sẵn sàng để tiếp nhận : thực ra chúng chỉ có thể mọc lên được trên mảnh đất tốt tươi của tự do và ước vọng.

    Trí khôn nếu bị giam hãm trong khoái lạc, và ý chí nếu không giũ bỏ được ước vọng riêng tư, thì chúng không thể tiếp nhận được hạt giống của một niềm ước vọng siêu nhiên và một niềm khoái lạc cao khiết hơn..

    Quả vậy, làm sao có thể tiếp nhận được những hạt giống tự do, nếu tôi cứ triền miên trong nô lệ, và làm sao có thể trìu mến được những ước vọng của Thiên Chúa, nếu người tôi cứ đầy ứ những ước vọng vừa khác biệt vừa trái ngược nhau ? Thiên Chúa không  thể vun trồng tự do của người trong tôi bởi vì tôi là một tù nhân không thèm mong muốn được tự do. Tôi thích bị giam hãm, và tôi tự nhốt mình trong tù ngục khi tôi ước vọng những sự vật mà thực ra tôi chán ghét, và tôi đã làm cho trái tim trở nên chai đá khiến cho tình yêu đích thực không thể thấu nhập vào được.

    Giả như tôi tìm kiến Thiên Chúa, thì mỗi biến cố, mỗi giây phút đều có thể gieo vào ý muốn tôi những hạt sự sống của Người, và một ngày kia chúng sẽ mọc lên thành một mùa màng diệu kỳ.

     Chính tình yêu của Thiên Chúa sưởi ấm tôi  dưới ánh mặt trời  và chính tình yêu của Người làm rơi xuống những giọt mưa lạnh. Chính tình yêu của Thiên Chúa mang đến những ngày mùa đông khi tôi cảm thấy giá lạnh và ốm yếu, mang đến những ngày hè nóng bức khi tôi lam lũ và quần áo ướt đầm mồ hôi : nhưng cũng chính Thiên Chúa thở hơi vào tôi qua luồng gió nhẹ từ dòng sông và làn gió mát của rừng xanh. Tình yêu của người như cây phong toả bóng rợp trên đầu tôi và sai em bé đi dọc theo bờ ruộng lúa mì mang đến cho tôi bình nước suối, trong khi những bác nhà nông đang nằm nghỉ và những con la đứng dưới bóng cây.

    Chính tình yêu của Thiên

    Chúa nói với tôi qua tiếng chim ca hót và dòng suối róc rách ; nhưng người cũng nói với tôi về những phán quyết của người qua những tiếng ồn ào nơi đô thị, và tất cả đều là những hạt giống do thánh ý Người gởi đến cho tôi.

    Nếu những hạt giống đó bén rễ trên mảnh đất tự do của lòng tôi, và nếu thánh ý Người mọc lên từ bản tính độc lập của tôi, thì sẽ trở nên tình yêu như chính tình yêu của Người, và tôi sẽ gặt hái được sự vinh quang của người và niềm vui của chính tôi. Như thế, tôi sẽ cùng mọc lên với hàng ngàn, hàng triệu những tâm hồn tự do khác và kết thành một cánh đồng vàng ối, tràn đầy những lúa mì nặng trĩu để ca ngợi Thiên Chúa.

    Nếu trong mọi sự, tôi chỉ quan tâm đến sức nóng hay khí lạnh, thức ăn hay đói khát, bệnh tật hay vất vả, vẻ đẹp hay khoái lạc, thành công hay thất bại, sự thiện hay sự ác vật chất, thì công việc tôi làm chỉ thoả mãn ý riêng tôi, và tôi sẽ chỉ tìm thấy sự trống rỗng chứ không phải hạnh phúc. Tôi sẽ không được no nê và tôi sẽ không được dư đầy, vì thức ăn của tôi phải là thánh ý của Đấng đã tạo thành  nên tôi và dựng nên mọi vật để từ đó người tự ban chính mình cho tôi.

    Mối bận tâm chính yếu của tôi không thể tìm kiếm khoái lạc, thành công, sức khoẻ, sự sống, tiền tài, nghỉ ngơi hay cả những cái là nhân đức, sự khôn ngoan, và càng không thể là những trái ngược lại như là đau khổ, thất bại, bệnh tật, sự chết. Nhưng trong mọi biến cố, niềm ước vọng và hoan lạc độc nhất của tôi phải là hiểu biết :

    « Đây là điều Thiên Chúa muốn nơi tôi : sự sống vĩnh cửu. Ở đây tôi tìm thấy tình yêu của người, và nếu tiếp nhận nó, tôi sẽ đáp lại tình yêu Người đối với tôi để nhờ đó tôi có thể hiến thân cho người và tiến tới sự chiêm niệm trong thánh ý Người. »

    Nếu tiếp nhận thánh ý Người một cách vui vẻ cũng như thực hiện thánh ý đó với một tâm hồn hoan lạc, tôi sẽ được tình yêu của Người trong trái tim, bởi vì khi đó ý muốn của tôi được đồng nhất với ý muốn của người vào trong tâm hồn : và được như thế, không phải là những sự vật, nhưng vì Thiên Chúa là Đấng hằng hữu và vì tình yêu của Người đã muốn cho tôi tìm thấy niềm hoan lạc ở nơi chúng.

 

 

 

 

 

 

 

 

TÂM ĐIỂM KINH NGHIỆM ƠN GỌI CỦA THÁNH PHAOLÔ

 

 Trương Cường-Đan Viện Châu Thủy

 

Dẫn nhập

Căn bản của tất cả mọi ơn gọi trong Giáo hội đều là sự lựa chọn hoàn toàn tự do và vô vị lợi của Thiên Chúa.”1

       Đó là câu kết luận đầy đủ ý nghĩa nhất về ơn gọi phục vụ Tin Mừng. Hay nói khác, ơn gọi theo Chúa Giêsu là sáng kiến hoàn toàn tự do của Thiên Chúa chứ không do khởi đi từ phía con người. Con người có quyền tự do chấp nhận hay từ chối trước hồng ân của Thiên Chúa. Do đó, khi nói Thiên Chúa là tác giả ơn gọi của một ai, hay của chính bản thân tôi, điều đó cũng đồng nghĩa với một niềm xác tín sâu xa Thiên Chúa làm nên cuộc đời con người. Điều này áp dụng rất đúng cho kinh nghiệm ơn gọi của thánh Phaolô về Chúa Giêsu.

      Chính Chúa Giêsu, không ai khác, là nhân vật quyết định lịch sử nhân loại2 và lịch sử của một Phaolô, con người đã từng bắt bớ các kitô hữu. Sự quyết định này đã đưa thánh Phaolô tới chỗ nhận ra Đấng mà bấy lâu ông không biết, hay ảo tưởng về một Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh chỉ là sự phi lý, vô nghĩa.

      Như vậy, ơn gọi của thánh Phaolô hoàn toàn xuất phát từ mặc khải của Thiên Chúa. Chính Người đã đụng đến ý nghĩa thâm sâu nhất và định hướng cho cuộc đời của ông. Từ nay thánh Phaolô có thể xác tín rằng chính Đức Giêsu đã kêu gọi và thay đổi cuộc hành trình của ông. Và cũng chính Đức Giêsu ấy là lý tưởng cho việc rao giảng Tin mừng của ông sau khi trở lại. Đấy cũng là hình ảnh ta thường gặp thấy nơi những con người bước theo Chúa Kitô nói chung, cách riêng  nơi người đan sĩ, mặc dầu có những kinh nghiệm về cách thức được Chúa gọi và cách đáp trả tiếng gọi mỗi người khác nhau.

 

1. Đức Kitô, tác giả ơn gọi của thánh Phaolô

      “Không phải anh em đã chọn Thầy nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,16). Đó là kinh nghiệm của những người được Thiên Chúa kêu gọi bước theo Chúa Kitô. Thánh Phaolô được Thiên Chúa kêu gọi và đi theo Ngài. Tóm tắt ơn gọi của thánh Phaolô, chúng ta sẽ gặp thấy trong Cv 9,1-19; 22,3-21; 26,9-18 hoặc trong bản tự thuật của chính vị tông đồ Cv 22, 1-21.

      Câu chuyện trở lại của thánh Phaolô kể ra cũng chẳng dài dòng, nhưng xuyên suốt logic của cốt truyện cho ta thấy kinh nghiệm trên đường Đa mát không chỉ là cuộc trở lại mà còn thấy được Thiên Chúa là tình yêu, Ngài là tác nhân kêu gọi và tuyển chọn.

      Có lẽ chúng ta rất ngạc nhiên trước ơn trở lại của thánh Phaolô cũng như một vài nhân vật được gọi trong lịch sử các tông đồ. Chúng ta nên ngạc nhiên hơn trước tình thương thật “khó hiểu” mà Thiên Chúa dành cho Phaolô, một người trong quá khứ đã từng “khủng bố” Kitô giáo, nhưng Thiên Chúa đã không tố cáo tội trạng hay mang nặng thành kiến về ông mà còn chọn ông làm tông đồ cho dân ngoại (Gl 1,17). Thiên Chúa đã không đặt ra một điều kiện nào trước khi gọi người Ngài muốn, nhưng chỉ có một nguyên tắt chung là người được gọi chấp nhận hay từ chối, đi theo hay rút lui, từ bỏ hay củng cố, thế thôi. Điều đó có nghĩa là thánh Phaolô khép lại  quá khứ để chọn hiện tại, khép lại “đời sống cũ” để sống “đời sống mới” để theo Chúa Kitô (sequel to Christ). Đi theo Chúa Kitô, thánh Phaolô không mong ước gì hơn, là sống chính sự sống của Chúa Kitô (Pl 1, 21; 2,4; 3,8; Gl 2, 20). Nói khác, theo Chúa Kitô là đụng chạm, biến đổi và thấm nhập con người ở nơi sâu xa nhất, trở nên giống Đức Kitô một cách nhiệm mầu3.

      Ơn gọi theo Chúa Kitô là một mầu nhiệm, có thể nói như vậy. Mầu nhiệm ở đây không chỉ là điều khó hiểu đối với lý trí nhiều người mà còn đối với chính người được gọi. Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao Thiên Chúa kêu gọi những người tội lỗi, hay cuồng tín, ít ra đối với thánh Phaolô ? Chúng ta cũng gặp thấy cách đặt vấn đề tương tự này trong thánh vịnh 8 : “con người là chi mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm?”  Vì thế, thánh Phaolô nhìn về ơn gọi của mình là do tình thương đời đời nhưng không của Thiên Chúa : “Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin mừng về Con của Người cho dân ngoại” (Gl 1, 15-17). Thánh Phaolô ý thức được “nhân vô thập toàn” nơi con người của ông, chẳng có công trạng gì để được Thiên Chúa thi ân giáng phúc, nhưng tất cả bắt đầu nhờ ân sủng (1Cr 15,10). Đó cũng là kinh nghiệm mà sau này thánh Âu tinh đã có được về sự trở lại làm thay đổi cách suy nghĩ và cách sống. Dưới ánh sáng của thánh Phaolô, Âu tinh hiểu rằng người trở lại không phải do những cố gắng cá nhân, mà do ơn nhưng không của Thiên Chúa4. Cái Nhưng không, chính là lòng đại lượng Thiên Chúa  đối với thánh Phaolô (1Tm 1, 16). Thiên Chúa đã “chiếm đoạt” ông (Pl  3,12), tách ông ra khỏi một thứ tôn giáo lấy Luật làm nguyên tắc để xây dựng một “chân lý mới” trong đó Đức Kitô là “kim chỉ nam” cho cuộc sống. Đó cũng là lý do thánh Phaolô dâng lời tri ân Thiên Chúa (1Cr 15, 8-9). Lời tri ân thật ý nghĩa và đầy đủ nhất chính là Phaolô trở nên một “Đức Kitô khác” (Another Christ) trong trần thế qua nếp sống, nếp suy nghĩ của ông. Và, từ đây không một nhân vật lịch sử nào, một tôn giáo nào, một lề luật nào có thể xoay chiều được cuộc đời của thánh Phaolô  cho bằng con người Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Con người ấy tự bao giờ đã trở nên lý tưởng của Phaolô để rồi ông dám họa lại trong đời sống chứng nhân Tin Mừng như một lời đáp trả tiếng gọi yêu thương ngàn đời của Thiên Chúa.

 

2.Đức Giêsu chịu đóng đinh, lý tưởng của thánh Phaolô

       Sau khi trở lại và khám phá ra dung mạo thật của Đức Kitô, thánh Phaolô bắt đầu cuộc hành trình mới. Nói cách khác, đây là một cuộc xuất hành mới bởi vì thánh Phaolô không còn sống cho Luật, hay “chân lý cũ” nữa, thay vào đó là “sự sống mới” của Đức Kitô rạng ngời trong cuộc đời của ông. Từ nay Phaolô không còn là con người cuồng tín mà là con người dám đặt niềm tin trọn vẹn đời mình vào Đức Kitô, từng hơi thở và hoạt động của Phaolô như gắn liền với sự sống của Đức Giêsu Kitô (Pl  1,21). Từ nay Đức Giêsu chịu đóng đinh không còn vô nghĩa, điên khùng, hay quên lãng đối với Phaolô, bởi vì sau biến cố Đa mát, thánh Phaolô đã đi đến quyết định và chọn lấy cái “phi lý” và “vô nghĩa” đó (x.Đnl 21, 23; Gl 3,13). “Tôi đã quyết định là nơi anh em, là tôi không muốn biết chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá” (1Cr 2,2). Những tưởng, đây là sự kiện về một con người chịu chết trên thập giá, là chuyện “bình thường” của lịch sử thời bấy giờ, nhưng lại là chuyện “khác thường” đối với Phaolô, bởi vì Phaolô đã bị chinh phục bởi cái “yếu đuối” của thập giá – thập giá đã trở nên chân lý sống và cùng đích của đời ông: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin mừng” (1Cr 9,16). Như vậy, thuyết giảng về Đức Kitô là một đòi hỏi đối với Phaolô.

      Khi rao giảng về Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh thì chính Phaolô đồng thời sống với mầu nhiệm thập giá. Khi  đã trải qua những đau khổ trong cuộc hành trình làm men muối Tin Mừng (2Cr 11,22-29) nhưng Phaolô đã vượt qua được tất cả nhờ vào thập giá là quyền năng của Thiên Chúa biểu lộ trong chính sự yếu đuối của ông (2Cr 12,9 ; 7,9), đã biến ông nên khí cụ sống động, dũng mãnh trước những thế lực của trần gian mà không gì có thể tách ông ra khỏi tình yêu của Đức Kitô (2Cr 5,14). Chính tình yêu vào Đức Kitô đã biến ông say mê thập giá như một người điên, có thể nói như vậy, vì chính Phaolô có lần đã tự cho mình trở nên điên (2Cr 11,23) vì Đức Kitô để được ở với Ngài (Pl 1,20-24). Ông đã chấp nhận bị tước đoạt tất cả sự khôn ngoan của trần thế để đổi lấy sự “dại khờ” của thập giá. Ông đã chấp nhận đánh đổi sự “tồn tại” của thế gian để lấy cái “mất” của Tin Mừng; ông muốn làm hạt giống mục nát để thông dự vào thập giá của Đức Kitô hầu cứu độ người khác.

      Vâng, lịch sử về một con người được gọi và đáp lại tiếng gọi là như vậy. Thế nhưng, điều chúng ta thắc mắc là, tại sao Phaolô dám suy tôn thập giá, biểu tượng của sự chết chóc nhục nhã, làm lẽ sống cho đời mình ? Tại sao Phaolô dám quyết định chọn Đức Giêsu chịu đóng đinh làm lý tưởng cho đời mình khi con người Giêsu ấy chẳng phải là một danh ca, một danh hài, một đạo diễn, một nhà lãnh đạo nổi tiếng…, mà chỉ là một con người của Tin Mừng ? Chắc hẳn thánh Phaolô đã chạm đến được ý nghĩa chiều sâu tâm linh của đời sống đức tin và sự thất bại của Luật; ý nghĩa cuộc sống con người không phát xuất từ Luật, một tổ chức hay một cơ chế nào do con người lập ra, nhưng do từ Thiên Chúa. Vậy, ông có lý khi nhận ra nơi Đức Giêsu Kitô là con người mẫu mực nhất, đáng yêu nhất, đáng từ bỏ mọi sự để theo Ngài (Pl 3,8-9). Chính Con Người ấy, không ai khác, mới có khả năng cứu độ và giải thoát ông và nhân loại ra khỏi sự nô lệ của Luật và sự chết. “Chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Kitô Giêsu, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người” (1Tm 2,5-6).

      Với xác tín đó, thánh Phaolô dám để cho Đức Kitô đi vào trong toàn bộ con người của ông để trong mọi hoàn cảnh người chứng tá chứng minh được rằng, tình yêu của Thiên Chúa vượt lên tất cả (Rm 8,38-39; 8,35). Và chỉ có trung thành sống mầu nhiệm hiến tế trong cuộc đời thì người môn đệ mới nhận ra được trong đau khổ, có thể là bệnh tật, bị bắt bớ, khủng bố, chiến tranh, thậm chí cuộc sống không biết có ngày mai hay không, mới cảm thấy được sự bình an thư thái, sống chết, đau khổ không còn là mối bận tâm hàng đầu của người môn đệ, mà là đời sống hiện tại có Đức Kiô hay không. Thần học gia Hans Kng đã viết :”Bởi vì tình yêu của Thiên Chúa không tránh cho chúng ta mọi khổ đau, nhưng gìn giữ chúng ta trong mọi đau khổ5. Ý thức được điều đó, thánh Phaolô sẵn sàng chấp nhận ra đi để được ở với Đức Kitô (Pl 1,20-24), bởi vì đau khổ đời này sánh sao được với vinh quang của Thiên Chúa mặc khải nơi chúng ta (Rm 8,18-39; 2Cr 4,17). Vinh quang nơi Đức Giêsu, muốn đạt được, đối với thánh Phaolô, phải đi qua con đường khổ giá (Rm 8,18; 2Cr 4,17).

      Con đường thập giá sẽ không còn ý nghĩa hay chỉ còn là sự chết chóc, biểu tượng một cuộc sống không còn hi vọng khi người môn đệ chỉ nhìn lên thập giá bằng con mắt lý trí, bằng một sự nghi ngờ hay không có niềm tin. Đấy cũng là nguyên nhân đưa tới sự thất vọng, chán nản của người môn đệ khi đối diện với những thách đố của thời đại; đồng thời người  môn đệ sẽ dễ dàng đúc nên cho mình một thập giá khác hấp dẫn hơn thập giá cứu độ của Đức Giêsu Kitô, có thể đó là một khối vật chất bằng vàng, bằng bạc hay bạch kim có giá trị. Thập giá tự tạo theo ý muốn con người chắc hẳn sẽ ít đau khổ hơn, nhưng sẽ làm cho người môn đệ không còn nhận ra nơi đớn đau, thử thách trong đời có ý nghĩa cứu độ, mà chúng chỉ là một “hình phạt”, một “tai nạn” cho cuộc sống người môn đệ. Hậu quả là người môn đệ không nhìn thập giá đời thường trong tương quan với mầu nhiệm thập giá của Đức Giêsu nữa, mà là nhìn nó như “thần dữ” đe doạ cuộc sống của họ. Với ý nghĩa đó, thì thánh Phaolô có đủ bằng chứng để biện minh cho hành động của ông phải rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh (1Cr 1,22-25). Chỉ có thập giá của Đức Kitô mới nói với con người về ý nghĩa của kiếp nhân sinh: đời người và cùng đích của nó có ý nghĩa gì ? Đau khổ, bệnh tật có ý nghĩa gì ? Và, không ai khác, chính thánh Phaolô là người đã khám phá ra ý nghĩa đó, một Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh trước đây ông đã lên án, tố cáo, hôm nay lại là Đấng ông rao giảng và trở thành lý tưởng không ai có thể thay thế trong cuộc đời muộn màng gặp Chúa Kitô của ông. Vâng, đó cũng chính là kinh nghiệm chúng ta gặp thấy nơi những người tận hiến, đặc biệt nơi đan sĩ.

 

3.Sống kinh nghiệm ơn gọi của thánh Phaolô trong đời đan tu

      Kinh nghiệm sống là cái gì đó rất riêng tư của mỗi con người. Thế nhưng, trong ơn gọi tận hiến, chúng ta sẽ gặp thấy một kinh nghiệm chung là Chúa Kitô khởi xướng và thiết lập ơn gọi tông đồ, có chăng khác nhau ở cách được gọi và thái độ đáp trả. Bởi thế, chúng ta nói sống kinh nghiệm ơn gọi của thánh Phaolô trong đời đan sĩ là biểu lộ con người hư vô của mình để nhìn ra mọi sự xuất phát từ Chúa và qui hướng về Ngài. Chúng ta cũng chẳng có chút gì để tự phụ hay khoe khoang mình với người khác, nói như thánh Phaolô, “tôi có gì đều nhờ bởi ơn Chúa” (Rm 15,17). Tình thương nhưng không ấy đã nên một với chúng ta đến nỗi Ngài không còn coi chúng ta là tội nhân nữa mà là anh em và chi thể trong một thân thể (Rm 12,4-5), nhưng nhiều khi chúng ta quên lãng trước tình thương bao la đó. Chúng ta chỉ nhìn vào con người của mình với những thành quả bằng một lối tính toán thực dụng, qui về lý trí và nỗ lực của con người. Đấy cũng là nguyên nhân dẫn đưa người đan sĩ đến chỗ không còn cảm thấy lực hút mãnh liệt từ Thiên Chúa nữa.

       Vậy, kinh nghiệm để nhận ra ân ban nhưng không của Thiên Chúa là biết mình. Biết mình hữu hạn còn Thiên Chúa thì vô hạn; biết mình yếu đuối còn Thiên Chúa thì quyền năng; biết mình bất toàn còn Thiên Chúa thì toàn thiện; biết mình ích kỷ còn Thiên Chúa thì quảng đại, bao dung; biết mình hay thay đổi còn Thiên Chúa thì trung tín… Chừng nào thấy được sự thật như vậy, chúng ta sẽ không có lý do gì mà phải phô trương, khoe khoang mình với người anh em, nếu có tự hào mình làm được điều gì thì hãy tự hào trong Đức Kitô (x.Rm 13,17), thánh Phaolô xác tín như vậy. Đây cũng là mối dây then chốt để chúng ta có được hoà khí đời sống cộng đoàn và nhận ra đời sống của mình là do bởi tình yêu Thiên Chúa qui tụ. Và chính tình yêu này đã quyết định lịch sử cuộc đời của thánh Phaolô và cuộc đời của mỗi đan sĩ chúng ta. Chúng ta phải làm một cái gì đó gọi là của lễ hiến tế đời mình dâng lên Thiên Chúa. Thánh Phaolô đề nghị với chúng ta phải rao giảng Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Nhưng cần nói rõ hơn là, chúng ta đã sống mầu nhiệm thập giá ấy như thế nào trong đời thánh hiến đan tu ?

      Nếu Đức Kitô đã yêu thương và chịu chết vì chúng ta thì chắc hẳn Thiên Chúa cũng chẳng tạo ra con đường nào khác ngoài con đường thập giá cho những ai đi theo Ngài. Vì thế,  đan sĩ cần trình bày một khuôn mặt Đức Kitô đau khổ trong đời của mình như những chứng từ sâu sắc nhất về tình yêu. Mặc dầu không ít người hôm nay, coi vấn đề đau khổ của thập giá không còn ý nghĩa nữa đối với họ, hay có chăng chuyện đau khổ là  “kẻ thù” không đội trời chung. Cũng giống như quan niệm trước đây của Phaolô và những người Do thái, thập giá là đồ chúc dữ, điên rồ không thể chấp nhận được. Đan sĩ có nhiệm vụ trình bày và đáp lại tiếng gọi yêu thương từ Thiên Chúa, nói được như thánh Phaolô, chúng tôi rao giảng Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh (1Cr 1,22-25). Hơn thế, chúng ta cần phải hoàn tất những gì còn thiếu sót nơi thập giá Đức Kitô (Cl 1,24) vì ích lợi của anh em đồng loại.

       Vậy, quyết tâm theo Chúa Kitô đối với đan sĩ  không chỉ là rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh, nói về đau khổ, hay sự dư, mà còn sống và đón nhận. Cụ thể, sống và đón nhận những vui buồn, sướng khổ trong thân phận con người để chúng ta trở nên một “Đức Kitô khác”. Hay nói như thánh Phaolô, “tôi sống không phải là tôi mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Đấy mới là sự đáp trả tình yêu đúng nghĩa nhất. Với ước nguyện đó, đan sĩ cần phải hòa nhịp nên một với Chúa Kitô không chỉ trong cuộc sống an bình mà còn nên một với Ngài trên thập giá, đó là con đường dẫn tới tình yêu thật. Bởi lẽ, khi yêu, người ta muốn nên một với người mình yêu trong những lúc hạnh phúc và cả trong những lúc khổ đau. Nếu yêu nhau mà không nên một trong mọi hoàn cảnh, thì đó không phải là tình yêu thật, nói đúng hơn đó là tình yêu giả tạo, tình yêu trên môi miệng.

      Chúng ta nói là tình yêu giả, hay tình yêu trên môi miệng, khi thứ tình yêu đó chỉ dựa trên tính hiệu quả, thực dụng, cân đo đong đếm. Bao lâu đan sĩ chỉ yêu mến Chúa, yêu mến anh chị em mình dựa trên tiêu chuẩn đo lường thì đó không phải là tình yêu mà chỉ là tiếng đáp trả tình yêu theo công thức có sẵn. Hiệu quả của tình yêu theo công thức là thiếu sự hiệp nhất và sẽ dẫn tới mỗi người là một thế giới riêng biệt, mỗi người là một hòn đảo tách rời nhau. Đấy là con đường dẫn tới sự đổ vỡ, ghen tị, chấp trách và khó tha thứ cho nhau. Dĩ nhiên, một cộng đoàn thiếu sự hi sinh cho nhau, thiếu vị tha, thì cộng đoàn tự nó không tồn tại. Không tồn tại ở đây không hiểu theo nghĩa một tổ chức hay một cơ chế mà là tự bản chất của nó. Vì thế, một cộng đoàn tu với một cơ sở rộng lớn về đất đai, nhà cửa và bao gồm cả nhân sự nữa, mà thiếu sự hiệp thông, thiếu sự quảng đại coi nhau là anh chị em, thì cộng  đoàn đó tự bản chất coi như đã chết,làm biến dạng tình yêu Thiên Chúa và bầu khí trở nên ngột ngạt. Bấy giờ, mỗi người trong họ sẽ đối xử với nhau bằng khuôn luật lệ, bằng duy lý, bằng những phê bình loại trừ, bằng những tố cáo hơn thua, và mọi người càng trở nên “khó tính” hơn! Đời sống cộng đoàn sẽ trở nên đơn điệu và buồn chán; họ không còn nhìn thấy thập giá của sự sống mà là nhiều hình thức thập giá tự tạo chồng chất lên người khác. Đó là thập giá không phải cứu độ người anh em mà giết chết người anh em mình. Lúc chúng ta đi tìm  công danh sự nghiệp cho bản thân, duy tôn mình, lấy mình làm trung tâm là lúc chúng ta biết rằng mình chưa gặp được tình yêu đích thịch và được Thiên Chúa biến đổi. Vì thế, muốn được Thiên Chúa biến đổi chúng ta cần phải từ bỏ mình, vác thập giá mỗi ngày theo Chúa Kitô (Mc 8,34). Bỏ mình ở đây không có nghĩa là tự thiêu, tự hủy, hay sống như người điên khùng không có tự do làm chủ những sinh hoạt, hành động của mình, mà là đón nhận sự sống thần linh từ Chúa Kitô và Thánh Thần. Đó chính là điều thánh Phaolô xác quyết (x.Gl 2,20). Nói cách khác, từ bỏ chính mình là sắp xếp lại trật tự cuộc sống là sao để Thiên Chúa được mặc khải qua nếp sống, cách suy nghĩ của mình và được mặc lấy những tâm tình của Chúa Kitô (x.Pl 2,5). Đan sĩ không chấp nhận tự nguyện bỏ mình hay xóa mình theo ý muốn của Chúa Kitô, thì việc vác thập giá hằng ngày quả là một việc nặng nề, vô nghĩa, nếu không muốn nói là đồ bị chúc dữ. Hơn nữa, việc bỏ mình vừa để đáp lại tiếng gọi theo Chúa dứt khoát và đồng thời cho chúng ta nhận ra tất cả mọi sự đời này đều tương đối so với Đức Kitô, Hữu thể tự tại và tuyệt đối. Do đó, việc bỏ mình theo Chúa Kitô là chúng ta trở nên người khôn ngoan dám đánh đổi cái tương đối trần thế để lấy cái tuyệt đối là Đức Kitô; từ bỏ cái hữu hạn để chọn lấy vô hạn; từ bỏ con người hay chết để mặc lấy Thần Khí ban sự sống. Với tư tưởng đó, đan sĩ không có lý do gì để bám víu vào tất cả những thứ không bảo đảm cho ơn gọi theo Chúa Kitô của mình. Thực hiện được một cuộc “lột xác” hoàn toàn theo đòi hỏi của Tin mừng, đan sĩ phó thác vào sức mạnh của Thánh Thần để Người hoàn tất hành trình đời đan tu.

 

   Kết luận

        Ơn gọi theo Chúa Kitô không phải là công trình của con người nhưng là công trình của Thiên Chúa. Thật vậy, Thiên Chúa đã không tính toán, không đo, không đếm tội quá khứ của thánh Phaolô, ngược lại Ngài còn yêu thương, mặc khải và dẫn ông đến một “chân lý mới” để tham dự vào việc cứu rỗi người khác. Điều này cũng nói lên rằng trong lịch sử cứu độ và rao giảng Tin Mừng, một lần nữa, Thiên Chúa khẳng định Ngài đến để kêu gọi người tội lỗi (Mt 9,13). Chắc chắn sẽ có nhiều người trách cứ Chúa Giêsu về quyết định này, bởi vì nó không thích hợp với một Thiên Chúa tự bản chất là thánh và yêu thương Sự thánh thiện và tình yêu của Thiên Chúa vượt quá mọi lý luận và quan niệm nhân loại, vì chúng luôn mang  đặc tính nhưng không.

      Tình thương Thiên Chúa cho chúng ta thêm một kinh nghiệm nữa là, Thiên Chúa như “giấu” tội chúng ta. Ngài không khiển trách, không phạt tội, nhưng ngược lại, Ngài kêu gọi chúng ta theo Ngài. Đó là bài học quí giá làm kinh nghiệm cho chúng ta. Chúng ta đừng đánh giá mình quá cao, là người xứng đáng, trổi vượt hơn người khác, vì tất cả là hồng ân của Thiên Chúa. Nói như thánh Phaolô “ tôi có là gì đều do bởi Thiên Chúa” (Rm 15,17). Chúng ta hãy hãnh diện mình là một phàm nhân được Thiên Chúa kêu gọi giữa muôn người khác. Nói cách khác, chính Thiên Chúa kêu gọi tôi để tôi được hoán cải và được thanh tẩy cho một cuộc sống tốt hơn, thánh thiện hơn.

      Thật vậy, cuộc sống của người theo Chúa nói cho cùng cũng chỉ là biến đổi cuộc đời mình trở nên cây thập giá kết hợp với thập giá Chúa Kitô hầu mang cho anh em ơn cứu độ. Chúa Kitô, con Thiên Chúa, đã biến mình thành tội nhân trên cây thập tự giá để cứu độ muôn người (2Cr 5,21; Gl 3,13). Còn chúng ta, chúng ta không muốn trở nên “tội nhân” vì người khác, nhưng muốn trở nên một “vị thánh” để người khác ca tụng. Nếu chúng ta không khẳng định và sống ơn gọi thập giá trong cái thường nhật, thì những lời rao giảng hùng hồn của mình cũng chỉ là một bài diễn văn trống rỗng, thiếu sức sống của Tin mừng.

       Vậy, sống kinh nghiệm ơn gọi của thánh Phaolô trong đời đan tu là chúng ta khám phá ra bàn tay yêu thương của Thiên Chúa trong cuộc đời. Với ân tình bao la đó, chúng ta được mời gọi biến đổi cuộc sống trở thành hy lễ như là một tặng vật quí nhất để dâng lên Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương và kêu gọi chúng ta trở nên môn đệ của Đức Kitô và là chứng nhân Tin mừng.

    


1.Gioan Phaolô II, Tông huấn Pastores dabo vobis, 1992, số 35.

2.Nguyễn thái Hợp, Bước theo Đức Kitô, Houston 2001, tr. 12.

3 . Thượng HĐGM Thế giới 1994, Đời tận hiến và sứ mạng  đời tận hiến trong Hội thánh và trên thế giới, tr. 116.

4 . Sư huynh Hoàng gia Quảng, FSC, Giáo án thần học “Mầu nhiệm ân sủng”,Tp.HCM 2001, tr. 22.

5.  Bernard Rey, Chúng tôi rao giảng một Đấng Kitô chịu đóng đinh, nxb Cerf, 1989, tr.231.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHIÊM NIỆM ĐƯỢC TRAO TẶNG CHO MỌI NGƯỜI

theo thánh Bernard, viện phụ Gilbert de Hoyland và viện phụ Jean de Ford

 

Nguyên tác : “La contemplation offerte à tous, selon Bernard de Claivaux, Gilbert de Hoyland et Jean de Ford”, Collectanea cisterciensia 63, 2001, pp. 122-137).

Tác giả: Pierre- Yves EMERY – Cộng đoàn đại kết Taize

Chuyển ngữ: Duyên Thập Tự.

 

 

      Trong một bài viết trước[1], chúng tôi đã nghe ba tác giả nói về chiêm niệm như là việc  Chúa Kitô đi qua trong cầu nguyện. Khảo luận về một đề tài như thế – về chiêm niệm – là một việc mạo hiểm, nhất là khi chứng từ mang tính cá nhân.

      Đó là hai nguy cơ: nguy cơ làm ảo tưởng, như thể chỉ nghe nói về chiêm niệm cũng đủ để có kinh nghiệm về chiêm niệm, và, còn nghiêm trọng hơn, là nguy cơ dẫn thính giả đi đến kết luận là một kinh nghiệm như thế chỉ dành riêng cho một số thành phần ưu tuyển còn mình bị loại trừ. Thật vậy, danh từ chiêm niệm có thể gợi lên trong tâm trí chúng ta những hiện tượng đặc biệt, thuộc trật tự tâm lý, hay ngay cả thể lý, một sự chiếm đoạt tất cả hữu thể, có thể dẫn đến sự vô cảm với tất cả những gì bên ngoài. Tất cả những điều đó không bị loại trừ nhưng cũng không thật cần thiết. Và nhất là không được mong ước, nhưng chỉ đón nhận chúng; dầu vậy, phải giữ một khoảng cách và một tinh thần thanh thoát để không thoả mãn cũng không gắn kết vào đó quá mức.

      Từ đó điều quan trọng là thấy rằng “chiêm niệm”, theo quan điểm của ba Thánh Phụ Xitô,  có một ý nghĩa rộng lớn và những thể hiện rất đa dạng không ngờ. Chiêm niệm có thể như một ngây ngất tuyệt vời, một sự xuất thần, như viện phụ Gibert de Hoyland đã gợi lên trong bài Giảng 43. Ngay trong trường hợp đó, người chưa có kinh nghiệm, thay vì nghĩ rằng một kinh nghiệm như thế không dành cho mình, nên tự nhủ: tại sao chính tôi lại không biết được điều đó? Không phải trong nỗi khát khao những cảm giác phi thường, nhưng trong ước mong một tình yêu dẫn đưa mình vượt trên chính bản thân và chiếm trọn mình một cách tuyệt đối.

      Dầu vậy, điều mà ba tác giả coi như chiêm niệm cũng có thể hình thành trong một kinh nghiệm giản đơn hơn và thường nhật, trong tầm tay của mọi người và mang một chiều kích thật sự là thần bí : đó là đời sống kitô hữu, tuỳ theo ơn gọi của từng người, nhưng được cảm nếm trong tất cả chiều sâu thiêng liêng.

 

I.Thánh Bernard

      Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc nghe lại bài Giảng 74 về sách Diễm Ca. Sự dè dặt về những hiện tượng tâm linh, như ngài gợi lên, đánh động chúng ta biết bao. Không một chút gì là thể lý được nói tới, ngay cả về phương diện tâm lý.

     Ngôi Lời, Đấng Tình Quân, đã không cho một chứng cớ nào báo cho biết Ngài ngự đến: không âm thanh, không thị kiến, không cưỡng ép. Không một lời nào từ nơi Ngài đã cho phép tôi phát hiện ra Ngài, không một cảm giác nào cảnh báo cho tôi biết là Ngài đã thấm nhập vào trong tôi (S. 74, 6).

     Và đây, vị giảng thuyết liệt kê những dấu hiệu của cuộc viếng thăm, chúng thuộc trật tự của việc hoán cải con tim, đồng thời thuộc trật tự luân lý và thiêng liêng. Như vậy là trong tầm với của từng người. Cuối cùng, xuyên qua tất cả những điều đó, chúng ta trở nên một con người biết yêu mến, “được mang đi bởi ước vọng, được lôi kéo bởi lòng khao khát…” (S. 74, 4).

     Chúng ta sẽ bổ túc những gì nói trên bằng cách hướng về những đoạn văn khác của thánh nhân. Chúng ta có thể nói rằng đời sống thần bí của thánh Bernard là một thứ thần bí của Lời Chúa tác động trên ước muốn (affectus), xuyên qua sự hoán cải của trí năng được đức tin soi sáng. Ước muốn này, một khi được tổ chức, không gì khác hơn là ý muốn sâu xa, sự quyết tâm cá nhân – và trong nghĩa đó là chính ý chí[2].

     Khi tiếng nói của Thiên Chúa bắt đầu vang vọng nơi đôi tai của linh hồn, thì nó cũng bắt đầu mang đến sự giao động, sợ hãi, phán đoán. Nhưng ngay lập tức, với điều kiện là không bịt tai lại, Lời đó trao ban sự sống, làm dịu êm, sưởi ấm, soi sáng, thanh luyện. Thật vậy, đối với chúng ta, Lời là lương thực, thanh gươm và phương thuốc, Lời là sự củng cố và sự an nghỉ, sự phục sinh của chúng ta, cũng là sự kiện toàn viên mãn của chúng ta […] Nếu bạn nguội lạnh và e sợ mình bị mửa ra khỏi miệng Ngài (x. Kh 3, 16), thì đừng bao giờ xa lìa lời Chúa, lời sẽ sưởi ấm bạn vì đó là một lời đầy lửa[3].

     Đó là kinh nghiệm thiêng liêng muôn hình vạn trạng về lời được nói lên trong Kinh Thánh; và còn biết bao cấp độ của sự chiêm niệm, một sự chiêm niệm hệ tại để lời Chúa thiêu đốt. Một kinh nghiệm khởi đầu rất đơn giản, từng bước nhỏ và âm thầm (paulatim et sensim[4]), canh tân con người nội tâm và trao ban trước cho nó điều gì đó như là sự phục sinh.

     Lời hoạt động (actitari) trong tính năng động của ý chí (intentio), trong cái cảm nghiệm của đời sống tình cảm (affectio) và trong ký ức (recordatio).

     Sự canh tân nội tâm hệ tại ba điều này : ý hướng ngay lành, tình cảm trìu mến tinh tuyền và ký ức về những việc tốt lành. Nhờ ký ức này, trong một ý thức về chính mình, linh hồn bắt đầu rạng sáng (enitesco)[5].

     Động từ cuối cùng diễn tả rõ ràng là chúng ta đang trong một kinh nghiệm chiêm niệm.

     Chúa Thánh Thần tỏ rõ sự ngay chính trong tâm trí của những ai muốn tìm lại hình ảnh và nét giống Đấng Tạo Hoá, Đấng đã dựng nên họ ngay thẳng. Sự ngay thẳng này mang chiều kích chiêm niệm, vì sự biến đổi nên hình ảnh Thiên Chúa hệ tại không gì khác hơn là chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa trên khuôn mặt và trong đời sống của Chúa Giêsu[6]. Hân hoan trong niềm hy vọng, như thánh Tông Đồ khuyên chúng ta (Rm 12, 12), đó chính là tin tưởng chờ đợi niềm vui được hứa ban, vì niềm vui đã ẩn chứa trong hy vọng : thật ít khoảng cách giữa lời đến với chúng ta qua Chúa Thánh Thần và hành động của Người trong chúng ta, để chúng ta có kinh nghiệm trước về niềm vui của Thiên Chúa[7].

     Sự kết hiệp của linh hồn và Ngôi Lời không một chút gì thuộc giác quan và tưởng tượng. Kinh nghiệm này hầu như khôn tả, nhưng thật sự. Nếu Thiên Chúa thèm muốn vẻ đẹp của linh hồn, có thể chính vì thấy linh hồn tiến về Ngài bằng tâm trí, và nhất là Ngài đã biện phân xem với mức độ nào linh hồn cháy lửa yêu mến Ngài. Một linh hồn như thế không bằng lòng về một hiểu biết trừu tượng và lý thuyết về Đấng Tình Quân.

     Không, linh hồn, trong sâu thẳm của cảm năng, trong cốt tuỷ của con tim, chờ đợi nơi Ngài đặc ân được lãnh nhận Đấng từ trời đến với mình. Nó muốn sự hiện diện của Đấng là tất cả sự mong ước của nó, không phải một sự hiện diện hữu hình và bên ngoài, nhưng nội tâm và chiếm hữu nó sâu xa : một sự hiện diện rất hạnh phúc đến nỗi nó được thành toàn bên trong chứ không phải bên ngoài. Đó chính là Ngôi Lời không làm cho nghe tiếng nhưng thấm nhập, không ba hoa nhưng hiệu quả, không kích động đôi tai nhưng nhẹ nhàng đụng chạm vào cảm năng của con tim. Diện mạo Ngài không bóng dáng hữu hình, nhưng là chính Mình. Ngài không làm chói loà đôi mắt của thân xác chúng ta, nhưng làm sáng lên bằng niềm hoan lạc khuôn mặt của con tim. Không phải sắc diện của khuôn mặt Ngài làm chúng ta hoan lạc, mà là ân huệ quí báu của tình yêu Ngài[8].

     Thật vậy, chúng ta sống nơi trần gian này trong “bóng của đức tin”, không phải trong thị kiến rõ ràng; chúng ta còn ở trong “bóng của Đấng Phục Sinh”, và, trong ý nghĩa đó, đứng dưới chứ không phải trên bàn thờ (x. Kh 6, 9). Dầu vậy bóng đức tin này vẫn tốt : “nó lọc ánh sáng cho đôi mắt còn mù tối của chúng ta và chuẩn bị cho đôi mắt nhìn thấy ánh sáng kia.” Đối với chúng ta, đó là hình thái hiện thời của chiêm niệm : “đức tin không có tác dụng dập tắt ánh sáng nhưng trái lại lưu trữ. chính bóng đức tin gìn giữ cho chúng ta tất cả những gì thiên thần chiêm ngưỡng.”

     Bóng đức tin che đậy điều mà chúng ta chưa có thể đạt thấu sự hiển lộ. Cũng như quyền năng Đấng Tối Cao đã che phủ đức Maria dưới bóng Người (Lc 1, 45), cũng vậy bóng đức tin không có gì đáng khinh chê : phải chăng nó không phải là sự chiếu toả của quyền năng Đấng Tối Cao xuyên qua sự nhập thể của Chúa Kitô sao? Màn hình của xác thịt sống động của Ngài cho phép tín hữu “trực diện sự hiện diện thần linh và giúp cho nhìn được ánh sáng bất khả đạt thấu […]. Quyền năng thật sự sống động, và bóng làm tươi mát[9]”.

     Đời sống đan tu, và rộng hơn là đời sống kitô hữu, có thể cho cảm tưởng là nếp sống quá quen thuộc: đó là trung thành với ơn gọi, chuyên cần với việc đọc sách thiêng liêng, cuộc chiến chống lại những nết xấu, cầu nguyện thường xuyên, tỉnh thức, ăn năn và tuân phục, nếp sống nghèo khó, hy sinh chính mình, chú tâm đến anh em, v.v. Nếu tôi chỉ thi hành những điều đó như là bổn phận, thì tôi cũng chỉ là một tôi tớ vô dụng (x. Lc 17, 10), và, nếu tôi chỉ làm những điều đó vì thói quen, thì chẳng trào tuôn trong tôi một chút êm ái nào. Dầu vậy, với ơn Chúa, đã từ lâu rồi tôi theo đuổi con đường này. Ân sủng của Ngài hiện thực trong ơn gọi không những làm nên con đường đưa đến chiêm niệm, nhưng còn chính mảnh đất của sự chiêm niệm này, chỉ với điều kiện (nếu người ta dám nói như vậy) là lòng ước muốn, một ước muốn cháy bỏng được nối kết vào đó. Nói cách khác, với điều kiện là tập quán, thay vì đánh mất ý thức, phải luôn là cách thức chúng ta nhắm tới việc biến đời sống chúng ta thành “một hy tế quảng đại” và nài xin Đấng Tình Quân ban cho một “nụ hôn nơi miệng” (x. Dc 1, 1). Và đó là sự khác biệt giữa một cuộc sống ngày qua ngày, chán nản, và một đời sống chiêm niệm. Một sự khác biệt mà chúng ta phải thực hiện.

     Tôi sẽ chẳng tìm được sự nghỉ ngơi, trừ khi Đấng Tình Quân trao cho tôi một nụ hôn nơi miệng […]. Không phải vì vô ơn mà tôi nói như vậy, nhưng chính vì tình yêu. Tôi thú nhận rằng tôi đã lãnh nhận thật nhiều hơn tôi đáng, nhưng quá ít hơn lòng tôi ước ao. Chính lòng ước ao đưa tôi đi, chứ không phải lý trí. Tôi không lên án mình là cao vọng nhưng chính là cảm năng thiêu đốt tôi. Phải tỏ ra cẩn trọng và kín đáo, nhưng tình yêu còn mạnh mẽ hơn. Theo Kinh Thánh, tôi biết rõ rằng, “vinh dự của vua đòi phải xét xử công minh” (Tv 98, 4), nhưng tình yêu hối hả tiến lên đầy khiêm hạ. Tình yêu không đợi chờ phán quyết, không để suy nghĩ kiềm hãm, không bị e lệ chặn đứng, cũng chẳng bị lý trí điều khiển. Tôi cầu xin, khẩn nài, tôi nhấn mạnh : “Xin hãy ban cho tôi một nụ hôn từ miệng Ngài[10].

     Chính vì thế, điều làm cho đời kitô hữu thành một sự chiêm niệm, chính là sống mối hiệp thông minh nhiên với Chúa Kitô. Nói cách khác là không bỏ rơi đức tin, chứng từ và không tách biệt dù một chút nào khỏi con người Chúa Kitô như Kinh Thánh mạc khải, không biến đời sống đó thành những diễn văn xuông hay một thứ luân lý. Tất cả hiện hữu kitô giáo được mời gọi trở nên cách cụ thể một sự suy niệm Chúa Kitô, một sự suy niệm đồng thời mở ra cho chiêm niệm.

     Thánh Bernard nói điều đó về ngôn sứ Êlisê, người đã phục sinh đứa con của bà goá miền Sunam bằng cách nằm trêm em “miệng kề miệng, mắt chạm mắt, tay trên tay” (2V 4, 34). Ngôn sứ Êlisê đối với chúng ta như là một kiểu mẫu của Chúa Kitô, Đấng đến từ trời cao, đã thu mình lại vào tầm mức của chúng ta để thông ban ánh sáng cho chúng ta là những kẻ mù loà, để chữa lành những người câm là chúng ta qua một nụ hôn nơi miệng Ngài, để củng cố đôi tay yếu mềm của chúng ta bằng đôi tay Ngài chạm tới. Thánh Bernard kêu lên :

     Tôi suy đi nghĩ lại đều đó trong niềm hạnh phúc, tim tôi tràn đầy những tình cảm, nội tâm tôi được nuôi sống, và tất cả xương cốt tôi cất lên lời ca ngợi. Ngài, chính Ngài đã thực hiện điều đó một lần thay cho tất cả. Và hằng ngày, mỗi chúng ta cảm thấy điều đó hoạt động trong mình để phát tán trong tim luồng ánh sáng của trí năng, trong miệng lời có sức xây dựng, trong đôi tay việc thưc hiện công minh chính trực. Ngài cho tôi nhận thấy điều đó một cách trung thực, phát triển nó một cách hữu ích, hoàn tất nó một cách kiến hiệu. Đó là ba thừng chão khó mà chặt đứt (Gv 4, 12), để kéo các linh hồn khỏi ngục tù của Ma quỉ và đưa họ theo mình vào Vương Quốc, vì thế mà bạn cảm thấy điều đó một cách đúng đắn, bạn nói về điều đó một cách xứng đáng, bạn khẳng định điều đó một cách hiện sinh[11].

     Những gì nói trên đủ cho chúng ta bảo đảm rằng, dưới nhãn quan của thánh Bernard, đời kitô hữu, trong những cái thường nhật nhất, với điều kiện phải được sống một cách thiêng liêng rõ ràng, như là một sự thông hiệp và tham dự vào Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần, được trao tặng như một nơi bình thường và cơ hội của chiêm niệm.

 

 II.Viện phụ Gibert de Hoyland

     Hình như vị chú giải sách Diễm Ca này thường tỏ ra ít thận trọng và ít giản dị hơn thánh Bernard khi nói đến chiêm niệm. Chúng ta hẳn sẽ ngạc nhiên về cách ngài tiếp cận vấn đề chiêm niệm dưới góc độ mà chúng ta gọi là hiện tượng, đặc biệt  trong bài giảng 19 về sách Diễm Ca.

     Chú giải câu nói : “Thiếu nữ Xion hỡi, hãy ra chiêm ngưỡng vua Salomon” (Dc 3, 11), vị giảng thuyết tự hỏi nơi nào các cô “ra đi” , những con người bước theo hiền thê, những con người học chiêm niệm, để “thấy” Chúa Kitô mà vua Salomon chỉ là một khuôn mặt báo trước; vì rằng những câu trước nói họ ở bên ngai toà vinh quang của Chúa. Phải chăng có nghĩa là họ phải ra đi xa Ngài, xa khỏi việc kiếm tìm chiêm niệm?

     Viện phụ Gilbert tìm thấy giải pháp cho vấn đề chú giải này : những cô gái không định cư mãi mãi, một cách nào đó trong sự vui khoái tuyệt vời mà chắc chắn sẽ bị cạn kiệt đi. Niềm vui của sự thông hiệp với Chúa Kitô phải có sự luân phiên, và những thay đổi này tốt vì họ không xa lìa Đấng Tình Quân (§1). “Không”, Đấng Tình Quân “không muốn họ xa lìa” mình, “nếu họ vui thích trong tinh thần cũng như họ giản đơn trong chính họ” (§2), trong sự giản đơn của đức tin và trong sự khám phá ra Chúa Giêsu của các Tin Mừng.

 

            Đức tin

     Đó là sự kiếm tìm chiêm niệm được nhắm tới như một lộ trình có thể dẫn đến sự ngây ngất; nhưng, ngay cả trong trường hợp này, cũng không được cư trú và định cư nơi đó. Dù sao, đó là một hành trình phải luôn được khởi đầu từ điểm xuất phát. Điểm xuất phát này là chính đức tin thật giản đơn, “một sự giản đơn  mà cái nhìn của những người chiêm niệm có thể chịu đựng được và được nó nâng đỡ[12]”. Có nghĩa là  việc nhập thể của Chúa Kitô tránh không làm loá mắt nhưng trở thành chỗ dựa cần thiết của việc kiếm tìm chiêm niệm.

     Cũng như nơi thánh Bernard, đức tin ở đây được hiểu như một tầm nhìn của trí năng hướng về Chuá Giêsu như Kinh Thánh nói đến, để được Ngài giáo huấn bằng cách liên kết chặt chẽ với lời Ngài. Vâng, chúng ta thật sự ở điểm phát xuất của đời sống kitô hữu, và là “nơi chốn đầu tiên của chiêm niệm”, với điều kiện nơi đó khởi đầu sự kiếm tìm tình yêu mong mỏi đi đến tận cùng của chiêm niệm và ước ao theo Chúa Kitô bước vào Vương Quốc.

     Sự khẳng định này có tầm mức hết sức quan trọng : bất cứ cái nhìn nào qui hướng về Chúa Giêsu để yêu mến và theo Ngài đã là một kinh nghiệm chiêm niệm. Và chúng ta không thấy nơi đó một loại nhượng bộ nào đó về phía tác giả. Không, đối với tác giả, sự hiểu biết, nghĩa là sự dấn thân của trí năng trong đức tin vào bản thân và lời rao giảng của Chúa Kitô là căn bản. Vì chiêm niệm được xác nhận trong trật tự trí năng cũng như trong trật tự tình cảm của nhiệt tâm và tình yêu càng lớn hơn: “thật vậy nhiệt tâm chiêm niệm thì tốt, nhưng cũng cần phải có nhận thức[13].”

     Với điều kiện đó, bạn có thể khởi hành lại : “Như vậy bạn sẽ được sưởi nóng và sẽ mang đai lưng để đi về phía kiệu vàng[14], nơi đích thực của chiêm niệm.” Và chúng ta hiểu rằng đai lưng biểu thị vừa là sự an toàn vừa là tính chặt chẽ : bên ngoài tri thức mà Thiên Chuá ban cho chúng ta trong Con của Người, ước muốn chiêm niệm sẽ biến thành một sự trốn chạy và lang thang.

 

            An năn và một đời thống hối

     Ngoài ra viện phụ Gilbert còn xác định rằng tiến trình chứa đựng nhiều giai đoạn cần thiết, rằng việc “tiến lên” được thực hiện qua những cấp độ. Thánh vịnh 83,6 là nơi tham chiếu : đó là những cuộc tiến lên mà người ta chuẩn bị trong tâm hồn, là cuộc tiến bước lặng lẽ, được đóng cột mốc và được tổ chức, trong khi chờ đợi một ngày kia nó trở thành một “cú nhảy, hay đúng hơn, một sự thăng thiên”, và cái chết như là cuộc tiến vào trong Thiên Chúa.

     Cấp độ thứ nhất là sự ăn năn : đó là thanh luyện trái tim để được trông thấy Thiên Chúa (x. Mt 5,8). Hơn là một điều kiện bình thường hay là một sự chuẩn bị, sự ăn năn thiết định trong chính mình một khởi đầu của chiêm niệm.

     Nhưng sự ăn năn không có mục đích tự thân, nó không chỉ hạn hẹp trong sự nài xin tha thứ, và nhất là nó không hệ tại việc cột trói mình trong mặc cảm tội lỗi. Nó phải được tổ chức – và đây là một cấp độ khác – thành một cuộc sống đúng theo Tin Mừng. Về vấn đề này, trong Bài Giảng 19  cho các nữ đan sĩ, viện phụ Gilbert đã nhắc lại cho họ biết rằng ơn gọi đan tu chất chứa một đời thống hối (canh thức, lao động chân tay, chay tịnh, những việc khắc khổ khác nhau), và, một cách nội tâm hơn, một kỷ luật thiêng liêng, đọc sách, suy niệm, thời gian dành cho cầu nguyện, tóm lại, là tất cả những gì giúp con người trở nên môn đệ của Chúa. Tất cả những thứ đó giữ vai trò của một “nội vi”, biểu thị ý định cương quyết là chỉ tìm an ủi trong Thiên Chúa mà thôi chứ không ở trong những thứ lệch lạc ở đời này.

 

           …hướng tới một sự tự do trong Chúa Thánh Thần

     Đến lượt mình, nội vi không là một mục đích. Trong trường hợp là mục đích, nội vi sẽ trở thành một sự nô lệ : “Kẻ không muốn cũng không đáng ra đi hướng về hạnh phúc của chiêm niệm, thì bị nhốt kín trong sự bất hạnh của mình.” Tất cả những gì được đặt ra để hướng tới một cách nghiêm túc đời sống kitô hữu, thì nay trở thành một chủ nghĩa vị luật nô lệ, trừ phi thật lòng muốn chuẩn bị nghe tiếng kêu mời của Chúa “ra đi” hướng về Ngài. Vì “Thiên Chúa là Thần Khí, và ở đâu có thần khí thì ở đó có tự do” (2 Cr 3,16-17). Viện phụ Gilbert chú giải : “Thần Khí càng đầy tràn, tự do càng rộng lớn”. Tu Luật, những luật lệ, những thói lệ, những nguyên tắc, v.v., tất cả những thứ đó đều tuyệt đối cần thiết, nhưng phải được hoàn toàn phục vụ cho tự do này là việc kiếm tìm chiêm niệm, như là “sự ra đi” để đáp lại lời mời gọi của Chúa. Như vậy, việc đọc sách, nghiên cứu, suy niệm Kinh Thánh sẽ qui hướng về Đấng Phục Sinh, đã trở thành Thần Khí và hoạt động nhờ Chúa Thánh Thần; chúng sẽ là cách thế người ta sẽ cất đi tấm màn che đôi mắt để chúng ta đi từ chữ viết đến tinh thần – và như thế là đến sự chiêm niệm (x. 2 Cr 3,16-17).

 

           “Hiên tượng” nhân loại cũng là sự chiêm niệm

     Tác giả tham chiếu đoạn văn trong thư thứ hai gởi tín hữu Corinthô để suy tư và nói đến chiêm niệm trong một viễn tượng mà người ta gọi là hiện tượng. Sự chiêm niệm này xuất phát từ ân sủng, từ mầu nhiệm Chúa Kitô ở trong chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần. Ở đây, tác giả gợi lên chiêm niệm như là một kinh nghiệm nhân loại, khởi từ lời nay của thánh Phaolô : “Phần chúng ta, chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chuá mặt không che màn, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó” (2 Cr 3,18).

     Viện phụ Gilbert giải thích : “Thị kiến Thiên Chúa phải luôn được đón nhận với một hoa trái nào đó.” (§4) Nhưng “thị kiến Thiên Chúa” đây là gì? đó là cái nhìn của đức tin mà chúng ta nói trên kia, cái nhìn mà trí năng hướng về Chúa Kitô của Tin Mừng, và rộng lớn hơn là của Tân Ước. Qua đó, tác giả nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự hiểu biết để đem đến cho việc kiếm tìm chiêm niệm một sự linh hoạt. Giờ đây, tác giả nhấn mạnh đến một khía cạnh khác : sự hiểu biết này không là gì cả nếu không có “một hoa trái nào đó”. Hoa trái hệ tại điều gì? Đó là  một thứ sức mạnh, và ngay cả một thứ vũ lực, mà sự hiểu biết thông tri khuôn mặt và sự hiện diện của Chúa Kitô cho tình cảm để cho tình cảm kiếm tìm qua ánh mắt – và qua ước muốn. Nó được đem đi bởi tiếng kêu gọi ra khỏi chính mình để hướng về Ngài, để được Ngài lôi cuốn. “Vũ lực êm dịu”, đó là thứ vũ lực đã lôi cuốn ông Maisen, hoàn toàn run sợ, khi thấy bụi gai bốc cháy (x. Xh 3,2-6).

 

           Đức tin, lòng kính sợ, lòng khâm phục, tình yêu

     Một sự hiểu biết Chúa Kitô chỉ giới hạn trong trí năng – điều mà tác giả gọi là “một thứ thị kiến bình thường” – nếu nó “không lôi kéo những tình cảm xứng đáng với nó, thì chỉ làm gia tăng thêm vào sự dốt nát và mù quáng”, thay vì thay thế chúng : một thứ hiểu biết hạn hẹp như thế chỉ là sự trái nghịch của nó! “Các bạn có muốn được hưởng một thị kiến sinh hoa kết quả không?” Viện phụ Gilbert liệt kê những yếu tố dựa vào lời của ngôn sứ Isaia : “Các đảo nhìn thấy và hoảng sợ, chân trời góc biển cũng chuyển rung và tiến tới “(Is 41,5). Ngài nói về “những hoa trái của các nhân đức” : những nhân đức có tính chất tâm lý và thiêng liêng hơn là luân lý, là những năng lực tình cảm qua đó chúng ta có để dấn thân vào việc kiếm tìm chiêm niệm, tiếp theo sau trí hiểu của chúng ta đã trở thành đức tin : “lòng kính sợ, sự kinh ngạc, tình yêu”.

     Vì thế mà bốn giai đoạn được phác hoạ. Trước hết “thấy” bằng trí hiểu. Và tiếp đến về phía tình cảm, “lòng kính sợ” bén rễ : đây phải hiểu là sự sợ hãi, sự xúc động tột độ, sự run sợ trước mầu nhiệm của Thiên Chuá, khi lòng tín thác vào lượng cả thứ tha của Chúa biến đổi chúng thành một sự kính cẩn suy tôn. Về điều này, thánh Augustinô nói đến “lòng kính sợ trinh trong”; nó “trấn áp” lòng kiêu ngạo, đè bẹp cám dỗ coi thường mầu nhiệm, dập tắt khuynh hướng coi Thiên Chúa như ngang hàng; nó “làm cho linh hồn nên giản đơn” nghèo nàn và tự do với chính mình trong một tinh thần trong sáng và một trái tim tươi mát; từ đó tràn chảy một sự chú tâm, một lòng nhiệt thành gần như là sự kinh ngạc thán phục.

     Như vậy, giai đoạn thứ ba được nối kết, và đây là tình cảm thứ hai : sự kinh ngạc tận căn trước một thực tại chưa bao giờ được nghe biết và hoàn toàn mới lạ, làm cho linh hồn như bị treo lơ lửng đến nỗi “như mất hết cảm giác” và như ngừng thở đến nỗi linh hồn để Thiên Chúa hoàn toàn khác biệt và rất gần gũi chộp bắt.

     Cuối cùng, sự ngây ngất nội tâm bất ngờ được biến đổi thành một lực đẩy của tình yêu, thành một cú nhảy vọt nơi linh hồn cảm thấy vượt quá chính mình, thành một chuyển động nội tâm để gặp được Đấng Tình Quân trong sự thông hiệp là cùng đích của tạo thành và của ý định cứu độ của Thiên Chúa. Tác giả kết luận “Đó là những nhân đức cấu thành ơn chiêm niệm – và một cách đặc biệt hơn là sự kinh ngạc và tình yêu. Vì, qua sự kinh ngạc và khâm phục, tâm trí ra khỏi chính mình, và bằng tình yêu, nó tiến sát lại.” (§4)

     Chúng ta sẽ nhận ra rằng qua cách trình bày trên, chiêm niệm không phải là một điều gì dễ dàng, nhưng dầu sao vẫn nằm trong tầm tay chúng ta, và nhất là như một tiến trình bình thường và gần gũi trong lộ trình của người kitô hữu. Tiến trình đó là gì? nếu không phải là đức tin bắt đầu làm cho rung động? Nó được giới thiệu như phương thức hữu hiệu – và cả tình cảm! – yêu mến Thiên Chúa, và, đồng thời, như là nguồn của tình yêu tha nhân. Nó hệ tại việc biện phân những hành động của Thiên Chúa, và một cách đặc biệt hơn những biến cố của đời sống Chúa Kitô, như biết bao mầu nhiệm được trao ban cho chúng ta và mở cho chúng ta một thực tại của cõi vĩnh hằng. Về phía chúng ta, đức tin là một cách thế để chúng đụng chạm và chiếm hữu chúng ta, để cảm thấy tiếng mời gọi mà chúng gởi đến khả năng khâm phục và nhiệt tâm yêu mến của chúng ta.

     Còn về cường độ của kinh nghiệm này, phải chuẩn bị để đón nhận nó như là một ân huệ. Không phải để cảm thấy những thứ lớn lao, nhưng để được vui thoả trong Chúa và để làm vui lòng Ngài[15]. Những khía cạnh của mầu nhiệm Chúa Kitô có thể làm rung động trong chúng ta cũng là những điều hết sức đơn giản : đó là một cái nhìn bị che dấu đối với những người khôn ngoan và tài giỏi, nhưng được mạc khải cho những người bé mọn (x. Mt 11,25).

     Điều mà những người đơn hèn trong tình trạng được Chúa chiếm hữu, thường là những điều làm rung cảm nhiều và tạo nên lòng khâm phục và tình yêu […] Lạy Chúa Giêsu tốt lành, tất cả những gì có trong Chuá, đều có một mãnh lực nào đó lôi cuốn và kích thích những tình cảm của những ai chú tâm đến chúng (§5)[16].

     Như vậy, tác giả nghĩ một cách đặc biệt đến thập giá, nó tạo thành cực điểm của sự khiêm hạ của Chúa, nhưng đồng thời là sự chiến thắng của vinh quang Ngài. “Những thực tại đơn hèn nhất là dành cho mọi người. Vậy mà sự khiêm hạ nào lớn nhất  nếu không phải bị treo trên thập giá?”

     Không có chút gì là ưu tuyển trong tất cả những điều trên, không gì làm nản lòng, nhưng trái lại. Chính vì thế mà Viên Phụ Gilbert de Hoyland không loại trừ những kinh nghiệm thần bí mãnh liệt và khôn tả, cũng không thu hẹp chiêm niệm vào những kinh nghiệm đó.

 

III. Viện Phụ Jean de Ford

     Dù nhìn dưới nhãn quan khác và khởi từ một điểm phát xuất khác, tác giả này đi cùng hướng với thánh Bernard và viện phụ Gilbert. Vào cuối Bài Giảng 42 về sách Diễm Ca, viện phụ Jean mở ra một câu hỏi mới : Đấng Tình Quân rút lui nơi nào khi Chàng biến mất hay khi Chàng Ra đi ? Viện phụ sẽ trả lời trong Bài Giảng 43. Thực vậy trung tâm vấn đề được chuyển dời một cách nhẹ nhàng và bài giảng được quảng diễn một cách hết sức cá nhân : tìm kiếm Đấng Tình Quân ở đâu khi sự chiêm niệm cho biết rằng Ngài đã biến mất khỏi kinh nghiệm? Dưới nhãn quan của tác giả, sự chiêm niệm này mang những hình thức rất khác nhau : từ những hình thức đơn giản nhất đến những hình thức cao siêu nhất. Và dầu vậy mỗi lần đều là kinh nghiệm thật sự về việc Chúa đi qua.

           Kinh nghiệm chiêm niệm về sự ăn năn

     Viện phụ Jean de Ford khởi đầu bằng việc chú ý đến tiến trình ở khởi điểm của hành trình thiêng liêng, như là việc Tình Quân đi qua và như kinh nghiệm chiêm niệm, và phải luôn liên lỉ bắt đầu lại; khởi điểm đó là lòng kính sơ, luôn hướng về tình yêu, dẫn đưa đến lòng ăn năn. “Xảy ra là, để viếng thăm tôi, Chúa đã nghiêng trời và ngự đến  (tv 17,20).” (§2) Để chuẩn bị “ngày thẩm phán” (Tv 9,8), Ngài ra lệnh cho tôi đang hoàn toàn run sợ, phải trình diện trước toà án của Ngài.” Đó là việc duyệt lại đời sống, kinh nghiệm kiểm điểm lương tâm, để nghiêm túc và nghiêm khắc kiểm tra đời sống, để xem vì bất cẩn đã vất bỏ những “hành động, tư tưởng, tình cảm, ý hướng”. “Qua hành động của Ngài, Chúa loại trừ tất cả những nơi cao mà tôi đã điên khùng đưa mình lên, biến thành làn khói hư ảo trong đó tôi khóc lóc, trái tim bị đâu thâu”, làn khói hư ảo cũng biểu trưng lòng kiêu ngạo và điều làm đôi mắt đẫm lệ! Một sự xét xử kinh khủng, tên bay tới tấp, quăng xuống đất tất cả những gì mà sự dữ đã dựng lên, để khuất phục và lật đổ tất cả những gì là cao ngạo và sơ cứng.

     Phản ứng của lương tâm ra sao? Không để giam mình trong mặc cảm tội lỗi, nhưng được kêu gọi “đến với thánh giá trung gian, đến máu cứu độ, đến giá của cái chết làm sống động”, để Chúa không còn xét xử tôi tớ Chúa (x. Tv 142,2). “Tôi bắt đầu hít thở trong niềm hy vọng được thứ tha, tôi cảm thấy sự xét xử biến thành lòng thương xót đối với tôi.” (§3) Vâng, đó là ngai toà nơi Con vua Đavít xét xử những người nghèo trong đức chính trực của Ngài (x. Is 11,4). Bản án được thiết lập “ít chống lại họ, nhưng khoan hồng cho họ”. Chính vì thế, từ ngai toà này, trong giai đoạn thứ nhất, linh hồn được viếng thăm, và thường xuyên, nò cần đến điều đó (§4). Nhưng nó bất chợt thấy mình trong tình trạng uể oải, nguội lạnh, không nhiệt tâm, nên nó than thở việc Chúa chậm trễ viếng thăm : Ngài đã đi nơi nao? Và đây linh hồn sống trong sợ hãi: nó đã làm Ngài buồn bực hay sao ? Tìm thấy Ngài ở nơi nào đây, phải đi đâu để tìm Ngài? Không phải rõ ràng là tại nơi toà án này, từ nơi đó nó nhớ lại đã dược viếng thăm sao?

     Chính nơi đó Ngài nối lại mối liên hệ với những tư tưởng phân tán của tôi, và chính cũng từ đó, trong một nỗi ước ao lớn lao, tôi chờ đợi Ngài nhìn tôi, cho tới khi tất cả con người cũ (x. Rm 6,6) trong tôi tan biến đi, trong một nỗi sợ hãi thường xuyên và trở thành làn khói hư ảo và cái cũ kỹ của tôi (§4)

 

           Chiêm niệm là việc suy niệm Kinh Thánh

     Sau lòng ăn năn, được coi như việc Chúa Kitô đi qua trong đời sống thiêng liêng, và đây là một kinh nghiệm khác, cũng hoàn toàn giản đơn và trong tầm tay của mọi người, và dầu vậy là một kinh nghiệm thần bí : đọc và suy niệm Kinh Thánh. “Xảy ra là Thiên Chúa đến mang cho tôi những tin rất ư là hạnh phúc mà tôi chẳng dám chờ đợi và ước ao” : nghĩa là Tin Mừng nói với chúng ta về mầu nhiệm nhập thể cho chúng ta được vui mừng, “cũng như tình yêu được biểu lộ trong mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài”, và, xuyên qua những tin vui này, Ngài đem đến cho tôi “lòng nhiệt thành đưới nhiều hình thức mà sự kiêm hạ và hiền hậu của Ngài đã tạo thành” (§5). “Nhai” và “nhai lại” điều đó, để tìm thấy hương vị khôn tả, trong thực tế là chính là việc được nghe mời tới dự tiệc cưới (x. Mt 22,9).

     Dầu vậy, sự suy niệm, như một kinh nghiệm chiêm niệm, không phải đương nhiên và luôn luôn đi đến kinh nghiệm của tiệc cưới : tiệc cưới diễn tả một kinh nghiệm mạnh và sâu xa về mối tình kết hiệp, kinh nghiệm “rất hiếm và đồng thời cũng rất ngắn ngủi cho tôi” (§6). Linh hồn khi ấy ở trong “mái nhà tranh” quen thuộc, vui lòng với những miếng bánh nhỏ rơi từ bàn tiệc (x. Mt 15,27). Phải chăng là thất bại trong việc tìm kiếm? Không phải, nếu ơn mời gọi dự tiệc cưới bị rút khỏi linh hồn, thì nó biết nơi Chúa đã ra đi : trong phòng tân hôn. “Chính nơi đó Ngài hướng đi, và từ nơi đó Ngài nhắc tôi phải chú tâm và gởi trọn tình cảm.” Thật vậy, chính nơi đó, khi đọc với niềm hy vọng, tôi phải làm tất cả để đến gặp gỡ Ngài.

 

          Cầu nguyện như sự kiếm tìm bình thường chiêm niệm

     Chúng ta đi đến kinh nghiệm thứ ba : đó là kinh nghiệm của cầu nguyện mà việc suy niệm dẫn đưa tới (§7). Chính từ Giêrusalem thiên quốc mà Chúa Giêsu đến nói về Vương Quốc và ban cho linh hồn dòng nước mát trong. Nhưng sự mát dịu cũng có giới hạn và khêu lên cơn khát còn hơn là làm giảm đi, như lời trong sách Huấn Ca được các tác giả của chúng ta thường xuyên trích dẫn: “Những ai uống sẽ còn khát” (Hc 24,29). Kinh nghiệm dồn nén nhưng tích cực, vì mở ra cho một hi vọng vô biên. Người ta ý thức rằng: “Chúa Giêsu không thể chậm trễ đến bên tôi, vì tôi là xác thịt (x.St 6,3)”. “Xác thịt” là thụ tạo ở trần gian này mà một chút kinh nghiệm giản đơn nhất về sự hiện diện của Thiên Chúa cũng vượt quá và không thể nắm giữ được.

     Như vậy, Ngài lìa xa linh hồn, để laị cho nó cái tình cảm bị hao mòn  một cách vô ích trong việc tìm kiếm Ngài. Phải làm gì đây? Thất vọng ư? Không, nhưng là nhớ lại con đường mà Ngài đã đến và linh hồn đã gặp gỡ Ngài: “nhai lại” cái kinh nghiệm quá khứ, tìm lại ước muốn của mình nhắc nhớ lại rằng con đường này là “than thở và cầu nguyện, qua đó, Chúa Thánh Thần khấng đến giúp đỡ sự yếu hèn của nó”, vì cầu nguyện và than thở đã là những ân huệ của Chúa Kitô, những dấu hiệu của việc Ngài đi qua trong tâm hồn. Ngoài ra, đó còn là tin cậy vào sự chuyển cầu của các thiên thần và các thánh trong Giêrusalem thiên quốc, vì chính từ đó- linh hồn cũng có thể nói như vậy – tính từ đó chờ đợi, kiên vững dựa trên niềm hi vọng vào lời hứa của Ngài: chính từ đó mà Ngài đến nâng đỡ (§8).

     Ở đời này, kinh nghiệm chiêm niệm chỉ có thể thất bại, ít ra có vẻ như thế. Nhưng dầu vậy, đó là dấu chỉ của sự trung thực. Và ân sủng của kinh nghiệm này lệ thuộc không phải để linh hồn qui hướng vào chính mình, mà lôi kéo nó vượt trên chính mình với ước mong tìm lại một cách khác điều nó mà nó chỉ chợt thấy.

 

          Ơn thăm viếng của Tình Quân một cách đặc biệt hơn

     Vào một ngày đó, Ngôi Lời sẽ thăm viếng linh hồn với một cường độ vượt trên kinh nghiệm thiêng liêng bình thường mà chúng ta đang đề cập nơi đây, cường độ mà chính thánh Phaolo đã cảm nghiệm khi Ngài gợi lên vào cuối thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô (12,4):

     Đó là một tiếng thì thầm êm dịu, theo sự phong phú của ân sủng, về tình yêu mà Chúa Cha đã yêu thương thế gian đến nỗi ban con của mình (x.Ga 3,16), đó là sự mạc khải những thực tại khôn tả mà sự êm dịu thầm kín của chúng không cho phép nói lên (§9).

     Ngôi Lời, trong trường hợp này như thể “rời khỏi cung lòng Chúa Cha để loan báo và đem đến điều tìm thấy  trong cung lòng đó.” Nhưng phúc lành này không thể kéo dài: Ngôi Lời đã không bằng lòng ở lại, và linh hồn không có khả năng giữ Ngài và mời Ngài ở lại. Chịu thua điều mà nó cảm thấy trước tiên như là “một thất bại, nó trở lại với điều nó là: cát bụi”.

     Thất bại ư? Dầu sao cũng không kéo dài. Vì có lời  tiên tri Elia hứa với Elisê mà thánh Bernard đã sử dụng một cách đặc biệt khi nói về sự hoán cải của ước muốn: “Nếu con thấy thầy đang khi thầy được cất đi…” (2V 2,10)[17]. Thật vậy, linh hồn-hiền thê không thể giữ Người-Lòng-Mình-Thương-Mến, nhưng ít ra nó hướng nhìn theo Ngài, bằng ước muốn, để không “làm hư tổn phúc lành tích luỹ, cũng không thấy mình bị mất chiếc áo khoác rất đáng ước mong (x.2V 2,13) là những hoa trái đầu mùa của Chúa Thánh Thần (x.Rm 8,23)”.

     Dõi mắt nhìn Ngài ư? Còn hơn thế nữa: “qua việc cảm tạ tri ân mà tôi có khả năng, hộ tống khi Ngài ra đi, đến nơi mà từ nơi đó Ngài đã đến với tôi”- là cung lòng Chúa Cha – và, trong mức độ lãnh nhận, “đưa Ngài trở về với Chúa Cha”. Đó là cách thức mà sự hoan lạc trước vẻ huy hoàng tráng lệ của Ngôi Lời và niềm vui được biết Ngài viếng thăm trong giây lát, có thể mang lại ý nghĩa cho sự hối tiếc mà linh hồn cảm thấy về việc Ngài ra đi.

 

          Nơi cư trú của Ngôi Lời: linh hồn và cung lòng Chúa Cha

     Cuối cùng, xuyên qua tất cả những cuộc viếng thăm khác nhau có một cái gì bền vững hơn được thiết lập trong linh hồn: kinh ngạc và bỡ ngỡ được viếng thăm từ trời cao như thế, vì linh hồn như là “con bọ thấp hèn trên đống phẩn thổ”(§10). Dần dần nó học biết Đấng Tình Quân từ đâu đến và từ đâu Ngài trở lại; nó không còn có thể nói như ông Nicôđêmô là không biết những sự đó (x.Ga 3,9-10). Nó đã học “ tìm kiếm trong chính mình và tìm thấy một cách hữu hiệu Chúa Thánh Thần – hay Chúa Giêsu –  từ đâu đến và đi đâu” (§11).

     Đó là chủ đề “nơi cư trú, mà đối với tác giả, diễn tả một cách tích cực nhất mục đích của những cuộc viếng thăm của Ngôi Lời (cư trú trong linh hồn) và ý nghĩa của những cuộc viếng thăm chớp nhoáng: nếu Ngôi Lời đi trước linh hồn chính là để chuẩn bị một nơi trong nhà của Chúa Cha.

     Như vậy, linh hồn ít bị hạn chế trong việc sống đắp đổi giữa hoan lạc và thất vọng, nhưng được kêu gọi phải tỉnh thức: được mời thoát ly khỏi mọi lo toan để chỉ chú tâm vào sự an nhàn cần mẫn”. Linh hồn sẽ tìm thấy hoa trái trong những cuộc viếng thăm của Ngôi Lời cũng như trong việc Ngài ra đi: hạnh phúc thay cho linh hồn nếu Ngài đến gặp thấy nó đang tỉnh thức (x.Lc 12,37). Và cũng hạnh phúc thay nếu linh hồn ý thức việc Ngài ra đi để theo Ngài bằng ước muốn và hộ tống Ngài bằng tri ân cảm tạ. Chính vì vậy, Ngài kêu gọi linh hồn tìm kiếm Ngài nơi Ngài đã đến và hướng về đó.

     Không đặt tất cả kinh nghiệm này trên cùng một bình diện, cũng không coi chúng có giá trị như nhau, viện phụ Jean de Ford, khi gợi lên chuỗi liên kết từ thống hối đến suy niệm rồi đến cầu nguyện và cuối cùng đến một sự ngây ngất nào đó, coi tất cả chúng như là việc Chúa đi qua. Linh hồn ít nhiều thấy nơi đó một kinh nghiệm chiêm niệm dù rằng ngắn ngủi. Dù rằng kinh nghiệm chóng qua, linh hồn không quá ngạc nhiên, cũng chẳng quá ưu phiền, vì nó biết Chúa Kitô chờ đợi ở đâu và phải tìm kiếm Ngài nơi nào.

***

     Giáo huấn của ba Thánh Phụ Xitô không chỉ làm chúng ta bằng lòng về vấn đề chiêm niệm. Không, còn hơn thế nữa: chờ đợi phải lớn lao và ước muốn phải vô biên. Nhưng những hình thức giản đơn nhất của việc gặp gỡ của Chúa và tầm mức chiêm niệm cần phải được làm tăng thêm giá trị, cũng như biết bao nhiêu ân huệ mà chúng ta không tự nhiên nghĩ đến, cũng như biết bao việc can đảm tiến liên – như thánh tông đồ đã nói tiếp theo thánh vịnh (Tv 83,6) – từ đỉnh cao này đến đỉnh cao khác, từ vinh quang này đến vinh quang khác (2Cr 3,18), từ những điều tầm thường nhất đến những điều cao siêu nhất.

 


 

[1] Xem “ Les passages du Seigneur dans la prière contemplative » (Chúa đi qua trong cầu nguyện chiêm niệm ), Collectanea Cisterciensia, 62 (2000), trang 307-323

[2] Bài giảng về lễ Thăng Thiên, s. 3, 2.

[3] Các Bài Giảng khác, S. 24, 2.

[4] Về ân sủng và tự do tự quyết, 12 và 49.

[5] Sđd, 49.

[6] Bài Giảng về Diễm Ca, S. 24, 5, tham chiếu 2Cr 3, 18.

[7] sđd, S. 37, 3.

[8] sđd, S. 31, 6.

[9] sđd, S. 31, 8-10

[10] sđd, S. 9, 2.

[11] sđd, S. 16, 2.

[12] sđd, S. 16, 2.

[13] Cần nhắc lại, đối với các cha thánh Xitô, intellectus  và affectus – trí năng (trở thành đức tin) và ước muốn hay sự rung động tình cảm (trở thành nhiệt tâm và tình yêu) – mang hai chiều kích của sự nội tâm, của “linh hồn” chúng ta.

[14] “Kiệu vàng” diễn tả long sàn của vua Salomon (Dc 3,9-10). Đối với Gilbert, nó biểu trưng cho sự chiêm niệm, theo sau rừng Liban và cột bằng bạc mà chúng biểu thị sự thanh luyệt trái tim và sự suy niệm lời Chúa (Về sách Diễm Ca, S. 17).

[15] Về sách Diễm Ca, S. 18,2 : “Ngài vui lòng biết bao, Đấng không thể làm vui lòng cho đủ. Và, về phần bạn, chỉ có điều làm đẹp lòng Ngài là nếu chính Ngài đã làm bạn vui lòng.”

[16] Tư tưởng này đã được đề cập đến trong Bài Giảng  17,5.

[17] Thánh Benado, Bài giảng về lễ Thăng Thiên, S. 3, 5.

 

 

 

 

 

 

CHA BIỂN ĐỨC THUẬN

VÀ ĐỜI SỐNG ĐAN TU CHIÊM NIỆM

 Duyên Thập Tự

 

       Viết về một con người đã khó, vì mỗi người là một huyền nhiệm, viết về tương giao của con người với Thiên Chúa lại càng khó hơn, vì phải đề cập đồng thời đến hai mầu nhiệm : mầu nhiệm của con người và mầu nhiệm Thiên Chúa. Thêm vào đó, ngôn ngữ nhân loại, dù có tinh tế đến đâu, cũng không thể lột tả tất cả chiều dài, chiều rộng và sự cao siêu của kinh nghiệm thần bí.

       Dầu vậy, đã có biết bao nhiêu sách viết về tiểu sử của các nhân vật cũng như rất nhiều sách đề cập đến đời sống thiêng liêng hay thần bí. Điều đó minh chứng rằng ngôn ngữ cũng có khả năng chuyển tải một phần nào đó nội dung và thực tại được bàn đến. Để có thể đi sâu vào chính thực tại, cần thiết phải vượt qua những giai đoạn : vượt qua từ ngữ để bắt ý tưởng, vượt qua ý tưởng để bắt được thực tại.
       Xác tín sự cần thiết phải đề cập đến Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận trong mối tương giao với đời sống chiêm niệm – vì đó là nền tảng của chính đời sống đan tu mà ngài đã thiết lập tại Việt Nam – nhưng ý thức giới hạn của việc hiểu thấu chiều sâu tâm linh của ngài, tôi cảm thấy một niềm vui dạt dào được chia sẻ với Hội Dòng một số khám phá về cha Tổ Phụ của chúng ta và đồng thời một sự e ngại rơi vào chủ quan. Chính vì thế, trong giới hạn bài viết này, tôi sẽ dựa vào chính những gì cha Biển Đức Thuận đã viết, đã nói, đã làm, để qua đó, chúng ta dần dần khám phá ra tâm hồn của ngài, một tâm hồn tràn đầy Thiên Chúa Tình Yêu.
Chúng ta sẽ theo dõi tiến trình tâm linh của ngài : khởi từ lòng khát khao sống đời chiêm niệm, rồi định hướng cho đời đan tu vừa được thiết lập, trong đó niềm hạnh phúc dạt dào được cảm nghiệm một cách sâu xa, và dẫn đến hai chiều kích cô tịch và hiệp thông liên kết với nhau một cách tuyệt vời.

              1. LÒNG KHAO KHÁT ĐỜI CHIÊM NIỆM

       Những ai đã một lần đọc cuốn “Hạnh tích cha Benoit (R.P. Henri Denis Cố Thuận)” M. Emmanuel Triệu Chu Kim Tuyến, Hạnh tích cha Benoit, nxb Hồng Lam, Sài-Gòn, 1968., có thể hiểu được phần nào lòng khao khát sống đời đan tu chiêm niệm nơi vị thừa sai trẻ tuổi này. Thật vậy, trong những năm tháng thi hành sứ vụ thừa sai – giáo sư tại Tiểu Chủng Viện Anninh và cha xứ tại họ đạo Nước Mặn (Thừa Lưu)- cha Denis Thuận khám phá nơi mình một nỗi khát khao sống một đời chiêm niệm trong cô tịch lặng lẽ.
       Để có thể hiểu được nỗi lòng của ngài, chúng ta hãy đọc lại những gì ngài viết cho Đức Cha Allys (Lý). Không ai biết chính xác lý tưởng sống đời đan tu đã manh nha trong tâm trí cha Denis Thuận Chúng tôi sử dụng danh xưng “Cha Denis Thuận” trong thời gian Ngài làm thừa sai, danh xưng “cha Biển Đức Thuận” khi Ngài sống đời đan tu. lúc nào. Linh mục thừa sai Durand, trong bài viết La Trappe de Notre Dame dAnnam đăng trong tập san Les Missions Catholiques đã viết như sau : “Vào năm 1909, cha Denis, thừa sai ở Huế thuộc Trung kỳ, đã xin Đức cha Allys được phép qui tụ một vài thanh niên để sống với họ theo tu luật Thánh Biển Đức, vì ngài nói : “Tại Đông Dương đã có nhiều tu viện cho phái nữ nhưng không có một đan viện nào cho phái nam”.
       Theo như bài viết trên, ý tưởng sống đời đan tu nơi cha Denis Thuận bắt đầu vào năm 1909, năm thứ hai trong thời gian 5 năm tại xứ Nước Mặn. Điều này cũng được chính ngài xác định trong lá thư gởi cho Đức cha Allys để báo cáo về trường hợp một linh mục miền Bắc muốn gia nhập Phước Sơn nhưng bị giám mục từ chối “Kính thưa Đức Cha,
       Một linh mục miền Bắc đã xin giám đốc và giám mục của mình được đến ở nơi đây. Ngài đã gởi cho con câu trả lời của hai đấng. Cha giám đốc : “Chuyện ảo tưởng của trí tưởng tượng”. Giám mục : “Tôi không thể từ chối cha đến Phước Sơn, nếu thật sự cha muốn. Nhưng tôi phải tuân theo Giáo Luật. Nhưng cha hãy ở lại đây nơi cha làm được nhiều việc tốt đẹp.” … Con đã trả lời : “Nếu ước muốn sống đời tu trì kéo dài, thì một ngày kia vị giám đốc của cha sẽ nhìn thấy trong đó tác động của Chúa Thánh Thần. Còn những ý định thoáng qua do trí tưởng tượng thôi thúc thì không kéo dài. Chắc chắc cha không phải chờ đợi 9 năm như con…”.
       Quay trở lại những năm tháng chờ đợi, chúng ta sẽ khám phá lòng khao khát sống đời chiêm niệm nơi cha Denis Thuận, xuyên qua những kiểu nói, những hình ảnh mà ngài sử dụng trong các lá thư gởi Đức cha Allys.
       Trong lá thứ viết cho Đức cha Allys, Giám quản Tông Toà Bắc Đàng Trong (Huế), đề ngày 31 tháng 1 năm 1912, cha Denis Thuận biểu lộ lần đầu tiên ước muốn sống đời đan tu chiêm niệm :
    “… Năm nay đúng 800 năm thánh Benado nhập dòng (năm 1112), con có thể theo chân ngài và bắt chước ngài nội trong năm 1912 này không? Trước đây con đã muốn trở thành đan sĩ ở Hồng Kông. Nhưng người ta cho hay Hội Dòng Nazareth đang thời sa sút. Con cũng đã ước ao nhập dòng Trappe bên Nhật, nhưng ở đấy chẳng mấy ai bền đỗ, đàng khác, muốn ở đấy thì phải thôi làm giáo sĩ thừa sai.”
       Lá thư trên cha đã viết khi còn là cha xứ tại Nước Mặn (còn gọi là Thừa Lưu), vài tháng trước khi ngài trở về lại Tiểu chủng viện An Ninh. Trong suốt 5 năm tại đây nhiều lần ngài viết thư cho đức Giám Mục Allys để xin phép được ra đi sống đời đan tu. Đức cha Allys từ chối lời xin của cha Denis Thuận và khuyên ngài hãy ký thác dự tính cho sự quan phòng của Chúa. Cha Denis Thuận, một đàng cảm thấy ước ao nồng cháy của mình thôi thúc, một đàng ngài tuân phục quyết định của bề trên như ngài tâm sự với Đức cha trong thư đề ngày 31 tháng 3 năm 1913 :
    “Lý do còn mạnh hơn là Chúa cũng không muốn. Phần con, con cũng vậy. Trong khi đợi chờ các đan sĩ dòng Trappe, các tu sĩ bản địa, các thầy dòng Chartreux, hay “bất cứ tu sĩ nào”, con an bình trong căn phòng nhỏ tại An Ninh”.
       Ngài an bình trong công việc của một giáo sư chủng viện; dầu vậy, tiếng gọi đời đan tu vẫn không ngừng vang dội trong trái tim của ngài với niềm xác tín rằng những người Việt-Nam mà ngài đã từng gặp trong suốt những năm tháng qua, có khả năng để sống đời đan tu chiêm niệm. Chính vì thế, ngài đã chuẩn bị đời sống đó bằng nhiều cách : rèn luyện bản thân, tập những nhân đức và thái cử sẽ thích ứng với đời đan tu sau này. Về phương diện kiến thức đời đan tu, ngài nghiên cứu Tu Luật thánh Biển Đức và Hiến Pháp dòng Trappe. Ngài thường xuyên liên lạc với cha Viện Trưởng dòng Trappe tại Hadokaté bên Nhật Bản để nhận những thông tin cũng như những gì cần thiết liên quan đến đời sống tương lai, như ngài báo tin cho đức cha Allys :
    “Con vừa nhận được từ Nhật Bản Sách Thói Lệ, y phục. Con cũng đã nhận được Bản Hiến Pháp” Thư gởi Đức cha Allys, ngày 10 thánh 7 năm 1917..
Lòng khát khao, nỗi ước muốn ngày càng mãnh liệt như dày vò tâm hồn của vị thừa sai Denis Thuận. Ngài vẫn thường xuyên viết thư cho Đức cha để nài nỉ được phép ra đi sống đời chiêm niệm.
Trong những lá thư viết vào năm 1917, cha Denis Thuận dùng những hình ảnh khác nhau để diễn tả tâm trạng và ước muốn của mình. Ngài viết :
    “Kính thưa Đức cha,
Khi người cha đuổi đứa con của mình ra khỏi cửa, người con chỉ còn một việc phải làm, là lẻn vào nhà bằng một cửa khác. Từ ngày trở về nơi đây, con hằng nghĩ tới mảnh đất đẹp nơi con có thể định cư, nếu Đức cha muốn như vậy”.
    “Đáng lẽ con đã phải nói với Đức cha về các đan sĩ của con Những đan sĩ còn trong tưởng tượng, trong dự tính của cha Denis Thuận.. Con đã trách mình là đã không làm, và hôm nay con dám viết cho Đức cha những dòng này để nói với Đức cha rằng con đã luôn nghĩ đến điều đó và hơn bao giờ hết. Có thể con sẽ chẳng làm được điều gì nghiêm túc trước khi chiến tranh kết thúc, nhưng con có thể định cư tại Gia Bình mà vẫn lo cho các kitô hữu, con sẽ chuẩn bị một tổ cho các đan sĩ trẻ của chúng con và chính con cũng tập sống đời sống mới này. Xin lỗi Đức cha, con đã thường xuyên nhấn mạnh với Đức cha đều đó, từ tám năm qua qua nhiều lá thư và lời cầu nguyện ! Con tưởng nhớ tới con người bạo dạn trong Tin Mừng, anh đang cần bánh, con cũng có cũng sự bạo dạn đó và con dám hy vọng đạt được cùng một kết quả”.
       Chín năm đợi chờ trong kiên nhẫn và hy vọng càng làm tăng thêm nơi cha Denis Thuận lòng khao khát đời chiêm niệm. Ngài thấy mình như một phụ nữ sắp sinh ra một người con : nỗi đau còn đó, nhưng sẽ biến thành niềm vui.

              2. ĐỊNH HƯỚNG ĐỜI ĐAN TU CHIÊM NIỆM

       Sự kiện cha Denis Thuận phải đợi chờ 9 năm trước khi được phép sống đời đan tu cho chúng ta thoáng thấy những khó khăn ngài phải vượt qua. Ý tưởng thành lập một dòng đan tu trong vùng đất Truyền Giáo không có chỗ đứng trong tâm trí của những vị sáng lập của Hội Thừa Sai, và những nhà truyền giáo cũng không nghĩ tới việc đó. Trong thư đề ngày 18 tháng 10 năm 1921 gởi cho Đức Cha Allys, cha Biển Đức Thuận diễn dịch một cách rõ ràng ý nghĩ của một số vị đồng môn trong Hội Thừa Sai:
       “Kính thưa Đức Cha, Cha Delmas không một chút ủng hộ công cuộc của chúng con. Cha Robert thì đánh giá là một thứ xa xỉ vô ích trong miền Truyền Giáo. Còn Bề Trên cả của chúng ta nghĩ sao?..”
Cha Biển Đức Thuận, trong thời gian đầu của việc lập dòng, đã không thể thuyết phục được những người có lập trường khác, vì, ngoài sự kiện có một sự hoài nghi trong tâm trí họ, đời sống đan tu dưới nhãn quan họ như không mang lại gì cho việc hoán cải các tâm hồn và lương dân trở lại. Nói cách khác, đời sống đan tu được họ nhìn dưới khía cạnh của một lợi ích ngắn hạn. Nhưng cha Biển Đức Thuận, một khi đã nhìn rõ con đường phải khai mở, ngài ra tay hành động và đưa đến thành công một con đường mới mà không ai nghĩ tới.
       Con đường đan tu, nhưng đâu là những định hướng cơ bản? Đâu là những nét phác thảo quan trọng làm nên căn tính cho một cộng đoàn đan tu mới khai sinh?
       Chúng tôi không có ý trình bày tất cả những yếu tố căn bản của đời đan tu mà cha Biển Đức Thuận thiết định, vì như thế sẽ vượt qua khuôn khổ bài viết. Xuyên qua những gì Cha Biển Đức Thuận viết, chúng ta sẽ cố gắng khám phá những gì làm căn bản cho đời đan tu ngài xây dựng.
Trong nhiều thư, cha Biển Đức Thuận sử dụng từ “ước mơ” (rêve), và một giấc mơ lớn của ngài là thiết lập tại Việt-Nam (và cả Đông Dương) những đan viện, để qua ảnh hưởng của các đan sĩ, Tin Mừng của Chúa được nhiều người biết đến và gia nhập Giáo Hội, như gương mẫu của các đan sĩ ngày xưa đã Tin Mừng hoá Au Châu : thánh Augustin thành Cantobery, thánh Bertin, thánh Ouen, thánh Boniface, thánh Auschaire .v.v.
       Trong thời gian quản nhiệm giáo xứ Nước mặn, ngài đã mơ ước có những “đan-sĩ-tông-đồ” bằng lời cầu nguyện và cả bằng lời nói nữa.
Trong thời gian đầu thành lập Phước Sơn (hay còn gọi là Dòng Đức Mẹ Việt-Nam), ngài vẫn còn nghĩ đến việc truyền giáo bằng việc giảng dạy mà ngài gọi đó là một cám dỗ không cưỡng lại được :
       “Kính thưa Đức Cha,
       Con đang nói đến việc tông đồ ư? Thật thế, đã lâu rồi con thương xót những con người khốn khổ. Những người Thượng (Cà Lơ) ở gần chúng con, ở nơi chúng con, họ nói tiếng Việt-Nam, nói tiếng thổ ngữ, không có một tôn giáo nào và đến bây giờ chúng con không chăm lo cho họ được. Theo con nghĩ, khi nào có mười hay mười hai linh mục tại Phước Sơn, thì chúng con không thể cưỡng lại cám dỗ làm cho họ theo đạo. Nhưng chuyện đó mai sau ! Mai sau ! Dầu vậy, cũng đã được nghĩ tới rồi : nếu chúng con là đan sĩ Dòng Trappe, chúng con chỉ có việc tông đồ bằng lời cầu nguyện và khổ chế”.
Một năm sau, nhân dịp nhận được thư của cha Rondel, câu hỏi tông đồ truyền giáo được đề cập đến trong thư cha Biển Đức Thuận nói lên ý tưởng của mình :
       “Kính thưa Đức cha,
Con đã nhận được một lá thư dài của cha Rondel, vị đại ân nhân của chúng con. Ngài đã gặp cha Viện Trưởng Nhật Bản. Họ đã nói chuyện về Phước Sơn…
       Đây là những lý do ngài nói đến :
1. Anh hưởng gương lành của các tu sĩ trên hàng giáo sĩ – đặc biệt là hàng giáo sĩ bản xứ – ảnh hưởng của lời cầu nguyện, ảnh hưởng của nhà tĩnh tâm, nơi an dưỡng thiêng liêng, của người giảng tĩnh tâm.
2. Có khả năng tu sĩ làm linh hướng cho các nữ tu, đặc biệt cho các nữ tu dòng Carmel.
3. Chỗ dựa cho các trung tâm truyền giáo. Cha Viện Trưởng đan viện bên Nhật Bản nhận định rằng những đan sĩ dòng Trappe, sống do sức lao động của mình, xa tránh những thăng trầm của những biến cố nhân loại. Ngài nói thêm : với thời gian, khi chúng tôi có đủ sức, chúng tôi sẽ nghiên cứu tầm ảnh hưởng của các ngài và sự bảo trợ thứ nhất trên các trung tâm truyền giáo.
       Về ba lý do trên, lý do thứ hai ít làm con quan tâm. Con tin thật như vậy; con đã không còn muốn có những mối tương giao với các nữ tu và may là vấn đề này không được đặt ra. Lý do thứ nhất không cần bàn cãi. Nếu chúng con thực sự trở thành như đòi hỏi, chúng con sẽ nhất thiết làm nhiều điều ích lợi. Còn lý do thứ ba, đây là điều con viết trong Hiến Pháp:
       “Theo gương Chúa Cứu Thế, các tu sĩ lao động như những người nghèo. Sống cuộc sống trong cảnh nghèo để đền tội, để toả hương thơm của Chúa Kitô, và để có lhả năng dùng phần dư mà giúp đỡ những người đang hoạt động cho phần rỗi của những người chưa nhận biết Chúa” (“Ad imitationem Salvatori nostri, monachi laborent ut pauperes, vitamque in egestate degant ad expianda peccata, ad spargendum bonum adorem Christi et ut possint ex superfluo adjuvare qui laborant ad salutem infidelium.”, HP1, số 165; HP2, số 270.)
       Dần dần theo thời gian, cha Biển Đức Thuận xác định rằng những đan sĩ Phước Sơn sẽ mãi là những con người hiến dâng trọn cuộc đời cho vinh danh Chúa qua cầu nguyện và khổ chế. Tông đồ bằng lời nói, bằng việc rao giảng, nay đã biến mất. Những hoạt động bên ngoài, ngài thấy không thích hợp với đời đan tu. Điều đó được ngài khẳng định nhiều lần.
Trong thư dài đề ngày 26 tháng 3 năm 1920 gởi cho Đức cha Allys, ngài đề cập một cách rõ ràng “ý hướng” hay định hướng của mình :
       “Kính thưa Đức Cha,
       Con vừa nhận được lá thư của Đức cha và con vội trả lời ngay. Than ôi ! con có thể gặp Đức cha và làm tan biến đi những điều hiểu lầm. Con có lầm chăng khi từ lâu con cảm thấy qua giọng văn của các lá thư Đức cha không hài lòng về con. Lạy Chúa ! Ước gì con phục lạy dưới chân Đức cha để xin lỗi. Thật sự là con không muốn rời bỏ Phước Sơn (không chút nào, không chút nào) dù chỉ một hai ngày. Nhưng nếu Đức cha xét là thuận tiện, thì con sẽ đi Huế để báo cáo những gì con đang thực hiện và mục đích con theo đuổi….
       Tất cả những cộng đoàn tu trì trên thế giới phải theo một trong bốn tu luật : tu luật thánh Basilio, thánh Augustino, thánh Biển Đức và thánh Phanxicô. Con chọn tu luật thánh Biển Đức, vì con tin rằng thích hợp cho chúng con. Dù chúng con là đan sĩ Xitô hay Biển Đức hoặc Camaldule, chúng con luôn tuân giữ tu luật thánh Biển Đức. “Những ý hướng của con” luôn là những ý hướng từ hơn mười năm nay, đó là ở Việt-Nam có những tu sĩ và trước hết là tu sĩ chiêm niệm… Bởi vì những tu sĩ chiêm niệm không muốn đến, hay không thể đến trong lúc này, cho nên con nghĩ là mình phải chuyên tâm vào việc thành lập một đan viện để trao cho những kitô hữu của chúng ta phương tiện trở thành tu sĩ, nếu họ muốn…”
       Sau khi đã nêu rõ ý hướng là thành lập một đan viện cho các tu sĩ sống đời chiêm niệm, cha Biển Đức Thuận cảm thấy cần nói thêm để khẳng định con đường ngài vạch ra. Ngài viết tiếp:
       “Không cần thiết là con phải là tu sĩ, cũng như những người đang sống với con phải là tu sĩ, nhưng cần thiết phải có tu sĩ… Nếu những cha dòng Trappe hay các đan sĩ chiêm niệm khác đến đây, họ chấp nhận chúng con nếu họ muốn và chúng con sẽ tùng phục ý muốn của họ…. Nếu các tu sĩ Au Châu không đến, chúng con sẽ tiếp tục sống theo công thức mà con đã đệ trình lên Đức Cha cách đây chín mười năm : “Tu Luật thánh Biển Đức và sát gần bao nhiêu có thể với Hiến Pháp của dòng Trappe”.
       Sau khi đã nêu lên tất cả những điều căn bản trên, cha Biển Đức Thuận xác định một lần nữa :
       “Thưa Đức cha, đó là “những ý hướng của con”.
       Ý hướng có những đan sĩ chiêm niệm tại Việt-Nam, ngài tin chắc sẽ đạt được :
       “Đối với con, mục tiêu chính yếu yếu sẽ đạt được : tại nước Việt-Nam sẽ có những tu sĩ chiêm niệm, những trường dạy sự hoàn thiện”.
       Phần tiếp của lá thư dài và quan trọng này, cha Biển Đức Thuận cũng trả lời câu hỏi của chính Đức cha : “Sớm hay muộn nếp sống của các con, ngoại trừ qui chế của cộng đoàn, sẽ phải sát gần với điều mà cha Maunier mơ ước…”. Và ngài trả lời vấn nạn đó bằng những lời sau đây :
       “Thưa Đức cha, với tất cả thành thật, đơn sơ, con thú nhận với Đức cha rằng con không biết một chút gì về điều cha Maunier mơ ước. Con cũng đã không bao giơ nghe nói đến… Đối với ngài, ngài muốn thi hành sứ vụ của nhà truyền giáo lưu động, ngoài khuôn khổ. Đó là điều rõ ràng. Nhưng ngài mong ước cho người khác, ngài muốn thành lập một cộng đoàn gồm các nhà truyền giáo thuộc giáo phận không? Ngài đã không bao giờ nói với con điều đó. Nhất là câu Đức cha viết trên mà con muốn gặp Đức cha. Con muốn thưa với Đức cha điều chúng con đang là, điều chúng con đang làm ngày hôm nay và rằng Chúa Thánh Thần đang giúp đỡ những người trẻ này…”
Sau khi đã tỏ bày rõ ràng những ý hướng và tư tưởng của mình về đời đan tu vừa được thiết lập, cha Biển Đức Thuận đóng lại lá thư bằng kết luận sau đây :
       “Trong tất cả vụ việc này, con chỉ muốn vinh danh Chúa nhất. Nhưng con không quên rằng vị đại diện của Chúa, chính là Đức cha. Đức cha hãy nói cho con biết điều Đức cha muốn và con sẽ vui lòng tuân phục. Điều con phải trả giá đắt hơn mọi sự ở trần gian này là không còn là tu sĩ. Con thà mù loà hay phong cùi còn hơn không còn là đan sĩ nữa, Nhưng, dầu vậy xin Đức cha nói một lời và lời đó sẽ được đón nhận.”
       Những lời sau cùng trong lá thư quan trọng định hướng cho đời đan tu thật là mạnh mẽ, vì cha Biển Đức Thuận từ nay đã tìm thấy con đường, một lối sống của mình trong lòng Giáo Hội. Ngài xác tín vào con đường Chúa dẫn ngài đi để chu toàn thánh ý Chúa. Từ đây cuộc sống của ngài khác ngày trước, đoạn tuyệt với những hoạt động của một thừa sai. Từ đây một khúc ngoặc quan trọng có tính quyết định trong đời sống của ngài và của cộng đoàn đan tu ngài thiết lập. Đời đan tu đó dẫn đưa ngài và các môn sinh vào hạnh phúc của chiêm niệm.

 

              3. HẠNH PHÚC DẠT DÀO

       Chúng ta vừa phân tích một số khó khăn mà cha Biển Đức Thuận phải đối diện và giải quyết khi biến ước mơ thành hiện thực và định hướng cho đời đan tu Xitô mà ngài là người đầu tiên gieo hạt giống trên quê hương Việt-Nam. Hạt giống chiêm niệm mà Thiên Chúa gieo vãi qua trung gian cha Biển Đức Thuận đã nẩy mầm và phát triển thành một cây đại thụ. Điều gì đã dẫn đến sự thành công đó? Cha Biển Đức Thuận đã cảm nghiệm gì trong nếp sống hoàn toàn mới này?
Cái nghịch lý lớn trong đời sống cha Biển Đức Thuận là nhiệt tâm truyền giáo và khao khát sống đời cô tịch. Là một thừa sai, ngài đã vận dụng mọi khả năng tinh thần vật chất để nâng cao trình độ hiểu biết của các tiểu chủng sinh, để hoán cải “lương dân”. Nhưng cuối cùng, cũng chính con người đó đã tìm gặp hạnh phúc được ẩn mình trong đan viện xa trần gian.
Chúng ta thấy rằng những điều nghịch lý, những nét như đối nghịch trên, ngài đã tìm được đáp án trong Đấng đã dẫn đưa mình vào cô tịch và thinh lặng. Chính Đấng đó là chìa khoá giải mã tất cả những đối nghịch và tất cả những nghịch lý trên. Thật vậy, cô tịch, cuộc sống ẩn kín chỉ có ý nghĩa khi chúng được tràn đầy bằng một sự Hiện Diện, bằng một mối tương giao. Chúng ta hãy lắng nghe lại một lần nữa những gì cha Biển Đức Thuận nói lên cảm nghiệm cá nhân và những giáo huấn về niềm hạnh phúc dạt dào của đời chiêm niệm.
       Cha Biển Đức Thuận đã nhiều lần nhắc nhở các đan sĩ của mình sự cần thiết phải cám ơn Chúa đã dẫn đưa vào dòng này vì đó là một ơn rất trọng (Di ngôn cha Biển Đức Thuận, Sáng lập Hội Dòng Xitô Thánh Gia Việt-Nam, lưu hành dụng nội bộ, “Cám ơn Chúa đã gọi chúng tôi vào dòng”, tr. 167-168.).
       Qua những lá thư cho bà kế mẫu, cha Biển Đức Thuận diễn tả sự phiền hà mà ngài cảm thấy khi sống ngoài đan viện, cho dù được mọi người kính cẩn tiếp đón. Ngài đặt câu hỏi : nơi nào con cá cảm thấy hạnh phúc nhất, trong lọ mứt hay trong nước? Và kết luận là mình thích sống trong cảnh thanh vắng của đan viện. Chúng ta có thể hiểu được rằng đan viện là môi trường tự nhiên và thích hợp để sống mối tình thân mật với Thiên Chúa và anh em. Đan viện là nơi tốt nhất cho đan sĩ.
Trong một giáo huấn thiêng liêng, để giúp những đan sĩ chuẩn đóan tình trạng tâm hồn mình, cha Biển Đức Thuận miêu tả hai hạng đan sĩ. Một loại đan sĩ cảm thấy sung sướng khi sống trong đan viện, không thể sống ngoài đan viện lâu được, vì không tìm thấy thứ lương thực thích hợp cho đời sống mình. Họ như con chim câu của Noê, được thả ra và trở về tàu. Trái lại, có một hạng đan sĩ khác, được ví như con quạ không trở về tàu, vì đã gặp những thây ma xác chết làm lương thực cho mình. Những đan sĩ loại thứ hai này, vì không nghiệm thấy hạnh phúc đích thực trong đan viện, nên càng ở ngoài “thế gian” càng tốt để tìm những bù trừ.
       Như vậy, vào sống trong đan viện là tìm gặp được hạnh phúc hay “phước” của chính Thiên Chúa. Nhưng đâu là “phước” của Chúa? Cha Biển Đức Thuận trả lời :
       “Phước của Chúa là gì? Là Chúa biết Chúa trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi… Mà kẻ có ơn nghĩa cũng được thông phần sự hiểu biết và tình yêu phước lạc đó” DN, “Về ơn nghĩa”, tr. 127..
Sự định nghĩa về “phước của Chúa” và con người được thông hiệp vào phước lạc đó, nêu lên tầm quan trọng của sự hiểu biết và tình yêu. Nếu tình yêu lưu chuyển trong cung lòng Thiên Chúa Ba Ngôi và được coi như là “phước” riêng của Thiên Chúa, mà tình yêu luôn giả định mối tương giao, sự hiệp thông thân tình, thì chúng ta có thể nói rằng nơi đâu có tình yêu thì nơi đó có hạnh phúc, và ngược lại.
Để trình bày cách đơn sơ cho các đan sĩ của mình hiểu những điều căn bản và cao siêu của sự kết hiệp với Thiên Chúa – điều tạo nên hạnh phúc đích thực – cha Biển Đức Thuận không sử dụng những ý niệm cao siêu, những phạm trù triết học hay thần học, vì như thế sẽ làm họ thất vọng; trái lại ngài dùng những hình ảnh thiết thân với cuộc sống để diễn tả điều chính yếu của những thực tại thiêng liêng.
       Trước hết, ngài nhấn mạnh đến sự cần thiết của sự kết hiệp với Thiên Chúa là mục đích duy nhất của đời đan tu DN, “Sống kết hiệp với Chúa”, tr. 122.. “Việc cao trọng là yêu mến Chúa và làm tôi Người” phải là mục đích và là trung tâm của đan sĩ, của mọi sinh hoạt đan tu. Đan viện chính là nơi thể hiện một cách cụ thể nếp sống “duy nhất cho Thiên Chúa”. Nhưng đâu là chiếc “chìa khoá vạn năng” cho phép đan sĩ bước vào bầu trời của Thiên Chúa : đó là “đời sống thiêng liêng, bề trong” (DN, “Sống kết hiệp với Chúa”, tr. 123).
       Đời sống nội tâm là con đường dẫn tới sự kết hiệp với Thiên Chúa, để được tham dự vào “phước” của Người. Nhưng đời sống thiêng liêng là gì? Đó là “sống với Chúa, với Đức Mẹ và các thánh trên trời; cũng như chúng ta sống trong nhà dòng này, với bề trên và các anh em vậy”. (DN, “Sống kết hiệp với Chúa”, tr. 124.)
       Đời sống thiêng liêng hiểu như vậy là một điều gì cụ thể và trong tầm tay của chúng ta. Thật vậy, cha Biển Đức Thuận, qua các lời giáo huấn, không nói đến những hiện tượng lạ thường như ngất trí. Ngài nói đến đời thiêng liêng được sống trong môi trường đan tu xuyên qua việc suy niệm, cầu nguyện, lectio divina .v.v. Điều đó khẳng định rằng kinh nghiệm thần bí không dành riêng cho một số nhỏ, những tâm hồn ưu tuyển, mà cho mọi người.
       Như vậy, nếu suốt cả cuộc đời, đan sĩ chỉ tìm sống kết hiệp với Chúa, nếu tất cả moị sinh hoạt đan tu để qui hướng về Người, nếu tất cả đời sống nội tâm xoay quanh trục tình yêu Thiên Chúa, thì dù rằng còn sống trong thân phận con người, đan sĩ đã nếm trước những phước lạc thiên đàng. Đan viện là tiền đình của thiên đàng, như là một thiên đàng dưới thế. Vì nơi đâu có sự kết hiệp với Thiên Chuá tình yêu, nơi đó là thiên đàng. Và thiên đàng là gì, nếu không phải là nơi đầy tràn hạnh phúc viên mãn và trường tồn.
       Để khuyến khích các đan sĩ của mình, cha Biển Đức Thuận thường nói đến niềm vui, niềm hạnh phúc của những người sống trong đan viện, trong nhà Chúa. Dù rằng cuộc sống rất kham khổ nhưng vị sáng lập đan viện Xitô đầu tiên tại Việt nam đã cảm nếm sâu xa hạnh phúc khôn tả mà đời sống đan tu trao tặng. Niềm hạnh phúc đó ngài đã trao cho các môn sinh của mình.
Trong tập “Notice sur Notre Dame dAnnam”, cha Biển đức Thuận giới thiệu dòng Phước Sơn qua những điểm chính yếu như mục đích, lối sống và chương trình sinh hoạt hằng ngày. Ngài kết luận :
“Những sinh hoạt này trải dài từ sáng đến tối, và mỗi ngày đều lập lại mà không được miễn trừ, và còn nữa nội vi, sự thinh lặng, chay tịnh, canh thức, .v.v. Đó là thập giá, là ách, là gánh nặng của Chúa. Ách này êm ái, gánh này nhẹ nhàng; đời sống tu trì chiêm niệm luôn là “phần tuyệt hảo”. Các Giáo Phụ và Tiến Sĩ gọi đó là vườn thượng uyển, nhà Chúa và cửa trời. Như thánh Benado nói : “Nơi đó con người sống tinh tuyền hơn, ít té ngã hơn, nhận nhiều ân sủng hơn, nghỉ ngơi an bình hơn, chết an tâm hơn, được thanh tẩy nhanh chóng hơn, nhận được phần thưởng cao quí hơn.” Và có niềm vui lớn lao được cầu nguyện và chịu đau khổ vì các linh hồn, và có niềm vui to lớn hơn nữa được an ủi trái tim Chúa Giêsu. Vị Thầy nhân lành này đã hứa thưởng gấp trăm cho những ai từ bỏ tất cả để theo Ngài. Ngài trung tín giữ lời hứa ! Phúc thay ai đặt tin tưởng nơi Ngài”.
       Kết luận này như là một biện hộ cho đời sống đan tu, một sự hộ giáo để lôi kéo trái tim của những ai bước theo Chúa Kitô gần hơn, của những ai tìm thấy trong đan viện những phương tiện thuận lợi cho việc kiếm tìm của họ trong ba chiều kích : chiều kích cá nhân : sự cứu rỗi (con người sống tinh tuyền hơn, ít té ngã hơn, nhận được nhiều ân sủng hơn, nghỉ ngơi an bình hơn, chết an tâm hơn, được thanh tẩy nhanh chóng hơn, nhận được phần thưởng cao quí hơn) – chiều kích huynh đệ : niềm vui to lớn cầu nguyện và chịu đau khổ vì các linh hồn – chiều kích thần linh : niềm vui còn to lớn hơn nữa được an ủi trái tim Chúa Giêsu. Ba chiều kích đó cô đọng tất cả những ước muốn của đan sĩ và trao cho đan viện danh xưng “vườn thượng uyển”, “Nhà Chúa”, “cửa Trời”, vì trong nơi này thần linh và nhân loại kết hiệp với nhau trong tình yêu song phương, trong sự trao đổi mật thiết. Nói cách khác, tình yêu hay đức ái mang lại cho đan viện bầu khí thiên đàng.
       Chúng ta cũng cần ghi nhận một nét của những ai sống trong “Vườn thượng uyển”, “Cửa Trời”, “Nhà Chúa”, là chiêm ngắm được vẻ đẹp Thiên Chúa khắp mọi nơi :
       “Biết Chúa ở với mình thì được đầy tràn an ủi. Kẻ ấy, khi thấy trời đất và cây cối hoa quả tốt tươi xinh đẹp, thì nói đó là mọi sự Cha tôi đã sáng tạo cho tôi được hưởng dùng mà cám mến ca ngợi Cha đã thương tôi thế ấy. Biết có Cha chúng ta hằng ở với chúng ta, nào có ai làm chi được, cho nên được bình an vui mừng luôn. “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì, nơi đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi an nghỉ.” (DN, “Sự kín nhiệm của thầy dòng contemplativi”, tr. 183-184.)
Như vậy sự kết hiệp thần bí chính là sự thành toàn của tình yêu Thiên Chúa dưới thế này.
Những gì ngài dạy dỗ người khác thì chính ngài là người đầu tiên đã sống, đã cảm nghiệm. Đời đan tu cho ngài môi trường thuận lợi để chiêm ngắm Thiên Chúa, để sống dồi dào sự kết hiệp với Thiên Chúa. Nhưng, phải chăng, khi đi sâu vào trong Thiên Chúa, cha Biển Đức Thuận lãng quên trần gian? Phải chăng Thiên Chúa Tình Yêu có sức cuốn hút mạnh mẽ đến nỗi trần gian không còn chỗ đứng trong trái tim đan sĩ Biển Đức Thuận?

              4. CÔ TỊCH VÀ HIỆP THÔNG

       Như chúng ta trình bày trên, sau bao nhiêu năm miệt mài tìm kiếm, giờ đây, cha Biển Đức Thuận đang chìm đắm trong chiêm niệm sâu xa. Ngài muốn sống mãi trong đan viện, vì nơi đó ngài bắt gặp được hạnh phúc. Từ bầu khí thần linh đó, ngài nhìn trần gian và lượng giá những thực tại trần gian : tất cả đều chóng qua, vô lối (DN, “Sống kết hiệp với Chúa”, tr. 122).
       Nếu mọi sự thế gian là vô lối, chóng qua, thì đâu là những điều con người đang tìm kiếm? Cha Biển Đức Thuận, với một chút tưởng tượng, đã trả lời rằng con người làm đủ mọi ngành nghề và giữ đủ mọi chức vụ, và rằng phần đông đi kiếm tìm những gì làm vui thỏa “cho thân xác vui sướng” (DN, “Mọi sự đều vô ích, trừ ra sự kính mến Chúa”, tr. 137 và “Đền bồi phạt tạ Thánh Tâm Chúa”, tr. 139.).
Đọc lại những lời này, chúng ta có cảm tưởng nhãn quan của ngài về cuộc nhân sinh mang mầu sắc bi quan yếm thế : tất cả đều chóng qua, mau tàn. Nhưng nếu cha Biển Đức Thuận nhìn thấy mọi sự mau qua, là vì ngài nhìn thấy chúng trong mối tương quan với cái trường cửu là Tình Yêu Chúa. Sống trong đan viện, chìm sâu trong chiêm niệm, cha Biển Đức Thuận đã có một sự nhạy cảm thiêng liêng về cuộc sống con người trong chiều sâu của nó : Nghĩa là sự dữ trong thế gian được chuyển đổi từ phương diện vật chất sang tinh thần, từ sự nghèo khổ vật chất đến sự lãng quên Thiên Chúa. Chính sự lãng quên Thiên Chúa nơi người trần gian như một mũi kim nhọn châm vào tâm hồn của cha Biển Đức Thuận. Thật vậy, khi một tâm hồn đã đầy tràn tình yêu Chúa, khi họ đã tiến sâu vào trong lò lửa Tình Ai, thì đồng thời họ cảm thấy nỗi day dứt của Tình Yêu bị lãng quên và bị từ khước. Khi tâm hồn càng gần Thiên Chúa, thì họ càng khám phá ra nỗi bất hạnh của kiếp người không có Thiên Chúa. Nơi cha Biển Đức Thuận hiển hiện sự nhạy cảm về sự dữ này. Chính vì thế, dù sống trong đan viện, trong cảnh an bình, cha Biển Đức Thuận không quên trần gian, một trần gian đang mất dần ý thức về Thiên Chúa.
       Xác tín rằng chỉ khi đi đến tận nguồn của đời mình là Thiên Chúa, và bằng cách đó, đan sĩ mới đóng góp phần mình vào việc dẫn đưa anh chị em mình vào con đường ân sủng Thiên Chúa. Khi đan sĩ nên thánh, lúc đó mới có thể “thánh hoá” trần gian, khi sống với một mình Thiên Chúa, đan sĩ mang lại nhiều lợi ích cho Giáo Hội (DN, “Nên thầy dòng thánh”, tr. 172-173).
       Ý thức được tính khẩn thiết của việc sống thân mật với Chúa và lợi ích thiêng liêng của việc kết hiệp với Người, cha Biển Đức Thuận không bao giờ lãng quên trần gian. Trần gian hiểu ở đây là con người, là tạo vật của Thiên Chuá mà ơn gọi là sống và kết hiệp với Người. Cha Biển Đức Thuận yêu trần gian, nhưng tình yêu ngài được diễn tả một cách khác. Ngài đi sâu vào những vấn đề của con người, đặc biệt sự vắng bóng Thiên Chúa trong cuộc sống nhân sinh. Nếu cha Biển Đức Thuận sống trước tôn nhan Thiên Chúa để ca ngợi Người, chính là như một người đại diện cho anh em mình; nếu ngài ở đó trước Thánh Thể, ngài là một con người thờ lạy nhân danh trần gian, và nếu ngài chạy đến Thánh Tâm Chúa, là với tư cách của một con người kêu xin lòng thương xót tha thứ cho trần gian. Tất cả những sinh hoạt thường nhật, tất cả những thử thách như bệnh tật, tuổi già, đau khổ thể xác cũng như tinh thần, v.v. được cha Biển Đức Thuận và các đan sĩ của ngài đảm nhận, như là những cơ hội để xin Thiên Chúa ban ân sủng cho trần gian.
       Sống trong đan viện, xa những nỗi lắng lo trần gian, để sống mãnh liệt sự kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa, cha Biển Đức Thuận khám phá ra hạnh phúc duy nhất, phước lạc duy nhất cho cuộc sống con người. Nhưng ngài không giữ lấy cho chính mình, hạnh phúc đó được chia sẻ cho những ai đến gõ cửa đan viện để trở thành đan sĩ, cho những ai đến với đan viện một thời gian ngắn, và cho tất cả mọi người xuyên qua cầu nguyện và hy sinh để ân sủng Thiên Chúa đến với họ. Như vậy, cô tịch mang chiều kích hiệp thông sâu xa, và đan sĩ, theo định nghĩa của Evagre, “xa lìa tất cả và kết hiệp với tất cả mọi người”.

       Khi trình bày cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận trong mối tương giao với đời sống chiêm niệm, tôi không có tham vọng đề cập đến mọi khía cạnh của vấn đề. Tôi chỉ nêu lên một vài gợi ý bằng cách nhắc lại những gì ngài đã viết, đã nói, đã cảm nghiệm; để từ đó chúng ta khám phá ra chiều sâu tâm linh của ngài và giúp chúng ta sống ngày càng trọn đầy hơn ý nghĩa đời đan tu chiêm niệm.
Chữ viết và lời nói rất hạn chế, nhưng cũng diễn tả phần nào “nội dung” điều được nói đến. Khi đọc lại những lá thư, khi nghe lại những lời giáo huấn, chúng ta như cảm thấy nỗi khát khao sống đời chiêm niệm nơi cha Tổ Phụ đang trào dâng ngay chính trong cõi sâu thẳm lòng chúng ta. Lòng khát khao đó đã giúp ngài cũng như chúng ta giữ được “ngọn lửa” cháy mãi trong hành trình đời đan tu. Khi nhìn lại định hướng của đời đan tu cha Tổ Phụ thiết định, chúng ta được mời gọi đi vào con đường chiêm niệm với những yếu tố cấu thành, để chúng ta thêm xác tín và không bị giao động bởi những “cám dỗ” của chủ nghĩa duy hoạt động và duy hiệu quả. Khi rung cùng nhịp đập của con tim tràn đầy hạnh phúc trong Thiên Chúa Tình Yêu, chúng ta trở thành những chứng nhân cho một cuộc sống nhân sinh đầy ý nghĩa : sự kết hiệp với Thiên Chúa trong cô tịch lặng lẽ, trong âm thầm của đời đan tu chiêm niệm. Dù xa cách trần gian, chúng ta vẫn hiệp thông với anh chị em chúng ta một cách sâu xa và mầu nhiệm trong trái tim Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta hiện diện với họ khi hiện diện với Thiên Chúa.
Tái khám phá một vài chiều kích của đời sống chiêm niệm nơi Cha Tổ Phụ, chúng ta được mời gọi, đến lượt mình, kiến tạo đời đan tu chiêm niệm trên quê hương Việt Nam, trong sự trung thành với tinh thần của ngài và trong sự sáng tạo đầy trách nhiệm.

 

 

 

 

 

 

SUỐI YÊU THƯƠNG

               Thiên Giang

 

Dòng nước
Trong sa mạc – nhưng không
Anh đi tìm – tìm đây – dòng nước trong.

 

       Sa mạc
       Sa mạc đời – vắng không
       Anh đi tìm – tìm Ngài – Chúa tình yêu.

 

                  Đường đời
                  Đời chúng ta – khóc cười
                  Giêsu tìm – Tìm anh – Ngài tìm tôi.

 

                               Dòng nước 
                               Trong sa mạc – là Ngài
                               Giêsu đó – gặp Ngài – suối tình yêu.

 

                                           Yêu thương
                                           Người với người – nhìn nhau
                                           Mỉm nụ cười – thân ái – rất yêu thương.

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG HẠT SÁNG THỨC TỈNH

 

      Trong mỗi số nội san, chúng sẽ dành mục “NHỮNG HẠT SÁNG THỨC TỈNH” để trình bày những câu nói ngắn gọn được thu tập trong các tôn giáo. Chúng chỉ là những Hạt Sáng, chứ không phải là ánh sáng, vì chỉ có CHÚA KITÔ là ÁNH SÁNG. Chúng mang phẩm tính “sáng” vì đã là kết quả của những chứng nghiệm. Chúng có tác dụng “thức tỉnh” vì chúng đưa con người ra khỏi “bến mê”để tìm về CHÂN – THIỆN – MỸ.

          Mục này sẽ được đan sĩ MẶC LINH phụ trách
      Trong số nội san này, những câu châm ngôn của các Ẩn Sĩ Sa Mạc sẽ được gởi tới chúng ta để suy niệm và áp dụng vào đời sống. Những câu châm ngôn này được chuyển ngữ từ cuốn sách Abba, dis-moi une parole, nxb Solesme, 1984. Số trước mỗi câu được giữ đúng như trong nguyên bản.

Ban Biên Tập.

     9 – Một đan sĩ đến Scêtê gặp linh phụ Môisen để thỉnh một lời. Vị niên trưởng nói: “Anh hãy đi ở lại trong tu xá của anh, tu xá của anh sẽ dạy anh tất cả.”


     14 – “Có người đến thỉnh vấn linh phụ Antôn: “Con phải tuân giữ điều gì để làm đẹp lòng Chúa?”. Vị niên trưởng trả lời:
   – Đi đâu cũng luôn thấy Chúa trước mặt.
   -Làm gìn cũng lấy Kinh Thánh làm chuẩn mực.
   -Ở nơi đâu cũng đừng hiếu động.
Giữ ba điều ấy, anh sẽ được cứu thoát

     23 – Một người hỏi vê long chai dạ đá, linh phụ Poemen trả lời: Bản chất của nước là mềm dịu, còn đá thì cứng rắn. Nhưng dòng nước chảy hoài, nhỏ giọt trên đá, từ từ làm đá phải mòn. Cùng vậy Lời Chúa làm mềm trái tim cứng cỏi của chúng ta.
Người vâng nghe Lời Chúa sẽ mở lòng mình cho sự kính sợ Chúa.

     27 – Linh phụ Antôn nói: “Sự sống hay sự chết đều lệ thuộc vào tha nhân. Như thế, nếu chúng ta được anh em là được Thiên Chúa, nhưng nếu chúng ta là cớ vấp phạm cho anh em, chúng ta lỗi phạm đến Đức Kitô”.

     32 – Một vị linh phụ đã nói: Đừng làm gì mà không cầu nguyện trước. Và sau đó anh phải hối hận.

     37 – “Các thánh tổ đều nói: Cầu nguyện là bức gương soi cho đan sĩ.”

     49 – Linh phụ Môisen nói: “Nếu không lao nhọc, khiêm hạ và cầu nguyên liên lỉ, thì không thể chiếm hữu được Chúa Giêsu”

     54 – Linh phụ Môisen nói: “Bao lâu con người chưa để tâm nhận mình là tội nhân thì chưa được Chúa nhậm lời. Đan sĩ thắc mắc: “Để tâm nhận mình là tội nhân là thế nào?”. Linh phụ trả lời: “Nếu ai mang lấy tội của chính mình thì không thấy các tội của tha nhân.”

     55 – Linh phụ Besoy nói: “Con người không thể cầu nguyện với lòng kính sợ, nếu không thực hành khổ hạnh, và vì thế không thể có được tâm thanh tình.
   Nhưng, nếu con người kiên trì khổ hạnh, sẽ được Chúa ban lòng kính sợ và tâm thanh tịnh. Và như thế sẽ được tràn đầy hồng ân Chúa ban.

     58 – Một vị linh phụ nói: “Qủa thật, nếu con người nội tâm chúng ta thức tỉnh, nó có thể giữ được cả con người bên ngoài; nhưng nếu không được như thế, thì nhờ khả năng nào mà chúng ta cầm giữ được miệng lưỡi chúng ta?”.

     62 – Ngày kia người ta thỉnh vấn linh phụ Silvano: “Hiền phụ đã thực hành phương pháp nào để đạt sự không ngoan như thế?”. Ngài đáp: “Không bao giờ tôi lưu giữ trong tâm một tư tưởng làm mất lòng Chúa”.

     70 – Linh phụ Poemen nói: “Mọi thứ quá khích đều do bởi ma quỷ.”

     78 – Linh phụ Menas kể câu chuyện sau đây: Ngày nọ tôi đang ở trong phòng, có đan sĩ kia từ xa đến gặp và yêu cầu tôi dẫn anh đến gặp linh phụ Macaire. Nghe lời anh, tôi dẫn đến vị trưởng lão và sau một lời cầu nguyên, chúng tôi ngồi. Đan sĩ ấy nói: “Thưa cha, đã 30 năm nay con không hề ăn thịt, thế mà con vẫn bị cám dỗ và điều ấy.” Vị trưởng lão trả lời: “Con ơi, đừng nói với ta là con đã không ăn thịt suốt 30 năm qua. Nhưng con ơi, ta xin con nói sự thực cho ta: Có được bao nhiêu ngày mà con không nói xấu anh em, không xét đoán tha nhân, và không để môi miệng thốt ra một lời vô bổ.
   Đan sĩ sụp lạy và nói: “Thưa cha, xin cầu nguyện cho con, để bây giờ con khởi đầu”.

     84 – Một linh phụ được thỉnh vấn: “Khiêm nhường là gì?” Ngài đáp: “Đó là một việc lớn, một công trình của Thiên Chúa. Và đây là lộ trình của khiêm nhường: Chế ngự (Peiner = hãm) thân xác, nhận mình là tội nhân và thưa kém mọi người”. Được hỏi tiếp: “Thế nào là coi mình thưa kém mọi người?”. Vị linh phụ đáp: “Là không lưu tâm để ý đến tội người khác, nhưng là luôn nhìn nhận tội mình và không ngừng cầu nguyện với Chúa”.

 

 

 

 

 

 

CHÚA Ở CÙNG

Gioan Đạt Đào Văn Tiến – Đan viện Phước Lý

       Đức tin của người Công giáo không chỉ tin rằng có Thiên Chúa toàn năng, sáng tạo vũ trụ và con người, mà còn tin rằng Đấng ấy vẫn hiện hữu bên cạnh, bên trong con người để yêu thương để gìn giữ che chở. Chính vì yêu thương, Chúa Cha đã sai Con Một duy nhất của Người xuống làm người để ở với và cứu độ nhân loại. Vì yêu thương, Chúa Giêsu hứa sẽ luôn ở với con người mọi ngày cho đến tận thế

(x.Mt 28,20).

              1. Ở cùng để yêu thương
       Tâm tình của người đang yêu là luôn hướng về người mình yêu; thế nên, khi chưa được gần nhau, họ luôn khát khao mòn mỏi đến quên ăn, quên ngủ như lời ca dao diễn tả:
                                  “Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
                                    Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai”
                                    Hay là:
                                   “Ước cho ăn ở một nhà
                                    Ra vô thấy mặt kẻo mà nhớ thương”
       Thiên Chúa của chúng ta được định nghĩa là tình yêu (x.1Ga 4,8. 16). Vì yêu thương, Người muốn được gần người mình yêu là nhân loại: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”(Ga 3, 16).
       Kinh Thánh thường dùng kiểu nói: “đính hôn”, “kết ước”, “giao ước”… để diễn tả mối tình của Thiên Chúa đối với dân Người. Sách Diễm Ca là bản tình ca mô tả mối tình say đắm của đôi tình nhân, được xem là hiện thân của mối tình giữa Chúa Kitô và Hội Thánh, trong đó Chúa Kitô là Đấng Tình Quân còn Giáo Hội là Hiền Thê. Những kiểu diễn tả như thế bàng bạc trong các sách Ngôn sứ, chẳng hạn như sách ngôn sứ Hôsê: “Này Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình”(Hs 2, 16).
       Trong dịp tĩnh tâm để lãnh nhận tác vụ Phó tế, người viết bài này nhận thấy trong thánh lễ rất nhiều lần linh mục lặp lại lời chào: “Chúa ở cùng anh chị em”, cộng đoàn đáp lại: “Và ở cùng Cha” hoặc: “Và ở cùng thầy”. Dường như diễn ngữ “Chúa ở cùng…” luôn bắt đầu cho một điều quan trọng đi theo sau đó: khởi đầu thánh lễ, trước bài Tin Mừng, trước kinh Tiền tụng, trước khi kết thúc thánh lễ…
       Tại sao điệp ngữ đơn giản như vậy cứ được lặp đi lặp lại nhiều lần trong cùng một thánh lễ? Phải chăng chúng đã có một nguồn gốc sâu xa và có một tầm quan trọng đặc biệt? Với những băn khoăn thắc mắc như thế, tôi đã đọc lại lịch sử cứu độ để tìm lời giải đáp cho những vấn nạn trên và thấy đúng như vậy. Những lời xem ra đơn giản nhưng lại vô cùng quan trọng, vì đó là lời Thiên Chúa hứa cho những người mà Người sẽ sử dụng cho chương trình cứu độ nhân loại. Lời hứa “ở cùng” là một chủ đề xuyên suốt qua dòng lịch sử cứu độ. Linh mục Minh Hạnh quảng diễn trong bài giảng: “Thiên Chúa tình yêu chưa bao giờ ngã lòng trung thành và không ngừng hiện diện giữa dân Người. Đó không chỉ là đề tài xuyên suốt dòng lịch sử ơn cứu độ, quan trọng hơn đó còn là sự thật làm thành một dòng chảy không bao giờ ngơi nghỉ trên mỗi cá nhân con người, suốt chiều dài thời gian. Ngay trong hoàn cảnh thử thách, thử thách đau thương nhất của lịch sử, sự thật về tình thương ấy vẫn không ngừng ngời sáng, sưởi ấm niềm hy vọng của toàn dân Thiên Chúa, của từng người một. Không phải chỉ hôm nay, sau mọi biến cố trên dòng lịch sử đã nắn đúc bao nhiêu kinh nghiệm quý báu cho đức tin, ta mới thốt lên như thế. Nhưng trong chính các biến cố đang xảy ra, dân Chúa đã thấm thía bài học đức tin này: Thiên Chúa luôn trung thành yêu thương, không bao giờ ngừng hiện diện giữa dân Người”.

              2. Ở cùng để bảo vệ chở che

       Nhìn lại lịch sử cứu độ, khi muốn thực hiện chương trình cứu độ nhân loại qua việc kêu gọi Abraham, Thiên Chúa luôn đồng hành với ông trong suốt cuộc hành trình. Abraham đã ra đi với một nhúm người trong dòng tộc đến cư ngụ trong một vùng đất xa lạ, chung quanh là những bộ lạc đông đảo và mạnh mẽ; đương nhiên, họ bắt nạt ông. Có những lúc ông và con cái đào giếng thì những người xung quanh đến chiếm hoặc lấp đi. Trong những tình huống như thế, ông đã đứng vững được nhờ có lời hứa của Chúa: “Hỡi Abraham, đừng sợ Ta sẽ là khiên che thuẫn đỡ cho ngươi” (St15,1). Dần dần các dân chung quanh nhận thấy rằng có Thiên Chúa ở cùng Abraham, do đó họ đã nể sợ ông và đã ký giao ước không được làm hại nhau: “Vua Avimelec cùng với ông Pi – khôn tướng chỉ huy quân đội của vua, đến nói với ông Abraham: “Thiên Chúa ở với ông trong tất cả những gì ông làm. Vậy bây giờ ông hãy lấy Thiên Chúa mà thề…”(St 21,22).
       Chúng ta cũng thấy Thiên Chúa hứa “ở cùng” với Môsê khi Người kêu gọi ông giải phóng dân Israel khỏi ách nô lệ Ai cập. Dù rằng không có một thứ vũ khí tự vệ nào, không một đồng minh nào, ông phải đương đầu với vua Pharao có cả đội quân hùng mạnh. Trước sứ mạng nặng nề như vậy ông cảm thấy sợ hãi, nhưng Thiên Chúa đã trấn an ông: “Ta ở với ngươi” (Xh3, 12).
       Lời hứa “ở cùng” đó vẫn được lặp lại ở thời các Thủ lãnh, cũng như thời Quân chủ; như với Ghêdêon: “Ta sẽ ở với ngươi, và ngươi sẽ đánh quân Madian như đi đánh có một người”(Tl 6,16); rồi với Đavít, để bảo vệ vương quốc, cậu bé phải đương đầu với gã khổng lồ Gôliat, một người hùng mạnh nhất của quân Philitinh, được trang bị kỹ lưỡng đến “tận răng”; Đavít xung trận với chỉ một xác tín: “Tao đến với mày nhân danh Đức Chúa các đạo binh là Thiên Chúa của hàng ngũ Israel”(1Sm17,45). Nhờ có Chúa ở cùng, Đavít đã hạ gục Goliat một cách dễ dàng, mang lại chiến thắng vẻ vang.
       Xuyên qua dòng lịch sử, dân Israel có kinh nghiệm sâu xa rằng mỗi lần họ xa Thiên Chúa là họ chuốc lấy thất bại đau thương và con đường duy nhất để họ được thành công rực rỡ là trở về với Người.
       Chúng ta cũng gặp lại lời hứa “ở cùng” trong Tân Ước. Thật vậy, Tân Ước, nhất là Tin Mừng, làm nổi bật sự kiện Thiên Chúa luôn ở cùng con người để yêu thương, để bảo vệ chở che và để cứu chuộc. Khi được sai đến để báo tin về dự định cứu độ củaThiên Chúa, thiên sứ đã chào Đức Trinh nữ: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”(Lc 1, 28). Điều đó khẳng định rằng Chúa luôn ở cùng Mẹ và Mẹ luôn ở trong Chúa. Đó là một sự chuẩn bị tuyệt vời để Mẹ đón nhận Ngôi Lời nhập thể trong chính cung lòng trinh khiết của mình.
       Khi kêu gọi các tông đồ “để các ông ở với Ngài và để Ngài sai các ông đi” (Mc 3,14), Chúa Giêsu muốn chia sẻ cuộc sống với họ về mọi phương diện và họ đã từ bỏ mọi sự đi theo Ngài trên mọi nẻo đường để thực hiện công cuộc rao giảng Tin mừng. Và ngay cả khi đã hoàn thành chương trình cứu độ qua cái chết khổ giá và phục sinh, trước khi về cùng Cha, Chúa hứa ở cùng họ mọi ngày cho đến tận thế (x.Mt28,20).
       Ơn gọi tông đồ của thánh Phaolô khởi đi từ biến cố ngã ngựa trên đường Đamát, lần đầu tiên Chúa Kitô phục sinh hiện ra với thánh nhân ( x.Cv 9,3-9). Trong suốt sứ vụ loan báo Chúa Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, ngài luôn xác tín có Chúa ở cùng mình trong mọi tình huống: “Một đêm, Chúa bảo ông Phaolô trong một thị kiến: Đừng sợ! Cứ nói đi, đừng làm thinh, vì Thầy ở với anh; không ai tra tay hại anh được”(Cv 18,9–10). Điều đó chứng minh mối tình giữa Chúa Kitô và thánh Phaolô thân thiết đến nỗi thánh nhân dám thốt lên: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là Chúa Kitô sống trong tôi”(Gl2, 20).
       Như vậy, lời hứa “ở cùng” của Chúa mang lại sức mạnh cho những ai được kêu gọi chu toàn thánh ý Chúa và hoàn thành sứ vụ loan báo Tin mừng.

              3. Ở cùng để hiệp nhất

       Khi sống đời thánh hiến, nghĩa là theo sát Chúa Kitô và được mời gọi trở thành những “chuyên viên cầu nguyện”, các đan sĩ được Giáo Hội đặt trọn niềm tin tưởng, cho nên “dù công việc mục vụ của Giáo hội có khẩn thiết đến đâu cũng không đưa các đan sĩ ra lo việc mục vụ” Công đồng Vatican II, sắc lệnh “Đức ái hoàn hảo”, số 7. . Nếu việc cầu nguyện khẩn thiết đến thế thì chúng ta đã thi hành sứ vụ mà Giáo hội đã trao phó như thế nào?
       Để trả lời cho câu hỏi đó, chúng ta hãy tự vấn xem mình có Chúa ở cùng và có sống cùng Ngài chưa? Chúa có vị trí nào trong cuộc đời chúng ta? Nhiều khi được coi là “những chuyên viên cầu nguyện” nhưng ít khi chúng ta nhắc nhớ đến Chúa trong ngày sống, hay không còn coi Chúa là một nhân tố quan trọng nhất trong cuộc đời mình. Nói cách khác, chúng ta không cần đến một sự can thiệp nào của Chúa vào cuộc đời mình. Trong một bài báo do hai chuyên viên thần kinh khảo sát một số linh mục và tu sĩ, họ nhận thấy rằng chỉ có hai trên mười người thường xuyên đề cập đến Thiên Chúa trong các cuộc phỏng vấn; và chỉ có một tu huynh nói rằng Thiên Chúa là nhân tố quan trọng trong việc chữa bệnh của thầy Lm Anthony de Mello, Tiếp xúc với Thiên Chúa, tr. 114..
       Sống trong đan viện mà không còn kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, không còn coi Ngài là số một của mình, đan sĩ sẽ đánh mất ý nghĩa của đời mình. Chúa luôn trung tín “ở cùng”, nhưng chúng ta lại chối bỏ Người để chạy theo những “tình nhân” khác và sống thờ ơ với Người, lúc đó cuộc đời chúng ta chỉ là một chuỗi thất bại. Đã kết ước với Chúa qua lời khấn, mà đan sĩ không ở cùng Ngài thì khác nào ngoại tình.
       Thiên Chúa là tình yêu, Ngài luôn chung thủy, luôn ở cùng chúng ta, lẽ nào chúng ta lại vô tình phụ bạc tình Ngài. Để cho mối tình giữa chúng ta và Thiên Chúa được bền vững và tăng trưởng mỗi ngày, điều quan trọng là phải vun trồng, phải nuôi dưỡng đời sống nội tâm của chúng ta. Các phương thế để đạt được mục tiêu là cầu nguyện liên lỉ, lời nguyện tắt, suy niệm Tin mừng, lectio divina…
       Như thế, chúng ta nhận thấy rằng, môi trường thinh lặng là một yếu tố vô cùng cần thiết đối với đan sĩ để thực hiện những việc trên, nhằm đạt đến mục tiêu “ở cùng” và đó cũng là cứu cánh của đời đan tu.
Những suy nghĩ trên đây giúp chúng ta nhận ra rằng đối với đời đan tu chiêm niệm việc có “Chúa ở cùng và được ở cùng Chúa” là vô cùng quan trọng. Đó cũng là chìa khoá cho mọi thành công và hạnh phúc của người đan sĩ.

              Kết

       Lời hứa “ở cùng” của Chúa đã được chứng tỏ rõ ràng qua lịch sử cứu độ. Đối với chúng ta ngày nay, lời đó được cụ thể hoá cách mạnh mẽ hơn trong Bí Tích Thánh Thể, nơi đó, Chúa hiện diện liên tục với chúng ta. Hơn nữa, mỗi lần chúng ta rước Mình Máu Chúa chính là lúc Chúa ngự trong chúng ta cách thực sự chứ không phải là một sự hiện diện có tính biểu tượng. Nhờ có Chúa cư ngụ, chúng ta sẽ có một sức mạnh vô song. Nếu ta ý thức và biết đón nhận nguồn sống đó, chúng ta sẽ có nguồn mạch để sống đời đan tu chiêm niệm một cách trọn vẹn như Giáo hội luôn mong chờ. Đan sĩ là người được Chúa chọn và là người chọn Chúa làm người yêu duy nhất. Nỗi khát khao nồng cháy của đan sĩ là được kết hiệp với Chúa trong tình yêu và sinh hoa kết trái cho vinh danh Chúa và đem lại ơn cứu độ cho con người; chỉ như thế, người sống đời đan tu chiêm niệm mới là người có phúc nhất!

 

 

 

 

 

 

 

CÕI THINH LẶNG CỦA CHIÊM NIỆM

 

FM.Vianney Nguyễn Tri Phương, CSĐD  

 

    “ Cội nguồn”, đó là tựa đề của một cuốn tiểu thuyết phát hành tại Mỹ, tác giả là một người da đen, sống trong một thế giới văn minh, thành đạt trong xã hội của nước Mỹ thời hiện đại. Ông đã viết lên những trang sách bi cảm về một cuộc hành trình đi tìm lại cội nguồn của mình, một cội nguồn đau thương về thân phận của những người da đen đã bị bắt đi làm nô lệ. Mỗi người chúng ta đều có một nguồn gốc cần được tìm lại và tái khám pha.
    Mặc khải Kitô giáo khẳng định Thiên Chúa là cội nguồn của nhân loại, nói cách khác, Ngài là cội nguồn của mọi cội nguồn. Đan sĩ khi trở về nguồn mạch đan tu thì cũng bắt gặp được nguồn cội là chính Thiên Chúa. Con đường giúp “trở về nguồn” là chính sự thinh lặng. Cha Zundel viết : “ Nếu mỗi ngày chúng ta lại đến với kho tàng của sự thinh lặng, nếu mỗi ngày, chúng ta lại dấn sâu vào tận đáy lòng, cho tới khi gặp được Nguồn Mạch Vô Tận” Zundel, Lời Ngài như nguồn suối, tr.16.
    Đan sĩ sống nơi nguồn suối chiêm niệm được lưu chảy qua các truyền thống đan tu. Nguồn suối đó vẫn tiếp nối, vẫn chảy mãi không ngừng, dẫn đưa con người về đến bến AN-BÌNH, đến cội nguồn cao cả là chính Thiên Chúa.

 

            1 – Tìm về thinh lặng

    Kinh Thánh thường nói về sự thinh lặng như điều kiện của chiêm niệm. Con người chỉ có thể gặp được Thiên Chúa chính nơi sự thinh lặng mà thôi. Tiên tri Zacharia đã viết : “ Thiên Chúa ở trong đền thánh của Người, toàn thể trái đất hãy thinh lặng trước tôn nhan Người” ( Dcr 2,17 ). Đó là một sự thinh lặng uy nghiêm, toát lên sự thánh thiện, làm cho tạo vật phải kính sợ, như Pascal diễn tả: “ Sự thinh lặng đời đời của không gian bao la này làm tôi sợ hãi”. Lắng nghe sự thinh lặng của thiên nhiên đôi khi làm cho con người sợ hãi, nhưng cũng đem lại cho con người một sự kính phục :
                    Lạy Chúa là Chúa chúng con
                    Lẫy lừng thay Danh Chúa trên khắp cả hoàn cầu
                    Uy phong Ngài vượt quá trời cao

                                                                                    ( Tv 8,1)
    Psichari từng kinh qua sa mạc Sahara đã diễn tả sự cô vắng ghê rợn: “ Tôi đã sống những giây phút đầu tiên trong tĩnh lặng thật sự. Chính nơi đây mà lần đầu tiên, tôi đã sốt sắng lắng nghe mhững giờ phút trôi vào trong cô vắng muôn xưa của sa mạc. Trong miền đất chết này, nơi không có người cư ngụ, hình như tôi đi ra khỏi những giới hạn thường tình của cuộc sống, và run rẩy lảo đảo tiến bước bên bờ của Đời Đời”.
    Dù rằng sự thinh lặng của thiên nhiên vẫn làm con người sợ hãi, nhưng con người cũng có thể khám phá sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa. Bởi vì chính Thiên Chúa dẫn đưa con người vào cõi thinh lặng để gặp gỡ : “ Bởi thế, Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào nơi thanh vắng, để cùng với nó thổ lộ tâm tình” ( Hs 2,16).
    Chúa Giêsu cũng đã rất nhiều lần đi đến nơi thanh vắng để cầu nguyện : “Trong những ngày ấy Đức Giêsu đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm để cầu nguyện cùng Thiên Chúa” Lc 6,12; x.Mt 19,23). Ngài cũng mời gọi các môn đệ : “ Chính anh em hãy lánh ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút ” (Mc 6,31). Mầu nhiệm thinh lặng trở nên trang trọng nơi cuộc tử nạn của Chúa Giêsu trên thập tự (x.Mt 26,63). Đó là một “hiến lễ thầm lặng”, tuyệt hảo được Thiên Chúa đón nhận trong tình yêu trìu mến.

 

            2 – Vài gương mặt tiêu biểu

    Nhiều tâm hồn đã tìm đến nơi thanh vắng để gặp gỡ Thiên Chúa. Truyền thống đan tu đã ghi lại những gương mặt tiêu biểu trở về nguồn chiêm niệm qua con đường thinh lặng.
    Thánh Biển đức đã cầu nguyện : “ Lạy Chúa, ai là người được sống trong cung điện Ngài và ai được an nghỉ trên núi thánh của Ngài ?” Tu luật Biển đức, Lời mở. Đó là những người lặng thinh trước tôn nhan Thiên Chúa như em bé ngủ ngon trong lòng mẹ X. chương 7.. Chính trong sự thinh lặng huyền nhiệm, Thánh Biển Đức đã nhận được một ánh sáng chiêm niệm như một kinh nghiệm thần bí “ Bỗng chốc, một ánh sáng trên trời chiếu sáng trong không gian, làm cho đêm trường sáng rực lên hơn cả ban ngày. Trong ánh sáng này, toàn thể thế giới xuất hiện ra trước mắt Ngài như được thu gồm trong một tia sáng mặt trời”.
    Thánh Grégorio giải thích : “ tất cả tạo vật đều nhỏ bé dưới cặp mắt của một tâm hồn nhìn thấy Đấng Tạo Hóa”. Thánh Biển Đức chiêm ngắm Thiên Chúa và tất cả mọi sự trong Thiên Chúa, điều đó nói lên Người là nguồn cội của tất cả. Chính vì thánh Biển Đức chìm ngập trong thinh lặng nên ngài luôn sống trong chiêm niệm.
    Tu trào Xitô trung thành trở về nguồn chiêm niệm của thánh Biển Đức. Sự cô tịch và thinh lặng được đề cao : “ Alberico và các anh em, trung thành với lời hứa, nên đã lập lại sự tuân giữ tu luật của thánh Biển-Đức ở Xi-Tô. Người ta bắt đầu loại trừ những gì tu luật không cho phép…Cứ như thế mà họ mong muốn bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới” Petit Exhorte, ch.XV..
    Về phần mình, thánh Bênado, trong một lá thư gửi cho Oger, kinh sĩ của Saint-Gilles, đã ca ngợi ích lợi của thinh lặng :
    “ …Tôi chạy trốn thế gian, đến ở trong nơi cô tịch, thể theo lời thánh tiên tri, tôi canh giữ đường lối của tôi, để không lỗi phạm trong miệng lưỡi” (Tv 38,2). Bởi vì “ Con người lắm lời không thịnh đạt trên mặt đất”…(Tv139,12 ). Còn sự thinh lặng như tiên tri Isaia đã nói : “ Sự nghiệp của công chính là hòa bình và xây dựng hòa bình là thinh lặng”. Và như lời tiên tri Giêremia dạy bảo : “ Thinh lặng chờ đợi ơn cứu độ là điều thiện hảo tuyệt vời (Ac 3,26). Vậy sự thinh lặng đóng vai trò trau dồi đức công chính, là mẹ, là vú nuôi, là người bảo vệ của tất cả các nhân đức…Tôi kêu mời Ngài, cũng như kêu mời tất cả mọi người muốn thăng tiến trên đường tiến đức, hãy đến với thinh lặng. Tôi kêu mời điều này bằng lời nói, hay ít ra bằng mẫu gương thinh lặng của tôi” Lá thư 89..
    Như vậy, thinh lặng giúp con người vươn tới Thiên Chúa là nguồn mạch bình an : “ Thiên Chúa an hòa, Ngài làm cho mọi vật được bình an ; chiêm ngắm Ngài mà lòng an tịnh, đó là nếm hưởng được sự bình an…Bởi vậy, phương thế để đạt tới điều đó là yêu thích sự thinh lặng, và ẩn dấu minh trong đó : trong sự kín ẩn của Tôn Nhan Ngài, ôi Thiên Chúa bình an” Thánh Benado, bài giảng 23 về Diễm tình ca.
    Chân phước Gillebert nhấn mạnh rằng sự bình an hệ tại trong sự hồi tâm và sự thinh lặng của tâm trí :
    “ Lạy Chúa Giêsu, đi tìm kiếm Ngài là điều tốt, tìm gặp được Ngài là điều tốt hơn. Tìm kiếm là công việc thánh thiện, nhưng gặp được Ngài là niềm vui hoàn hảo. Bởi vậy, hiền thê không những chỉ muốn đụng đến Ngài, như người đàn bà trong Phúc âm, nhưng còn muốn bắt lấy Ngài, ôm lấy Ngôi Lời sự sống, và tránh xa quần chúng…Thật vậy, người ta chỉ thưởng thức được Khôn ngoan bằng một tâm hồn an tịnh, và cái nhìn trầm tĩnh, bởi vì “ nơi cư ngụ của nó là ở trong sự bình an” Tv 75,3.
Một khi trở về với nội tâm, đan sĩ sẽ gặp được Nguồn Suối; tất cả đều sáng lên và biểu lộ dung nhan tuyệt vời của chính Thiên Chúa. Chính trong tư tưởng đó, thánh Gioan Thánh giá đã thốt lên :

                        “Ôi nguồn suối trong
                          Phản chiếu lên ngàn muôn ánh sáng bạc
                          Nếu như giữa dòng nước
                          Ngài để lộ ra đôi mắt bao ngày ước mơ
                          Đã hiện diện trong tâm hồn con”
    Suối nguồn chiêm niệm vẫn tuôn chảy, đem lại sự tươi mát cho dòng đời, cho những gì là khô cằn của lòng người. Đó là điều giải thích cho sự kiện : nhiều tâm hồn tìm đến các đan viện thanh vắng để tìm thấy Đấng là nguồn mạch tươi mát cho tâm hồn. Suối nguồn chiêm niệm, được lưu chảy qua truyền thống đan tu, để lộ ra những gì là trong sáng tươi đẹp.

 

        3 – Lời mời gọi cho ngày hôm nay

    Trong thế giới hôm nay, con người muốn phá hủy sự thinh lặng bằng những tiếng ồn ào huyên náo của đủ mọi loại âm thanh, những thông tin từ đài phát thanh, từ báo chí với những tin giật gân vì những hận thù, khủng bố… Cuộc sống dường như là một vũ điệu quay cuồng trong náo động và cuốn hút mọi người, dù ở thành thị hoặc ở miền quê. Trong bối cảnh đó, thinh lặng luôn cần thiết cho cuộc sống con người để giữ một thế quân bình. Cha Zundel đã viết : “ Và tôi cũng nghĩ, thật ra, chỉ duy nhất, sự thinh lặng, cái thinh lặng của sự vật, cái thinh lặng của thiên nhiên, cái thinh lặng của ánh sáng, cái thinh lặng của tiếng chim hót, chỉ duy nhất cái thinh lặng đó mới có thể là vật đối trọng cho tất cả sự điên cuồng của con người” Zundel, Lời Ngài như nguồn suối, tr.12-13.
May mắn thay, nhân loại ngày nay vẫn còn có những con người yêu thích sống thinh lặng, một sự thinh lặng dẫn đưa con người đến với Thiên Chúa như một Têrêxa Hài Đồng Giêsu :
    “ Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu vì đã dâng hiến cả cuộc đời mình, ẩn náu trong sự thinh lặng của Thiên Chúa mà bà đã đạt tới sự cao cả vĩ đại. Bà đã hiểu được tiếng gọi của thế giới, bà đã nghe thấy tiếng kêu của tất cả những cảnh khốn cùng của nhân loại, bà còn nghe thấy sâu xa hơn nữa tiếng kêu của nỗi đau Thiên Chúa và bà đã muốn hợp tác, bằng tất cả niềm tin và lòng mến nhiệt thành của bà, hợp tác để xây dựng Nước Thiên Chúa ; và vì thế bà đã ẩn mình trong sự thinh lặng của Chúa Kitô. Và trong tu viện, nơi bà làm tròn những công việc tầm thường nhất, vô nghĩa nhất, mà bà đã đem vào thế giới tất cả những cơn sóng ánh sáng và tình yêu, và chính những làn sóng này đã cất nhắc bà lên đến tận Thiên Chúa” Ibid tr. 15.
    Không chỉ một Têrêxa nhưng còn nhiều đan sĩ đang sống âm thầm lặng lẽ trong đời chiêm niệm để khám phá ra cho chính mình và cho thế giới, sự hiện diện thinh lặng của Thiên Chúa, Nguồn Mạch Vô tận của an bình, yêu thương.
Đời chiêm niệm vẫn tiếp tục…

 

        Kết :

    Dòng lịch sử nhân loại vẫn tiếp tục hướng về tương lai, dù biết bao biến cố thăng trầm đã xảy ra : chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh… như những sa mạc hoang vu gây sợ hãi cho nhân loại, nhưng cuộc sống vẫn tồn tại và lịch sử nhân loại tiến hóa qua từng giai đoạn để cuối cùng tiến đến một “ cảnh vực thần linh” được gọi là Kitô hóa, theo nhãn quan của cha Teilhard de Chardin.
    Chúng ta có thể dùng những lời sau đây để kết luận : “ Những nhà chiêm niệm, nhìn vào nội tâm nên theo dõi được một cách hữu ích đời sống tâm linh của mình là dòng sông trôi qua nhanh chóng trong tĩnh lặng và khôn dò hơn biển cả… Chan.H.Morice, La Poésie de Sully-Prudhomme, tr.280.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KHÚC LINH CA CỦA THÁNH GIOAN THÁNH GIÁ

 

 Trích trong tập thơ Khúc Linh Ca 
Bản dịch của Trăng Thập Tự và Nguyễn Uy Nam

 

                Ca khúc 14

Người Yêu Dấu của em, là những núi,
Những thung lung xanh um quạnh quẽ
Những đảo lạ lùng
Những dòng song vang ngân
Và tiếng gió thì thào trìu mến.

 

                                                                Ca khúc 15

                                       Và là đêm yên hàn
                                       Đang khi hừng đông cựa mình thức giấc
                                       Nhạc thi lặng
                                       Niềm cô tịch réo rắt
                                       Bữa tối bổ dưỡng và đắm say yêu mếm

 

 

 

 

 

 

NÚI TABOR NGÀY NAY

 

FM. Giuse Khang Tiên
ĐV Thánh Mẫu Thiên Phước

              DẪN NHẬP
    Tabor là ngọn núi ở Palestina, là ngọn núi uy nghi nhất ở miền Canaan (x.Gr 46, 18; Tv 89, 13), cao 562m, ở ranh giới chi họ Zơvulun và Isakar (x.Gs 19,22), về phía đông nam Nazaret. Điều đáng nói ở đây không phải vì tính cách địa lý hay sự uy nghi hùng vĩ mà là tính chất thiêng liêng của nó. Núi Tabor, cũng như các ngọn núi khác nói chung ở Palestina, thường là nơi gặp gỡ Chúa, đặc biệt là nơi Thiên Chúa mặc khải thánh ý Ngài cho dân. Đây là nguồn cảm hứng cho những tâm hồn khao khát tận hiến vào thời kỳ đầu của đời tu. Chính vì thế, họ bỏ đô thị ồn ào náo nhiệt mà tìm về núi non sa mạc để sống bầu khí thân mật với Chúa và nhất là làm nên hình ảnh thánh thiện sống động của Giáo Hội bấy giờ.
    Nối tiếp truyền thống đan tu, các đan viện ngày nay tiếp tục phát huy những đặc nét tinh tuý của cha ông xưa, và hình thành một “Tabor ngày nay”… Vậy, dưới đây, tôi xin được trình bày những đặc nét của “Tabor” mà muôn thế hệ ngưỡng mộ, và nhất là đan sĩ coi như nét đặc thù nhất của mình.

 

              I. NÚI TRONG KINH THÁNH

    Núi Tabor nói riêng và những ngọn núi khác trong kinh thánh nói chung chỉ là những tạo vật như bao tạo vật khác. Tuy nhiên, đối với phần nhiều các tôn giáo, có lẽ vì cao và đầy vẽ huyền bí nên núi được xem như là giao điểm giữa trời và đất. Nhưng nói như thế không có nghĩa là đề cao vai trò của núi, bởi vì Giavê không những là “Chúa của núi non” mà còn là “Chúa của đồng bằng” (x.1V 20, 23). Vậy đối với các tổ phụ, các tiên tri, và nhất là đối với Chúa Giêsu, núi có một gía trị linh thiêng nào ?

          1. Núi theo kinh nghiệm của các tổ phụ và tiên tri
    Các tổ phụ và các tiên tri có một kinh nghiệm thiêng liêng nào về Tabor cũng như bao ngọn núi khác ? Theo ngôn sứ Hôsê, Tabor là nơi thừa tự (x.Hs 5,1). Núi Sinai là một lãnh địa nơi Môisê đã được kêu gọi (x.Xh 3,1. 5), là nơi Thiên Chúa đã hiến thánh bằng việc ban luật của Ngài (x.Xh 24,12–18) và sự hiện diện vinh quang của Ngài (x,Xh 24,16). Đó là nơi ông Elia leo lên (x.1V 19,8). Ông muốn nghe tiếng Chúa phán, chắc chắn đó cũng là đích nhắm của các ngôn sứ thường thích ngồi cầu nguyện trên các đỉnh núi: Môisê ở Sinai (x.Xh 17,9), Êlia và Êlisê trên núi Camêlô (x.1V 18,2; 2V 1, 9; 4, 25). Như là nơi phượng tự cao vượt trên đất bằng, núi giúp con người gặp được Chúa. Chẳng phải trên một nơi cao mà người ta phải dâng hy lễ đó sao (x.Xh 24,4) ? Cũng chính trên đồi cao, người ta đã đặt Hòm Bia thánh được người Philitin hoàn lại (x.1Sm 7,1), tất cả đã tế lễ Chúa với toàn dân trên những nơi cao (x.1V 3,2).
    Núi cũng là nơi trú ẩn, nơi nương náu và chúc tụng: Núi Sion là nơi ẩn náu vững chắc và không lay chuyển (x.Tv 125,1). Thiên Chúa đã đặt vua của Ngài trên ngai Sion, núi thánh của Ngài (x.Tv 2,6), trên ngọn Moria, Abraham đã hiến tế con mình (x.2Sb 3,1; St 22,2). Chính nơi ngọn núi thánh đầy dẫy những kỷ niệm thần linh này, người tín hữu phải lên (x.Tv 24, 3), vừa đi vừa hát “ca khúc lên đền” (x.Tv 120–134), và luôn ở lại với niềm hy vọng (x.Tv 43,3), ở lại đó mãi với Chúa (x.Tv 15,1; 74,2). Vượt trên các vùng đồng bằng là nơi thường bị tàn phá, núi non ngày xưa từng là nơi ẩn náu cho ông Lót trong cơn hiểm nghèo (x.St 19,17), nó còn là nơi thu hút người công chính lúc bị bắt bớ tìm đến nương náu như muông chim (x.Tv 11,1; Ez 7, 16) Tuy nhiên, người công chính đó phải để ý: ngước mắt nhìn lên núi có nghĩa là chỉ nơi Giavê, Đấng tạo thành trời đất, họ mới có ơn phù trợ (x.Tv 121,1), nếu không, họ sẽ tin vào một tạo vật chỉ là biểu tượng của quyền năng (x.Đn 2,35.45), lúc đó sẽ trở thành biểu tượng của kiêu căng, của một Babylon cao ngạo bá chủ cả thiên hạ (x.Gr 51,25). Mọi kiêu căng, cao ngạo phải hạ xuống, chỉ có Thiên Chúa mới đáng tôn vinh (x.Is 2, 12–15).
    Sau hết, núi là nơi trao đổi lòng với lòng, như Ngài đã từng bộc bạch với tiên tri Giêrêmia:“ Ta nhớ lại tình yêu thời xuân trẻ, tình yêu của thời đính hôn khi ngươi theo ta đi vào sa mạc” (Gr 2, 2). Đây là điểm chính yếu, là cùng đích mà mọi tâm hồn nhắm đến, vì núi chỉ là phương tiện và phương thế đưa con người đến cùng Thiên Chúa.

          2. Núi đối với Chúa Giêsu
    Các ngọn núi trong cuộc đời Chúa Giêsu được các tác giả Tin Mừng nhất lãm đề cập đến cách khác nhau. Họ cùng xác nhận là Đức Giêsu thích ẩn mình trên các núi để cầu nguyện (x.Mt 14,23; Lc 6,12; 9,28), và chắc rằng Người tìm nơi cô đơn thanh vắng, tránh nơi công cộng huyên náo (x.Ga 6,15). Họ đều không nói đến Sion nhưng lại nói về núi Cây Dầu cũng như núi Biến Hình Tabor.
    Theo Matthêu, các ngọn núi tại Galilê là nơi dành riêng để Đấng Cứu Thế tỏ mình ra. Ngài trao cho các môn đệ quyền hành nhận từ Chúa Cha (x.Mt 28,16), cũng trên một ngọn núi, Ngài đã dạy dỗ dân chúng (x.Mt 5,1), chữa lành những kẻ xấu số và cho họ ăn thứ bánh lạ lùng (x.Mt 15,29…). Sau hết, Người biến hình trên núi Tabor (x.Mt 17,1).
    Tất cả những chứng từ trên đây là nguồn cảm hứng cho các tổ phụ sa mạc, chính vì thế họ không quản ngại khó khăn gian khổ để bỏ mình lên “núi Tabor”.

 

              II. NÚI THEO CÁC TỔ PHỤ SA MẠC

    Núi thường ám chỉ nơi thanh vắng linh thiêng, dễ dàng gặp gỡ Chúa. Nếu như trong kinh thánh, mỗi khi cần gặp gỡ Chúa, Dân Chúa lên núi thì vào thời các tổ phụ sa mạc, những tâm hồn khát khao tận hiến đã bỏ chốn đô hội để vào các vùng đồi núi, sa mạc hoang vu để sống đời sống thân tình với Thiên Chúa. Để thấy được giá trị của sự thinh lặng của núi non sa mạc, chúng ta tìm về thời kỳ đầu tiên cũng là thời oanh liệt của đời tu.
          1. Nơi thu hút các tâm hồn tận hiến
    Thời kỳ bách hại đạo đã làm nên chứng tích vẻ vang nơi các anh hùng tử đạo. Sang thời kỳ hoà bình, người kitô hữu muốn làm chứng cho Chúa Kitô, không còn bằng đổ máu nữa mà bằng tinh thần hy sinh hãm mình. Đồi núi sa mạc hoang vu chính là nơi họ thể hiện ước nguyện của mình.
    Khung cảnh thanh vắng, theo một tác giả thời trung cổ, là “tiếng gọi thầm kín” của Thượng Đế. Chính vì thế, dù ở thời đại nào hay hoàn cảnh nào, thinh lặng cũng được đề cao. Cho nên, vào thời kỳ đầu của đời tu, những vùng sa mạc bên dòng sông Nin (Ai Cập), Syria hay Palestina, đã thu hút đông đảo các ẩn sĩ. Biến cố Dân Chúa lưu lạc trong sa mạc 40 năm, hay Chúa Giêsu vào hoang địa 40 ngày là cảm hứng cho hành động và là đề tài để các ngài suy gẫm. Đương nhiên, hoang địa thiếu thốn mọi sự, nhưng các ẩn sĩ xác tín rằng: Thiên Chúa không bỏ rơi Dân Chúa trong suốt 40 năm thiếu thốn, không quên lãng Chúa Giêsu nhịn đói 40 ngày. Điều khiến các ngài vững tin chính là Lời Chúa, một thứ lương thực trường cửu như Chúa Giêsu khẳng định: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh mà còn nhờ lời Thiên Chúa phán ra” ( Lc 4, 4). Về điều này, lời của các văn kiện Giáo Hội cũng khẳng định: “ Hằng ngày phải có quyển Kinh Thánh trong tay, để nhờ đọc và suy gẫm mà học được những “kiến thức siêu việt về Chúa Giêsu Kitô CĐ Vaticano II, Sắc lệnh “Đức ái hoàn hảo”, số 6.”.
    Để đời sống đan tu được trật tự và đảm bảo hơn, một số vị như thánh Pacome, thánh Biển Đức đã lập nên những cộng đoàn đan tu đầu tiên. Từ đó, các cộng đoàn đan tu này thể hiện vai trò và chỗ đứng của mình trong Giáo Hội.

          2. Vai trò của những cộng đoàn đan tu
    Ngay từ thời ẩn tu, các ẩn sĩ sống bằng thành quả của mình. Hàng ngày, ngoài giờ lao động, họ cũng được hướng dẫn bởi các ẩn sĩ lỗi lạc. Các ngài đọc thánh vịnh, dâng lên Chúa những khúc ca cảm tạ của mình. Tuy nhiên, để có một trật tự kỷ cương hơn, những ý tưởng mới nảy sinh nơi các ẩn sĩ, cần có sự tương trợ lẫn nhau, và thế là đời sống cộng đoàn được hình thành. Những công việc lao động để mưu sinh và việc đọc kinh thần tụng vẫn được duy trì và coi như nhiệm vụ chính yếu của cộng đoàn đan viện. Tuy nhiên, họ vẫn giữ lại chiều kích chiêm niệm của một ẩn sĩ trước đây, và coi đó như tính chất chính yếu của đời thánh hiến. Về điều này, văn kiện về “Chiều kích chiêm niệm của đời tu” đã nói lên đặc tính của đời chiêm niệm: “Trong chính bản chất đời thánh hiến, chiêm niệm chính là cội rễ thâm sâu nuôi dưỡng và hiệp nhất tất cả mọi biểu lộ hiện hữu của các tu sĩ nam nữ “Chiều kích chiêm niệm của đời tu”, số 1.”.
    Ngoài những nhiệm vụ đọc kinh cầu nguyện, lao động mưu sinh, các đan viện đã một thời đóng góp cho Giáo Hội những công trình đáng kể như nghệ thuật thánh, bảo tồn các giá trị văn hoá, tôn giáo và khai phá các nền văn minh trên thế giới…

 

              III. NÚI TABOR NGÀY NAY

    Các đan viện ngày nay thừa hưởng một công trình lớn lao do cha ông để lại. Nếu như một tác giả thời Trung Cổ đã từng nói: “Truyền thống là một dòng sông cần nạo vét” thì ngày nay các đan viện đang tiếp tục xây đắp những công trình các đổ phụ đã đặt móng nền. Dựa theo những nét đặc thù của kinh thánh, cũng như truyền thống đan tu, chúng ta xem các đan viện như những “Tabor của ngày nay”.

          1. Nhà cầu nguyện
    “Nhà ta là nhà cầu nguyện…”, lời tiên tri Isaia (56,7) đã được Đức Giêsu trích dẫn, luôn vang vọng trong tâm hồn người đan sĩ. Cho nên thánh tổ Biển Đức đề cao vai trò của nhà nguyện khi nói: “Nhà nguyện phải đúng danh xưng là nhà nguyện, không được làm gì hay để bất cứ sự gì trong đó Tu luật thánh Biển Đức, chương 52.”. Điều này giúp cho đan sĩ ý thức vai trò chứng tá của mình qua kinh nguyện hàng ngày. Điều đó cũng được khẳng định trong hiến chế phụng vụ: “ Kinh thần vụ, vì là kinh nguyện công cộng của Giáo Hội, là nguồn đạo đức và lương thực cho kinh nguyện cá nhân nhằm tới việc thánh hóa trọn ngày đêm CĐ Vaticano II, Hiến chế về phụng vụ thánh, số 84 & 90.” và văn kiện “Chiều kích chiêm niệm của đời tu”: “Kinh nguyện là hơi thở không thể thiếu cho mọi chiều kích chiêm niệm..” Số 5..
    Nếu như đan viện là nhà cầu nguyện thì đan sĩ phải là chuyên viên cầu nguyện. Thật vậy, không gì phi lý khi một đan sĩ coi thường hoặc lơ đãng việc kinh nguyện và đời sống thinh lặng. Vậy, với một thời khóa biểu đều đặn của một ngày sống: thánh lễ, kinh thần tụng và nguyện gẫm, đan sĩ kết hợp trọn vẹn với Đức Kitô, thánh hóa bản thân và tha nhân. Với sự kết hợp cùng Đức Kitô trong âm thầm lao động, trong học tập, đan sĩ có một chuỗi sống nội tâm phong phú và chiêm ngưỡng không cùng.
    Sau hết, đan viện đại diện cho Hội Thánh dâng lên lời ca cảm tạ. Một vài vị giám mục đã ví von rằng: các đan viện như buồng phổi của giáo phận, như rễ cây hút nước và chất hữu cơ nuôi dưỡng thân mình là Hội Thánh. Đó là vai trò và là bổn phẩn của các đan viện.

          2. Nơi an tĩnh
    Theo tinh thần đan tu ngày nay, các đan viện là những trung tâm cầu nguyện và tĩnh tâm cho mọi kitô hữu. Các chứng nhân Tin Mừng đang hoạt động giữa lòng xã hội, chịu chi phối bởi những công việc vất vả bên ngoài, bởi thế cần phải có một nơi an tĩnh để hồi tâm lấy lại sức lực sau thời kỳ bôn ba đây đó. Bởi đó, đan viện được ví như nơi tĩnh dưỡng cho những tâm hồn tìm đến nương náu.
    Tuy nhiên, là trung tâm cầu nguyện, không có nghĩa đơn thuần chỉ là việc đến đó cầu nguyện, mà đan viện còn được xem như “lò đào tạo cầu nguyện”. Nếu như trên có nói: “đan sĩ là chuyên viên cầu nguyện”, mà chuyên viên thì phải là những người biết hướng dẫn trong việc cầu nguyện. Ngày nay, biết bao kitô hữu muốn tìm hiểu cầu nguyện và đời sống nội tâm và để tránh thoát tâm trạng sợ hãi trước tình trạng thinh lặng mênh mang… Họ được mời gọi đến các đan viện như là “nơi an tĩnh”, để tận hưởng vẻ êm đềm bình lặng, thụ huấn một đường lối và một phong cách của những đan sĩ được coi như những chuyên viên cầu nguyện.
    Ngày nay, giữa một xã hội đang phát triển mọi mặt, con người chạy theo nhu cầu vật chất thời đại, cùng với cung cách tiêu xài của một xã hội đang phát triển, con người đang đánh mất vẻ “êm đềm” của thời xa xưa… Chính vì thế tìm về đan viện, được coi như tìm về thế quân bình cho xã hội, và là một giải tỏa cho những ai đang bị “stress”, đang bị tổn thương mà hầu như mọi phương thuốc trần gian không cứu chữa nổi.
    Đó như là những gợi ý và là những đề nghị… Đan viện sẽ là “nơi an tĩnh” cho những ai đang “lao đao vất vả và gánh nặng”.

 

              KẾT LUẬN

    Bài viết không có tham vọng đưa ra những ý tưởng cao siêu về cầu nguyện hay giá trị của đời chiêm niệm mà chỉ khẳng định lại một vài đặc điểm của tu trào đan tu. Đương nhiên đăc điểm này được xây dựng trên Thánh Kinh, xuyên qua kinh nghiệm của các tổ phụ, các tiên tri, và nhất là của Chúa Giêsu. Qua hai mươi thế kỷ nay, giá trị đó tưởng chừng như đã mai một và không còn hợp thời với con người trong thời đại mới nữa. Thế nhưng, vẫn còn có những Xitô, những Camêlo, những Chartreuse, những anh chị em Tiểu đệ và Tiểu muội đã và đang sống tinh thần “Tabor” một cách chân tình và tha thiết.
    Tinh thần “Tabor” còn được hưởng ứng từ bao tâm hồn tận hiến khác, dù sống trong môi trường hoạt động, bận bịu với bao công việc, nhưng họ vẫn hướng về và sống tâm tình “Tabor” với lòng khát khao của mình. Ngay cả những anh chị em giáo dân đang vất vả mưu sinh, nhưng họ vẫn sống tinh thần “Tabor” ngay trong môi trường của mình.
    Chắc chắn, “Tabor” sẽ được nhiều người khao khát và ước mong tìm đến, và chắc chắn hơn “ Tabor” sẽ là nguồn tận hưởng cho bao tâm hồn đang chờ mong và khao khát một cuộc biến hình mới.

 

 

 

 

CÂY THẬP TỰ

 Diệp Lan Đình 

 

                              Một cây đầy bướu, nhánh rẽ ngang,
                              Là cây nhiều trái nhất Thiên Đàng,
                              Chín muồi thơm phức hương trầm ngọt,
                              Còn xanh: chat chúa, hăng là hát.

 

 

 

 

NỮ TÍNH TRONG ĐỜI CHIÊM NIỆM

  

 Thiên Giang

 

    Theo ý định của Thiên Chúa, người nam cũng như người nữ đều được tạo dựng theo hình ảnh của Người (x.St 1,27-28), đều được mời gọi sống cho người khác và trở thành một sự dâng hiến. Điều này áp dụng cho những ai đang sống trọn vẹn cho lý tưởng đó, tuỳ theo ơn gọi và khả năng riêng của từng người[1]. Qua đó, chúng ta nhìn về đời chiêm niệm để hiểu thế nào là “nữ tính” trong đời đan tu và làm cho “sự hoà hợp nam tính, nữ tính được lớn lên trong ý định của Thiên Chúa.[2]

Khi nói đến nữ tính, chúng ta liên tưởng đến Đức Maria, Người Nữ Ưu Tuyển của Thiên Chúa: “Đấng đầy ân sủng.” (Lc 1,28 ;1,42)

 

            1.Hồng ân nữ tính của Đức Mẹ

    Đức Maria là mẫu gương nữ tính hoàn hảo nhất, mẫu mực và hình bóng sự thánh thiện mà Hội Thánh phải có, đặc biệt là đức tin và đức ái[3]. Mẹ đã dâng hiến toàn thân cho Thiên Chúa “Này tôi là nữ tì của Thiên Chúa”(Lc 1,37). Mẹ luôn vâng theo và phụng sự Thiên Chúa trong ý muốn cũng như chương trình cứu độ của Người. Mẹ luôn sống trong sự thật, trong đơn sơ, trong khiêm nhường phục vụ. “ Mẹ dịu dàng trong thương xót, lịch sự, xinh đẹp trong tình yêu, đau thương trên tội lỗi, nhưng cũng mạnh mẽ trong sự chịu đựng ngoan cường và cương quyết[4].”

    Chúa Thánh Thần đã bao phủ trên Mẹ, phản ánh nơi Mẹ sự duyên dáng, vẻ huy hoàng của sự trinh khiết và Ngôi Lời Thiên Chúa đã được ban cho Mẹ. Chính từ nơi Mẹ, Đức Giêsu được lớn lên trong chúng ta. Tình yêu hiền mẫu của Mẹ luôn quảng đại, tinh tế dịu dàng, tâm hồn Mẹ vẫn tỏa sáng bình an, thanh thản  cả trong đau thương cùng tột của cõi lòng.

    Chúng ta không thể sánh ví với Mẹ, Người Nữ tuyệt hảo của Thiên Chúa, nhưng một cách nào đó, chúng ta là con, chúng ta giống Mẹ. Chúng ta cần khám phá ra sự phong phú của nữ tính. “Sự khám phá này đi đôi với ý thức rõ ràng về sự trao ban và lòng quảng đại của Thiên Chúa[5]. Dù chúng ta là người nam hay người nữ, điều đó không đặt thành vấn đề, cũng như tác động cứu độ và thánh hoá của Chúa Thánh Thần không hề bị giới hạn. (x.Gl 3,28)

 

            2.Hiến tế 

    Khát vọng sâu xa của những tâm hồn yêu mến là chỉ sống vì người yêu.  Đan sĩ cũng muốn dứt bỏ mọi sự, để “chỉ  sống cho một mình Thiên Chúa[6] ”, sống giữa trần gian nhưng không thuộc về trần gian. Dưới tác động của Thần Khí, hiến tế đó chính là sự dâng hiến cách hoàn toàn tự do, không so đo, không tính toán. Đời sống an hoà, thanh khiết, khiêm nhu, dịu dàng nhưng mạnh mẽ nơi đan sĩ luôn thu hút mọi ánh mắt hướng về Thiên Chúa. 

    Trong thực tế, chúng ta dễ có nguy cơ qui mọi sự về mình và tìm kiếm mình dưới mọi hình thức, cả trong những điều xem ra thánh thiện và cao quí nhất, thay vì tìm kiếm và qui hướng mọi sự về Chúa. Con người càng vươn lên cao trong Thiên Chúa lại càng nhận thấy sự nhỏ bé thấp hèn của bản thân và mọi sự trần gian này chẳng đáng gì trước Đấng tốt lành vô biên. Chính chân nghiệm này giúp đan sĩ hân hoan bước đi trong từ bỏ hy sinh, với trái tim nở rộ niềm vui trong nội vi đan viện. 

    Như thế, toàn bộ đời sống đan sĩ qui tụ vào việc tôn thờ Thiên Chúa và mang Chúa đến cho anh chị em. Để được như vậy, đan sĩ thông phần vào hy tế thập giá của Chúa Kitô và chu toàn thánh ý Chúa Cha hầu trở nên hiến lễ dâng lên Chúa Cha và tấm bánh nhỏ bé bẻ ra trên bàn tiệc cuộc đời cho anh chị em mình.

 

            3.Tình yêu – lãnh nhận và trao ban

     “Trong Giáo Hội, tất cả mọi người nam, nữ đều là “Hôn thê” bởi vì họ lãnh nhận tình yêu trao ban của Đức Kitô, Đấng cứu độ và cũng cố gắng đáp trả tình yêu đó qua việc dâng hiến chính mình.[7]” Trong đời  đan tu, đan sĩ sống mầu nhiệm cánh chung của Giáo Hội Hiền Thê với Đức Kitô Lang Quân, được nuôi dưỡng bằng việc đón nhận Mình Máu Chúa hằng ngày, được trở nên hiền thê xinh đẹp hơn, thánh thiện hơn, tinh tuyền hơn trong tình yêu Thần Linh của Thiên Chúa (x.Rm 5,5). Chính tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa điểm trang cho đời đan sĩ nét duyên thầm ý nhị để dành riêng cho Ngài (x.Dc 2,10). Chúa Thánh Thần sẽ dẫn “hiền thê” của Ngài vào trong sự thật và khôn ngoan. Đó là hai phẩm chất của một hiền thê yêu dấu, có khả năng tiếp nhận và trao ban tình yêu, một tình yêu dâng hiến hoàn toàn cho Đức Kitô như chính Ngài đã tự trao ban chính mình cho chúng ta. Một tình yêu vô vị lợi, tha thiết, dịu dàng và đầy kính trọng, đem lại niềm vui cho mọi người.

    Như người nữ trong gia đình làm mọi công việc không tên với tất cả tình yêu mến ngọt ngào, chân thành quảng đại,  và phục vụ tận tình để mang đến hồn sống tươi trẻ, hạnh phúc tràn đầy cho những người chung quanh. Cũng vậy,  người đan sĩ khi “ẩn dấu trong Thiên Chúa”,  sống đơn thường nhỏ bé nơi nội vi đan viện, cầu nguyện trong thinh lặng, chu toàn những công việc hằng ngày với lòng yêu mến sẽ làm quang tỏa tình yêu Chúa cho mọi người và mọi tạo vật trong niềm vui sâu lắng. 

 

            4.Mẫu tính và khiết tịnh

    Đức khiết tịnh đầy tràn tình yêu Thiên Chúa làm cho đời sống đan sĩ thêm phong phú, hài hòa. Khi dâng hiến sự thanh khiết của mình cho Thiên Chúa, đan sĩ được Thiên Chúa làm cho nên phong nhiêu, sung mãn, nhờ kết hiệp với Đức Kitô. Qua đó diễn tả lòng từ ái, khoan nhân của Thiên Chúa, như tấm lòng của người mẹ luôn gần gũi yêu thương, chăm sóc, hy sinh cho con cái.

    Theo đoàn sủng của mỗi Hội Dòng, dưới ánh sáng Tin Mừng, đời sống thanh khiết mở ra cho các người tận hiến thiên chức làm Mẹ “theo Thần Khí”(x.Rm 8,4), như chính trường hợp của thánh Phaolô đã quặn đau để sinh ra các kitô hữu (x.Gl 4,19). Thật không gì cao quí hơn thiên chức làm mẹ, qua đó nhân loại có một tương lai. Nhưng bằng cách nào chúng ta có thể làm mẹ các tâm hồn ?

    Thiên Chúa yêu thích hiện diện trong những nhà tạm sống động là tâm hồn thanh khiết hơn các nhà tạm vật chất. Như thế, những tâm hồn thanh khiết cưu mang Lời và sinh hạ Lời cho người khác. Cuộc đời âm thầm kín ẩn của đan sĩ chỉ có ý nghĩa khi kết hiệp với Đức Kitô và sinh hạ những người con cách huyền nhiệm. Đó là công cuộc của Chúa Thánh Thần thực hiện nơi các tâm hồn thanh khiết[8] như chính Người đã thực hiện nơi Đức Maria trong việc hạ sinh Đấng Cứu Thế. Cùng với Mẹ dưới chân thập giá, đan sĩ hạ sinh những người con trong đức tin, cho Nước Trời[9]

 

            5.Một khả năng trực giác

    Trái tim người nữ rất tinh tế và nhạy cảm với lòng trắc ẩn. Có người mẹ nào lại không đau đớn, không khô héo khi con mình đau khổ ! Suốt cuộc đời, trái tim Mẹ đã chịu xuyên thấu. Cũng vậy, trái tim đan sĩ cũng phải được mở rộng để khao khát mọi điều tốt lành nhất cho con cái, để giang rộng đôi tay ôm ấp các linh hồn và đưa về cho Thiên Chúa.

    Một tâm hồn trong sáng đầy ơn Chúa giúp cho đan sĩ có khả năng tiên đoán mau lẹ, thấu cảm, nắm bắt được nhu cầu của tha nhân và có được trực giác về mối hiệp thông với các tâm hồn đang được họ sinh hạ cách quảng đại. Có thể nói, con tim có tình yêu tinh ròng, sâu đậm bao nhiêu thì trực giác càng tinh tế,  lòng trắc ẩn càng nhạy cảm bấy nhiêu. Cho nên, đan sĩ càng chìm sâu vào trong Thiên Chúa bao nhiêu, thì khả năng đồng cảm với những vui buồn hạnh phúc, với những khổ đau tội lụy của tha nhân càng tinh tế bấy nhiêu. Nhờ có trực giác này, đan sĩ cảm nhận được những vui buồn, trăn trở, những nhu cầu tâm linh của con người thời đại để sẵn sàng hy sinh cho họ ; thông hiệp với họ trong vui mừng và hy vọng, trong âu sầu và lo lắng .  

    Như vậy, khi sống đời đan tu trong yêu mến, vâng phục, hy sinh, nguyện cầu, đan sĩ ý thức mình được thông phần vào hiến tế cứu chuộc của Chúa Giêsu và đồng cảm với những yếu đuối của anh chi em mình, “Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối” (2 Cr 11,29). Đây chính là đời sống phản ánh tình yêu của Thiên Chúa đối với con người.

 

            Thay lời kết:

    “Trong tĩnh có động, trong âm có dương.” Trong âm thầm, vui tươi, chan hoà, thanh tịnh đầy nữ tính của đời đan tu vẫn ẩn chứa một sức sống mãnh liệt của tâm hồn dâng hiến đời mình cho Thiên Chúa, Giáo Hội và các linh hồn. Thánh Gioan Thánh Giá nói: “Một việc làm nhỏ bé vì lòng mến thì cao trọng hơn mọi công trình vĩ đại hợp lại”. Đan sĩ không những được mời gọi ra đi mà còn ở lại để được yêu thương (x.1Cr 13,13) và biểu lộ tình yêu của Đức Kitô Lang Quân cho thế giới, qua chính đời đan tu âm thầm dâng hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa.

 

     


 

 [1] ĐGH Gioan Phaolo II, Tông thư Phẩm Giá Người Phụ Nữ (Mulienris dignitatem)

[2] Sđd,

[3] CĐ Vaticano II, Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội, số 53.

[4] Đức Maria Và Đời Sống Ẩn Dấu, trang 313.

[5] ĐGH Gioan Phaolo II, Tông thư Phẩm Giá Người Phụ Nữ (Mulienris dignitatem)

[6] CĐ Vaticano II, Sắc lệnh Đức Ái Hoàn Hảo, số 5.

[7] CĐ Vaticano II, Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân, số 10.

[8] ĐGH Gioan Phaolo II, Tông thư Phẩm Giá Người Phụ Nữ  (Mulienris dignitatem)

[9] ĐGH Gioan Phaolo II, Thông điệp Mẹ Đấng Cứu Chuộc, số 18.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THẦN HỌC VÀ CẦU NGUYỆN

 Nguyên tác: “Théologie et prière”,
Collectanea Cisterciensia 62 (2000), pp. 187-192.
Tác giả: Daniel BOURGUET, Pasteur E.R.F,
Chuyển ngữ: Duyên Thập Tự và Sarto Hòa.

     Mỗi một trong hai từ này đã làm chảy biết bao nhiêu bút mực, đến nỗi thật sự là điên rồ nếu muốn cùng lúc bàn luận về vấn đề này trong một vài dòng! Đúng vậy, nhưng có phải vì thế mà người ta phải im lặng về điều có thể làm cho cuộc sống sung mãn? Về phần tôi, thần học và cầu nguyện chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống của tôi đến nỗi tôi phải dành thời gian đề cập đến để thấy rõ hơn điều mà Thiên Chúa ban tặng cho tôi sống. Và đó sẽ là niềm vui của tôi, nếu như những dòng này có thể giúp cho những người khác thấy rõ hơn trong đời sống của họ.        

  D.B.

    Ngày nay, người ta có xu hướng mừng kỷ niệm bách chu niên, kim khánh hay những buổi sinh nhật khác! Năm 1999, là năm kỷ niệm thập lục bách chu niên ngày qua đời của đan sĩ Evagre, một người hẳn còn xa lạ với nhiều người trong chúng ta. Con người này được diễm phúc có được những bậc thầy vĩ đại nhất ở thời đại ông: Về thần học có thánh giáo phụ Grégoire thành Nazianze và về cầu nguyện có ẩn sĩ Macaire thành Alexandrie. Đến ngày nay, hai bậc thầy này thuộc thành phần những vĩ nhân; danh tiếng của các ngài rất rộng lớn. Từ hai giáo huấn trên, đan sĩ Évagre rút ra kinh nghiệm sau đây trong một công thức:

    “Nếu bạn là thần học gia, bạn phải thật sự cầu nguyện; và nếu bạn cầu nguyện thật sự, bạn là thần thọc gia”.

    Cho đến hôm nay, tôi đã không tìm thấy một câu nào cô đọng và chính xác hơn diễn tả mối liên kết giữa thần học và cầu nguyện. Chắc chắn tôi sẽ không nói hay hơn Évagre. Một cách đơn giản, để tỏ lòng tôn kính ngài nhân dịp kỷ niệm 1.600 ngày ngài qua đời và để tôn vinh những bậc thầy của ngài, một cách nào đó cũng là những vị thầy của tôi, tôi chỉ muốn suy niệm công thức tuyệt vời của Évagre, để từ đó làm nổi bật một vài điều hoà hợp trong công thức ấy.

    Tôi đã ghi nhận rõ rằng Évagre không đặt mối tương giao giữa hai hoạt động (thần học và cầu nguyện) cũng như hai cá thể (thần học gia và người cầu nguyện). Một cách chính xác hơn Évagre chỉ nói về một cá thể duy nhất (thần học gia), mà chỉ có một hoạt động (cầu nguyện). Chính vì thế, ông đặt lên trước mối liên hệ cấu thành và bất khả phân ly, kết hợp giữa cái “là” (thần học gia) và cái “làm” (cầu nguyện). Cầu nguyện tạo nên thần học gia, mà không có cầu nguyện, thần học gia chẳng còn là gì. Nhưng cầu nguyện cũng phát xuất từ thần học gia, mà không có ông thì cầu nguyện cũng không còn.

    Chắc hẵn Évagre đã tìm thấy trong công thức đó cách diễn đạt tốt nhất về mối liên hệ bất khả phân ly giữa thần học và cầu nguyện. Tôi sẽ không làm gì khá hơn. Tôi chỉ đặt mình vào một cấp độ khác, cấp độ của phép ẩn dụ, để gợi nên mối liên kết này.

    Thần học và cầu nguyện là hai chị em: không phải là hai kẻ cạnh tranh, cũng không phải là hai người xa lạ, nhưng thực sự là hai chị em. Họ thân cận nhau đến nỗi khó mà nói ai là chị cả. Người ta không thể đi xa hơn trong việc phân biệt sao? Vì hai chị em này yêu thương nhau đến nỗi người này sẵn sàng nhường quyền làm trưởng nữ của mình cho người kia. Phải chăng họ họ song sinh, tôi không rõ!

    Thần học và cầu nguyện là hai chị em, mẹ họ là sự nhận biết Thiên Chúa, và cha họ là Chúa Thánh Linh.

    Vâng, Chúa Thánh Linh là Cha của cả hai chị em, đối với người này cũng như người kia; Người hằng săn sóc hai đứa con như nhau, Người giáo dục, sửa bảo, động viên, nâng đỡ và khích lệ chúng; tóm lại, Ngài chỉ cho chúng con đường sự sống và làm tất cả những gì mà một người cha nhân hậu làm cho những đứa con gái yêu quí.

    Không có Chúa Thánh Linh, thần học không còn chút hương vị nào trong diễn văn của mình. Nó phỉnh gạt những ai lắng nghe và đánh lừa những ai đặt tin tưởng vào nó. Không có Chúa Thánh Linh thì Cầu Nguyện mất hết vẻ thiện mỹ; nó lạm dụng những ai hướng về với nó và nhốt họ trong chính họ, để sau đó đưa họ đến thất vọng hay một thứ hoang tưởng. Không có Chúa Thánh Linh, cuối cùng hai chị em sẽ khinh dễ nhau.

    Không ai biết Chúa Thánh Linh đến từ đâu và đi đâu, nhưng các cô con gái của Ngài, biết khi Ngài hiện diện và họ trông chờ Ngài đi qua để lắng nghe; niềm vui của họ ở nơi đó cũng như Ngài vui lòng cho ai muốn đón nhận họ. Để không bao giờ xa lìa chúng, Chúa Thánh Linh đã đưa cả hai đến cùng một “nhà trẻ”; Ngài xin chủ quán săn sóc cả hai: “Nếu bạn là thần học gia, bạn hãy lo lắng cho cả hai, nếu bạn là người cầu nguyện, bạn cũng hãy làm như thế! Và tại sao bạn không đồng thời là cả hai?” Như vậy, tại sao lại chia lìa những người mà Chúa Thánh Linh yêu thương cũng bằng một mối tình và Ngài thích viếng thăm  khi Ngài cùng biết cả hai?

    Nhận biết Thiên Chúa là mẹ của hai chị em; chính người mẹ này cho chúng chào đời, đưa chúng vào trần gian, mở cho chúng đôi mắt và nuôi dưỡng chúng ngày qua ngày trong sự khiêm hạ lớn lao nhất.

    Người phụ nữ ngày là ai vậy? Bà khiêm hạ đến nỗi không nói gì về bà. Một người nữ khiêm hạ sống trong thinh lặng trước điều khôn tả. Bà đã thấy cái vô hình và ánh mắt đã được biến đổi mãi mãi.

    Thần học và cầu nguyện có cùng đôi mắt như mẹ chúng và biết nói điều mà mẹ chúng không thốt lên lời, nhưng chính người cha dạy chúng diễn đạt.

    Sự nhận biết về Thiên Chúa thuộc trật tự của kinh nghiệm. Xuyên qua thần học, nó trở thành một kiến thức, có thể được thông tri một phần cho người khác. Ngang qua cầu nguyện, nó trở thành lời đáp trả cho Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải.

    Không có mẹ, thần học trở thành mớ lý thuyết mơ hồ và cầu nguyện trở thành kẻ ba hoa, cả hai cũng trống rỗng và cao ngạo.

    Nếu sự nhận biết Thiên Chúa thuộc trật tự kinh nghiệm thì kinh nghiệm này giống như một mạch nước ngầm, đôi khi trào tuôn thành dòng suối, mà những người vui hưởng biết định vị một cách rõ ràng trong đời sống của họ; hoặc là được nuôi dưỡng qua bộ rễ, tuy nhiên, thảm thực vật phong phú nó khó định vị điều mà nó  cảm thấy hàm ơn.

    Kinh nghiệm về Thiên Chúa thì đa dạng, chính vì thế cũng có sự đa dạng trong thần học và cầu nguyện, nhưng chỉ có một Chúa Thánh Linh bảo đảm cho sự hiệp nhất. Vậy, chúng ta phải biết biện phân để biết hệ tại điều gì thần học và sự cầu nguyện của chúng ta, dù khác biệt, cũng thật sự là con của cùng Chúa Thánh Linh, vì rằng tất cả không phải như vậy ngay khi chúng có tham vọng là như thế.

    Như vậy, làm sao biện phân đây? Chính hệ tại việc hai chị em sẵn sàng quảng đại phục vụ nhau. Thần học có thể trở thành một thứ thần luận viễn vông và tự tách rời Thiên Chúa hằng sống. Lúc đó, cầu nguyện giúp biện phân xem thần học có đúng đắn và ngay thật, thần học bắt nguồn từ Thánh Kinh và mang tính chất thiêng liêng, có gần gũi với Thiên Chúa hằng sống, Đấng tự mạc khải không?

    Về phần mình, cầu nguyện có thể co cụm vào trong chính mình và trở thành một thứ độc thoại nội tâm. Khi ấy thần học giúp biện phân xem cầu nguyện có đích thực ngay thật, thờ ngẫu tượng hay hãnh tiến về chính mình, đoạn giao với Thiên Chúa hằng sống không?

    Khi một trong hai chị em gặp cơn nguy khốn, thì người kia đến giúp đỡ. Một mình thì luôn luôn nguy hiểm. Nhưng khi chung sống hoà hợp, họ luôn tự tin dấn thân.

    Còn phải nói gì đây về sự thoả hiệp giữa hai chị em? Cầu nguyện ngăn cản thần học rơi vào trong những mặt trái của thị hiếu đương thời. Thật vậy, thần học luôn luôn bị cám dỗ tìm cách làm vui lòng người ta, trong khi cầu nguyện thoát khỏi mọi thứ dư luận.

    Thần học có thể làm lạc hướng trong thái độ mị dân, nhưng cầu nguyện biết emỉà cầu nguyện có thái độ né tránh nói mình và giúp đỡ tránh khỏi những bước chân sai lầm.

    Về phần mình, thần học bắt cầu nguyện phải chính xác và cũng như giúp nó thoát khỏi những thứ mê hoặc, vì đôi khi cầu nguyện bị cám dỗ trốn tránh con người và có thể làm lạc đường trong sự yếm thế. Nhưng Thần Học biết rõ chị mình và giúp đỡ tránh khỏi những bước chân sai lầm. Mỗi người thật sự cần đến người khác để sống, để thật sự trở nên chính mình.

    Cầu nguyện thân thiết với thinh lặng và cùng nó sáng tác nên những bản thánh ca du dương. Thần Học sợ thinh lặng và cố gắng mau chóng chứa đầy thinh lặng để không bị rơi vào thói ba hoa.

    Cầu nguyện và thần học đều cần đến ngôn ngữ; thần học vì nhu cầu thông tri cho người khác; cầu nguyện cũng vì nhu cầu tương giao với Thiên Chúa. Thần học cảm thấy thoải mái hơn trong văn xuôi; cầu nguyện ưa chuộng thi ca hơn. Kẻ này vui lòng ca hát, dù chỉ một mình, mà không hề bực bội nếu chẳng ai đoái hoài ngoại trừ Thiên Chúa, mà không có Ngài nó sẽ cô quạnh. Kẻ kia cố gắng tinh lọc những ý niệm để chắc chắn rằng mọi người sẽ hiểu, nó xấu hổ vì bị hiểu lầm, bởi vì nó biết Thiên Chúa cũng đau khổ về điều ấy. Thần học rảo quanh các công viên và phố xá để nói về Đức Vua. Cầu nguyện đi vào trong cung điện và không ngừng ngỡ ngàng trước sự hiện diện của Đấng mà nó không bao giờ muốn rời mắt. Im lặng là điều có lợi ích cho cầu nguyện để đưa tới hành động. Nói hay hơn là điều có lợi cho thần học để đưa tới hành động.

    Niềm hạnh phúc lớn lao nhất của hai chị em là hằng ngày sống bên nhau. Đó là điều mà chúng đã trung thành thực hiện trong hơn một thiên niêm kỷ của Giáo Hội; cho tới một ngày, tại một nơi nào đó ở Tây Phương, Kẻ Chia Rẽ đã đi qua. Khi ấy một bi kịch đã bất chợt xảy ra, mà hậu quả cho tới ngày nay vẫn còn lượng định được. Giáo Hội Tây Phương vẫn chưa được hồi phục. Nói vắn gọn, bi kịch ở Tây Phương là đã nhốt thần học trong một toà nhà được coi là thích hợp là đại học và nhốt cầu nguyện trong một toà nhà khác là đan viện. Khi ấy cả hai chị em đã ngã bệnh, mỗi người theo cách của mình, và không còn được hưởng sự hiện diện của người kia.

    Cầu nguyện tự hạn chế trong mùi hương trầm, mà cuối cùng thần học không chịu được nữa. Thần học mở toang cánh cửa, hoà trộn cả đại dương với hơi thở của Chúa Thánh Linh, trong khi đó cầu nguyện đóng cửa lại, ngăn cản Chúa Thánh Linh ban tặng một luồng sinh khí mới.

    Có người này mà không người kia thì mỗi một người trong hai chị em sẽ trở nên kiêu ngạo và nhìn thấy nơi người kia là một địch thủ. Không có chị mình, thần học, trong sự kiêu ngạo của mình, đã đi tới chỗ làm phân ly Giáo Hội, mà quên rằng cầu nguyện đặt Giáo Hội trên con đường hiệp nhất. Về phần mình; không có chị cầu nguyện đi tới chỗ ra vạ tuyệt thông và cả coi thường Thần Học, điều mà Thần Học ngăn cản cầu nguyện thực hiện. Cả hai đều đã quên rằng mỗi người có thể trở thành nơi nương tựa tốt biết bao cho người kia.

    Mỗi khi cầu nguyện lên án hay xa lìa thần học thì cầu nguyện rơi vào kiêu ngạo. Cầu nguyện là khiêm hạ, nó đi tìm sự đồng hành của thần học; với sự hiện diện của thần học, cầu nguyện trở nên khiêm nhường hơn.

    Mỗi lần từ nơi cao nhìn xuống cầu nguyện, thần học rơi vào kiêu ngạo. Thần học là khiêm nhường, khi được giản cơn khát trong nguồn nước này, thần học trở nên khiêm nhường hơn.

    Không có thần học, cầu nguyện coi khinh nhận thức uyên bác. Không có cầu nguyện, thần học sợ hãi nhìn nhận sự hiểu biết thần bí. Khi ấy thần học kiêu hãnh về tri thức của mình một cách tinh tế hơn, và cầu nguyện tự khoe khoang về nhận thức của mình một cách sâu xa hơn.

    Một khi đã chia ly, cả hai chị em đều tưởng mình là nữ hoàng, nhưng thực ra chúng chỉ là những nữ tỳ phục vụ cùng một Đức Vua trong việc đối thoại với thần dân của Ngài; người này nói về Thiên Chúa cho con người và người kia nói về con người với Thiên Chúa.

    Như mọi nữ tỳ, thần học và cầu nguyện phải học biết hiện diện nơi cung điện Đức Vua, đồng thời vẫn giữ một khoảng cách.

    Ngay cả sau khi nói về Thiên Chúa cho con người và thấy con người quay về với Thiên Chúa và mở cửa lòng cho Ngài trong cầu nguyện, thần học vẫn biết rằng mình phải là nữ tỳ vô dụng. Lúc bấy giờ niềm vui của thần học là thấy người chị trao ban điều quí giá nhất của mình.

    Ngay cả sau khi nói về con người với Thiên Chúa và lắng nghe Thiên Chúa giáo huấn cõi lòng của con người, cầu nguyện vẫn biết rằng mình phải trở thành một nữ tỳ vô dụng. Khi ấy niềm vui của cầu nguyện là để người em chuẩn bị tâm hồn con người đón nhận điều phát xuất từ Thiên Chúa!

    Ngày nay thần học và cầu nguyện đang mơ hồ tìm kiếm nhau, để từ từ nối lại mối liên hệ thân thiết. Mỗi bên vẫn còn cảm thấy một chút ngượng ngịu trước mặt người kia; nhưng mỗi bên tìm kiếm để hiểu rõ hơn đời sống của người kia suốt thời gian chia ly, những lệch lạc và những đau khổ xuất phát từ cuộc chia tay này.

    Thần học ơi! đừng sợ tìm lại người chị và học nơi chị mình là quì gối xuống. Và hỡi cô chị cầu nguyện, cũng đừng sợ tìm lại em mình và chăm chú nơi bàn giấy. Và trong tiến trình khiêm tốn này, luồng gió Chúa Thánh Linh sẽ đến mơn trớn khuôn mặt của hai chị em. Các bạn là hai chị em mà Đức Vua thích chiêm ngắm cả hai cùng một lúc.

 

 

 

 

 

 

XIN ANH ĐỪNG BUỒN

Diệp Lan Đình

 

      Đừng buồn khi em trách, Anh yêu!
      Vì yêu, êm trách Anh thật nhiều.
      Trách Anh vì đã yêu em quá!
      Yêu quá nên Anh đã phải liều.

 

                      Liều gì, liều quá thế hở Anh?
                      Thập giá cây cao có tốt lành,
                      Cho Anh hái quả khi chưa chin,
                      Khi còn chặng chịt những gai xanh!

 

                                   Trăm ngàn vạn sự tại yêu thôi,
                                   Yêu đến cuồng si đi mất rồi.
                                   Cây cao mà kể chi nguy hiểm,
                                   Miễn Người hái được quả cho tôi.
 

 

 

 

 

 

 

ĐẠI HỘI XITÔ NĂM 2005

 

FM. Dominico Phạm Văn Hiền

 

              I.Đại hội Xitô trong dòng lịch sử

     Ngược dòng lịch sử để trở về nguồn của đại hội Xitô, chúng ta cảm thấy hãnh diện về việc xuất hiện đại hội ngay từ thời khai nguyên Xitô, đó được coi như yếu tố quan trọng để củng cố và phát huy tình hiệp nhất giữa các đan viện do Xitô sáng lập. Chính thánh Stephano Hardingo, viện phụ thứ ba của Xitô, đã có sáng kiến độc đáo này. Qua hiến chương bác ái (Carta Caritatis) do Ngài thảo ra trước năm 1119, ngài đã qui định, mỗi năm các viện phụ của tất cả các cộng đoàn sẽ được triệu tập. Ban đầu, đại hội chỉ được coi như hội đồng đan viện nới rộng và do đó, toàn quyền nằm trong tay thánh phụ Stephano. Nhưng qua thế hệ thứ hai, tức thời thánh Benado, vai trò của viện phụ Xitô ngày càng lu mờ đi, còn viện phụ bốn nhà trưởng tử (lập đầu tiên) là Ferrté, Pontigny, Clairvaux và Morimond càng chiếm ưu thế.

     Mục đích của đại hội được nêu rõ trong câu:”tractare de animarum salute” bàn đến phần rỗi các linh hồn. Các linh hồn nói đây chính là các đan sĩ trong các đan viện. Các bản báo cáo còn lưu trữ trong văn khố Xitô chứng minh tầm quan trọng của các đại hội thường niên. Đại hội lắng nghe, thẩm định và đề ra phương hướng cho sinh hoạt đan tu. Sinh hoạt này đặt cơ sở trên Tu Luật thánh phụ Biển Đức và trên hiến chương Bác Ai, mang tính đồng nhất trong các đan viện. Điều này không làm ta bỡ ngỡ vì hầu hết các đan viện đều nằm trên các vùng của Châu Âu, họ có chung một nền văn hoá, một nếp sống và một truyền thống đan tu. Sự đồng nhất này sẽ bị buông lỏng từ từ khi mầm mống Xitô được gieo vào các châu lục khác như ta thấy ngày nay.

     Hiện thời, gia đình Xitô có mặt trên khắp năm châu, với hai nhánh chính. Xitô chung phép (commune observance) và Xitô Nhặt phép (stricte observance). Nhánh Xitô nhặt phép giữ được sự thuần nhất trong các đan viện. Tất cả đều trực thuộc trung ương và từ 1892 có một Bề Trên Tổng Quyền chúng. Còn Xitô chung phép kết nạp tới 13 hội dòng (congrégations), với ba hạng nếp sống: đơn thuần chiêm niệm, chuyên lo mục vụ giáo xứ hay giáo dục, vừa chiêm niệm vừa kiêm nhiệm vài công tác mục vụ. Do đó, mỗi hội dòng có hiến pháp riêng và tổ chức độc lập, mặc dù cùng có một bề trên tổng quyền chung ở tại Roma. Hiện thời, Xitô chung phép có 13 hội dòng, và hội dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam  chiếm chỗ cuối cùng, vì mới được sáp nhập Xitô 1933.

 

              II.Đại hội Xitô năm 2005

      Đại hội Xitô chung phép được triệu tập cứ 5 năm một lần. Và lần này tổ chức tại trung tâm mục vụ Salesianum của dòng Dom Bossco, từ ngày 1 đến 12 tháng 9. Thành phần chính thức tham dự gồm các bề trên và đại biểu, tổng số là 126 vị. Ngoài ra còn có các ban ngành, các chuyên viên kỹ thuật và một số khách mời (đặc biệt 2 Giám Mục và một Viện mẫu Xitô thuộc giáo hội Luther ở Đức).

Chương trình của Đaị Hội được phân bố như sau:

    – các bản báo cáo của quí vị lãnh đạo toàn dòng.

   – các cuộc bầu cử: Bề trên cả và ban ngành.

   – các bài tham luận của các chuyên viên

*Ngày khai mạc( 1/09/2005)

      Mở đầu Đại Hội là một thánh lễ trọng thể và một buổi khoản đãi đại hội được tổ chức tại dinh Bề Trên Cả (Curia generalis). Thánh lễ được cử hành trong nhà nguyện vừa được trùng tu, đơn sơ nhưng không kém vẻ mỹ thuật đan tu. Nhân dịp này, Cha Bề Trên Cả Mauro Esteva muốn giới thiệu với đại hội lớp học đan tu khoá V, dành cho khoảng 55 anh chị em trẻ của các hội dòng Xitô. Các giáo sư được mời dạy lớp học này đều là những giáo sư tên  tuổi, đặc biệt là các giảng viên đại học thánh Anselmo, thuộc dòng Biển Đức Roma.

      Đại hội rất phấn khởi trước những thành tựu to lớn của khoá học, đảm bảo cho thế hệ đan tu tương lai. Niềm phấn khởi sẽ đưa đại hội vào những ngày làm việc khá vất vả và gay cấn…

 

              A.Các bản báo cáo

1. Bản báo cáo của Cha Bề Trên Cả

        Vào lúc 4 giờ chiều ngày 01/09/2005, đại hội bắt đầu phiên họp. Mở đầu là diễn văn khai mạc của Bề Trên Cả Mauro Esteva, tiếp theo là bản báo cáo của ngài về tình hình chung và nếp sống của toàn dòng Xitô Chung Phép.

          Với tư cách là bề trên cả, ngài đã có dịp thăm viếng các đan viện rải rác trên mọi châu lục thuộc 13 hội dòng. Mặc dù không đi vào chi tiết-vì sẽ có các bản báo cáo của các bề trên hội trưởng-cha Bề Trên Cả cũng cho thấy những tia sáng và bóng tối chung của dòng. Theo ngài, làn gió của Thánh Linh đang đổi hướng và thổi mạnh tại các nước Á, Phi; trong khi đó “bóng ma tuyệt chủng” đang đe doạ một số hội dòng Âu-Mỹ. Điểm này, như đã nói ở trên, sẽ được chứng minh qua các bản báo cáo của các viện phụ hội trưởng của 13 hội dòng.

 

2. Bản báo cáo của các bề trên hội trưởng.

          Để phần này thêm vẻ sinh động, trong đại hội lần này, trước mỗi bài báo cáo cuả các viện phụ hội trưởng, có mục trình chiếu cơ sở, sinh hoạt và các thành viên của hội dòng liên hệ.

        Chúng tôi không thể mô tả chi tiết từng bản báo cáo, chỉ xin nêu một ít điểm khái quát sau đây:

a.Về nhân sự

          Các hội dòng Âu Châu và Nam Mỹ đang trải qua mùa “hạn hán” trầm trọng về nhân sự. Những đan viện từ nhiều thập niên qua không có thành viên mới. Ở một số đan viện khác, ơn gọi tăng theo kiểu “nhỏ giọt” và thường là những ơn gọi già, nghĩa là xấp xỉ tứ tuần hay hơn.

            Trái lại, tại các hội dòng ở Châu Á , Châu Phi, đặc biệt tại Việt Nam, ơn gọi tăng theo cấp số nhân hằng năm. Nếu coi đó như dấu chỉ của sự phát triển thì cũng gây nhiều lo lắng cho cấp lãnh đạo vì thiếu cán bộ điều hành.

b.Về sinh hoạt

          Trong các hội dòng “già nua”, sinh hoạt đan tu bị giảm thiểu hay châm chước rất nhiều.

          Trong các hội dòng chuyên trách mục vụ giáo dục hay giáo xứ, sinh hoạt đan tu chỉ ở mức cầm chừng.

          Trong các hội dòng nhất tâm phụng sự Chúa trong thanh vắng và chiêm niệm, sinh hoạt đan tu được đánh giá là nhiệt thành, cử hành phụng vụ rất sốt sắng, đời sống nội tâm được Lời Chúa “đổ bê tông” và tình huynh đệ nở hoa như trong giáo đoàn Giêrusalem tiên khởi.

            Tình hình chung của các hội dòng nằm trong dòng chảy của lịch sử đan tu khi thăng khi trầm, khi thịnh ở vùng này khi suy ở vùng khác. Đó là chuyện thường tình. Trong tất cả các bản báo cáo, chúng tôi nhận thấy những tâm tình tín thác và lạc quan: Tín thác vì Thiên Chúa, Đấng làm chủ lịch sử, có dư quyền năng giúp mỗi đan viện vượt qua khó khăn; Lạc quan vì sau khổ hình và tử nạn sẽ rực lên ánh sáng phục sinh.

          Đại hội hướng về các đan viện Xitô Việt Nam và kêu gọi sự đáp cứu cho những cộng đoàn đang thiếu vắng ơn gọi. Chúng ta nghĩ thế nào về lời thỉnh cầu ấy? Phải chăng đây là dịp Thiên Chúa muốn Giáo Hội Việt Nam qua chúng ta đền ơn đáp nghĩa cho các nhà truyền giáo Âu Tây, xưa đã phải trả giá bằng máu và nước  mắt để mang Tin Mừng tình yêu đến cho dân tộc chúng ta?

 

              B.Các cuộc bầu cử

       Sự kiện nổi bật của đại hội năm 2005 có lẽ là việc bầu bề trên cả. Vị đương nhiệm là viện phụ Mauro Esteva, nhiệm kỳ “thập niên” của Ngài kết thúc vào dịp này. Đại hội phải bầu vị khác hoặc thỉnh cử vị đương nhiệm, bởi lẽ Ngài đã quá mức tuổi qui định. Việc thỉnh cử, theo giáo luật, chỉ được diễn ra một lần và phải đạt 2/3 số phiếu ngay vòng I.

       Vì một số lớn thành viên đại hội muốn lưu nhiệm viện phụ Mauro Esteva nên đã đề nghị lập một uỷ ban cứu xét sự việc. Sau một ngày bàn thảo, uỷ ban nhất trí xin đại hội đệ trình Toà Thánh tu chỉnh hiến pháp toàn dòng. Dựa theo đó, hạn tuổi 70 được kéo dài đến 75 hoặc tới đại hội kế tiếp.

       Thỉnh nguyện của đại hội được Toà Thánh chấp thuận sáng ngày 07/09. Ngay chiều hôm đó, đại hội đã tiến hành việc bầu cử. Sau hai lần bỏ phiếu, cha Mauro Esteva đạt được 2/3 số phiếu của cử tri. Vị đắc cử đã chấp nhận chức vụ Bề Trên Cả sau câu hỏi của vị chủ toạ là viện phụ Cassien Lauterer. Toàn thể đại hội hoan hô vỗ tay chào mừng vị tân cử nhiệm kỳ mới 2005-2010.

     Tiếp theo đó, đại hội đã lần lượt bầu cha Meirad  Tomann làm tổng quản lý với chức năng liên hệ giữa toàn dòng và Toà Thánh. Có thể coi cha tổng quản lý như cánh tay phải của Cha Bề Trên Cả. Vì thế, sau 10 năm đồng hành với cha Mauro Esteva, cha Meirad Tomann tiếp tục phục vụ quả là hợp lý.

          Ngoài ra, đại hội phải bầu các nghị viên của thượng hội đồng (Synode) và ban cố vấn tối cao của Bề Trên Cả. Lần này, đa số các nghị viên của hai guồng máy lãnh đạo này đều là những khuôn mặt trẻ, chẳng hạn viện phụ Mauro Lepori (Hauterive), cha Karl Walder, cha Albéric Altermatt vv…

 

              C.Các bài tham luận

          Để các buổi họp khỏi đơn điệu và mang tính thuần pháp lý, trong các buổi họp, ban tổ chức cho xen vào chương trình  một số bài tham luận do các học giả nổi tiếng, giảng viên các trường đại học thời danh đạo đời.

       Trong đại hội toàn dòng 2005, tất cả các bài tham luận xoay quanh đề tài: Ơn gọi đan tu.

        Ở đây, chúng tôi không thể đi vào nội dung chi tiết của các bài tham luận, nhưng chỉ nêu lên những chủ đề sau đây:

1.Nền tảng thần học của đời sống thánh hiến: thuyết trình viên là cha Ugo Vanni, dòng Tên

2.Những khái niệm xã hội học về việc kiến tạo đời sống cộng đoàn. Thuyết trình viên là D.Joan Estruch, giáo sư tại đại học dân lập Barcelonia

3.Làm thế nào để thực hiện việc thường huấn. Thuyết trình viên là cha Amedeo Cencini.

4.So sánh đoạn tu luật Biển Đức về nhiệm vụ giáo huấn của viện phụ trong đan viện với vai trò giáo huấn của Giám mục. Thuyết trình viên là Giáo sư Victo Dammetz, nguyên tổng phụ dòng Biển Đức và cựu giám mục Ausburg.

5.Huấn quyền của Hội Thánh như nguồn đời sống thánh hiến của chúng ta, đối chiếu với số 4 trong tuyên ngôn của đại hội Xitô năm 2000. thuyết trình viên là Đức ông Inos Biffi, giáo sư đại học miền nam Italia.

 

              Kết:

          Trên đây là một vài nét liên quan đến đại hội Xitô năm 2005. Mục đích của đại hội như chúng tôi đã khẳng định nhằm nung nấu tình hiệp nhất giữa các hội dòng và cộng đoàn Xitô, đồng thời hỗ trợ việc thăng tiến ơn gọi đan tu. Ơn gọi này mặc dù được coi là “nguồn mạch tuôn tràn mọi ơn phúc cho Giáo Hội” (Vatican II DT số 7) nhưng ngày nay ở các nước Âu Tây, nó không được đánh giá cao thành ra trở nên khan hiếm. Đại hội đã dành rất nhiều thời giờ để nghe các bài thuyết trình có liên quan đến ơn gọi đan tu hầu tìm ra những hướng giải quyết mang tính khẩn trương. Trong khi đặt hết niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng làm chủ lịch sử, chúng ta hướng về tương lai với cái nhìn lạc quan bởi vì bánh xe lịch sử ấy sẽ mãi mãi quay, miễn là các đan sĩ chúng ta hết mình sống ơn gọi đan tu trong sự hiệp nhất huynh đệ. Chính trong môi trường yêu thương ấy, thiết nghĩ, ơn gọi sẽ được triển nở và nhân thừa lên. Sau cơn mưa trời lại sáng cho những ai tin vào quyền năng của Đấng không có gì mà không thể làm được (x. Lc 1,37)

 

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

BÀI VIẾT MỚI

spot_imgspot_img

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Hạt Giống Chiêm Niệm số 32: Cầu Nguyện Đan Tu

CẦU NGUYỆN ĐAN TU Số 32 – Tháng Giêng năm 2024 ĐÔI LỜI ... Kính thưa quý độc giả, Như chúng ta đã biết, cầu nguyện là hành...

Hạt Giống Chiêm Niệm số 31: Hướng Vọng Trời Cao

 Số 31 – Tháng 7 năm 2023 Lời ngỏ Kính thưa quý độc giả, Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày qua đời của cha Biển Đức...

Hạt Giống Chiêm Niệm số 29: Tứ Hải Giai Huynh Đệ

Số 29 – tháng 07 năm 2022 Cùng Độc giả, Các sinh hoạt của Ban Biên Tập Nội San Hạt Giống Chiêm Niệm (HGCN) của Hội...

Hạt Giống Chiêm Niệm số 30: Một Đi Chung Cùng Nhau

LỜI NGỎ   Kính thưa Quí Độc Giả! Nội san Hạt Giống Chiêm Niệm số 30 phát hành vào tháng Giêng năm 2023 này mang chủ đích...

Giới Thiêu nội san “HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM” (Viện phụ Dominico Phạm Văn Hiền)

  NỘI SAN   HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM     LỜI GIỚI THIỆU      ...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 2: HƯƠNG VỊ LỜI CHÚA

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 3: THAO THỨC

  HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 4: Những Nẻo Đường Sống Đạo

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM     Nội san linh đạo đan tu   NHỮNG NẺO ĐƯỜNG SỐNG ĐẠO   Số 4 tháng 7 năm 2007 LỜI NÓI ĐẦU     Một người nọ hỏi...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số đặc biệt: Cội nguồn hy vọng

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 7: Thử Thách

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 8: Trong Lòng Giáo Hội

  HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 9: Dám Đối Diện

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...