Thứ Tư, 24 Tháng Tư, 2024

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số12: HIỆP THÔNG

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM

   

 Nội san linh đạo đan tu

 

HIỆP THÔNG

 

Số 12 – Tháng 01 năm 2013

 LỜI DẪN

Cùng quí đọc giả thân mến!
Hiệp thông là linh hồn, là mạch sống luân chuyển trong Giáo Hội. Hiệp thông là mối dây liên kết để trao ban, để nhận lãnh và làm cho tất cả chúng ta trở nên “đồng” và sống với chữ “cùng”. Hiệp thông cũng là một chủ đề xuyên suốt của công đồng Vat II: Giáo Hội là mầu nhiệm hiệp thông.
Nội san “Hạt giống chiêm niệm” số 12 với những bài viết xoay quanh chủ đề “Hiệp Thông” như một nổ lực học hỏi và suy niệm năm đức tin; năm kỷ niệm 50 năm sau công đồng Vat II và 20 năm ngày công bố sách giáo lý chung của Giáo Hội; năm dẫn đưa toàn thể Giáo Hội bước qua “Cánh Cửa Đức Tin” để hiệp thông với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Qua việc hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa, chúng ta được hợp nhất với nhau trong lòng Giáo Hội, trong Hội Dòng và trong cộng đoàn.
Những bài viết trong nội san này, mặc dù chưa toát lên được hết sự phong phú của đời sống đan tu, nhưng cũng là một cố gắng và ước mong đóng góp những suy tư đơn sơ để toàn thể anh chị em trong Hội Dòng cùng nhau suy niệm để sống cái “chung”, cái “cùng”, nhờ đó đời sống thiêng liêng được tăng trưởng và đời sống cộng đoàn được bình an trong suối nguồn tình yêu Chúa Ba Ngôi.
Trong tâm tình hiệp thông, ban biên tập hoan hỉ gởi đến quí Viện Phụ, quí Bề Trên và toàn thể anh chị em trong Hội Dòng thành quả bé nhỏ này.

Ban biên tập       

 

 MỤC LỤC

 

 

 

 

 

ĐƯỢC KÊU GỌI HIỆP THÔNG

VỚI CON CỦA NGƯỜI

(1Cr 1,9)

VP Duy Ân   

 

DẪN NHẬP
“Cánh cửa đức tin” (x. Cv 14,27) dẫn vào đời sống hiệp thông với Thiên Chúa, đồng thời mở ra con đường bước vào Giáo Hội, vẫn luôn mở rộng cho chúng ta (Tự Sắc PORTA FIDEI 1).
Đó là lời khởi đầu Văn kiện của Đức Benedicto XVI khai mở Năm Đức Tin cho toàn thể Giáo Hội (11/10/2012 – 24/11/2013). Quả thật, mục tiêu tối hậu và tối thượng của hồng ân và hành trình đức tin chính là ơn hiệp thông nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ và trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người. Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một Người để nhờ tin vào Ngài mà được sống đời đời (x. Ga 3,16). Chính vì thế, phúc chúng ta là “được kêu gọi hiệp thông với Con của Người” (1Cr 1,9).
Hơn thế nữa, cũng vì yêu thương, Thiên Chúa cách âm thầm nhưng mãnh liệt biết bao, còn “lôi kéo” chúng ta đến với Con của Người, nếu Chúa Cha không lôi kéo kẻ ấy”(Ga 6,44). Tất cả, theo ý định của Thiên Chúa, nhằm mục tiêu để chúng ta được ơn kết hợp và“nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Ngài trở nên anh cả giữa đoàn em đông đúc” (Rm 8,29).
Về phía con người, để đáp ứng công trình của Thiên Chúa, chính là TIN vào Đấng Chúa Cha đã trao ban (x.Ga 6,29). Mà TIN, hiểu theo Kinh Thánh, là “tiếp nhận” (x.Ga 1,12), một sự tiếp nhận gắn bó sinh động bao gồm cả con người và cuộc sống. Thế nhưng, để tiếp nhận Đức Kitô toàn diện lại cần quy chiếu đến các phẩm tính thần linh của Ngài. Vì thế, bài suy niệm này sẽ dừng lại một số yếu tố căn bản, giúp tiếp nhận “Đức Kitô toàn diện” để thực sự sống trọn ơn hiệp thông với Ngài.
Vậy, tiếp nhận “Đức Kitô toàn diện” bao gồm: tiếp nhận Đức Kitô Toàn hữu, Toàn tri, Toàn năng, Toàn thể và Toàn ái.
Trước hết, cần nhận định về các phẩm tính vừa nêu, tuy với từ ngữ có vẻ trừu tượng, nhưng kỳ thực có nội dung cụ thể mang tính hiện sinh.
Còn về phương cách trình bày, sẽ chủ yếu gồm các trích dẫn Lời Chúa, theo phương án tổng hợp Đức Benedicto XVI đã đề ra, “để Lời này soi sáng Lời kia”. Dĩ nhiên, những trích dẫn trong các mục này rất giới hạn, mang tính tiêu biểu, được kín múc từ nguồn suối bất tận của Lời Hằng Sống. Bởi vậy, Lời Chúa luôn mời gọi chúng ta tiếp tục tiến sâu hơn nữa vào Mầu Nhiệm Đức Kitô trong các chiều kích cao sâu dài rộng Tình yêu của Ngài (x. Ep 3, 18).

I. TIẾP NHẬN ĐỨC KITÔ TOÀN HỮU
“Toàn Hữu” đây có nghĩa Đức Kitô chính là Ngôi Lời Hằng Hữu; và muôn loài phải nhờ Ngài mà được hiện hữu.
Thật vậy,“Nhờ Ngôi Lời mà vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành”(Ga 1,3). Con người được hiện hữu nhờ hồng ân tạo dựng.
Với công trình cứu chuộc nhờ Đức Giêsu Kitô, con người được đi vào một hiện hữu mới: “Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được HIỆN HỮU TRONG ĐỨC KITÔ GIÊSU, Ðấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa: Ðấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hóa và cứu chuộc anh em”(1Cr 1,30).
Như thế, những gì Thiên Chúa hứa trong kế hoạch yêu thương đã dự định từ trước trong Đức Kitô được trở thành thực hữu. Thật vậy, “Ðức Kitô Giêsu, Con Thiên Chúa,… đã không vừa là “có” vừa là “không”, nhưng nơi Người chỉ toàn là “có”. Quả thật, mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là “có” nơi Người. Vì thế, cũng nhờ Người mà chúng ta hô lên “Amen” để tôn vinh Thiên Chúa” (2Cr 1,19-20).
Thế nhưng, con người có thể lạm dụng ân huệ tự do để đi ngược lại kế hoạch Thiên Chúa. Kinh thánh ghi nhận sự kiện: “Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,10-11). Vì khước từ Đức Kitô Toàn Hữu, con người đã sa vào cảnh vực toàn ảo. Thánh vịnh gia vì thế cảnh tỉnh con người: “Phàm nhân hỡi, cho đến bao giờ lòng vẫn còn chai đá, ưa thích chuyện hư không, chạy theo điều giả dối?” (Tv 4,3). “Thay vì Thiên Chúa thật, họ đã theo những thần giả, họ đã tôn thờ những loài thụ tạo, thay vì chính Đấng Tạo Hóa”(Rm 1,25). Đó chính là thờ ngẫu tượng, nhưng ngẫu tượng lại có thể ngự trị trong tâm hồn con người, vì “tham lam cũng là thờ ngẫu tượng”(Ep 5,5). Vì thế, thánh Phaolô cũng cảnh giác: “…đừng chiều theo những dục vọng xấu xa…Anh em đừng trở thành những kẻ thờ ngẫu tượng” (1Cr 10,6-7).
Trước cảnh con người sa ngã, Thiên Chúa, trong Tình Yêu tăng bội (x. Rm 5,20) luôn đợi chờ mời gọi và mở rộng cho con người nẻo đường trở về. Thiết tưởng nguy cơ đáng sợ hơn nữa đối với con người là sống trong tình trạng an toàn ảo tưởng, như trường hợp một trưởng giáo đoàn của Hội Thánh ban đầu: “Hãy viết cho thiên thần của Hội Thánh Laodikia: Đây là Lời của Đấng Amen, là chứng nhân trung thành và chân thật, là Khởi Nguyên của mọi loài Thiên Chúa tạo dựng. Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi! Nhưng vì ngươi hâm hẩm, chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta. Ngươi nói: “Tôi giàu có, tôi đã làm giàu, tôi chẳng thiếu thốn chi”; nhưng ngươi không biết rằng ngươi là kẻ khốn nạn, đáng thương, nghèo khổ, đui mù và trần truồng” (Kh 3,14-17).
Bởi vậy, Đức Kitô, Đấng Toàn Hữu là “Amen” lên tiếng mời gọi con người đến với Ngài để được đi vào mối thân tình hiệp thông: “Vì thế, Ta khuyên ngươi đến với Ta mà mua vàng đã thử lửa để làm giàu, mua áo trắng để mặc, khiến ngươi khỏi xấu hổ vì để lộ thân thể trần truồng, mua thuốc để xức mắt cho ngươi nhìn thấy được. Phần Ta, mọi kẻ yêu mến, thì Ta răn bảo dạy dỗ. Vậy hãy nhiệt thành ăn năn hối cải! Này đây Ta đứng trước cửa và gõ, ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3,18-20). Quả là mối tình tuyệt diệu con người đang khát mong tự đáy lòng, và – con người có biết hay chăng – , đó cũng là khát mong tha thiết của chính Thiên Chúa Tình yêu đang đợi chờ con người.

II. TIẾP NHẬN ĐỨC KITÔ TOÀN TRI
Không ai biết được thực tại nhiệm mầu nơi Thiên Chúa. Thật vậy, “Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Ðấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1,18). Vì thế, Chúa Giêsu mạnh mẽ quả quyết: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết Người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết Chúa Cha, trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho” (Mt 11,27). Sứ vụ của Chúa Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể là tỏ bày Thiên Chúa Cha cho con người: “Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương Con ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa” (Ga 17,26). Bản chất sự sống đời đời hệ tại sự nhận biết thần linh này: “Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Ðấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô” (Ga 17,3).
Chúa Giêsu, Đấng Thiên sai, với tư cách là mục tử nhân lành, đến để cho con chiên được sống và sống dồi dào (x.Ga 10,10). Bởi thế, Ngài không ngừng dẫn đưa đoàn chiên và gọi đích danh từng con vào ân-phúc-nhận-biết thần linh này: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết các chiên của Tôi và chiên của Tôi biết Tôi, như Chúa Cha biết Tôi và Tôi biết Chúa Cha, và Tôi hy sinh mạng sống mình cho chiên” (Ga 10,14-15). Vì thế, nhận biết Đức Kitô là chìa khóa đi vào mầu nhiệm Thiên Chúa và kế hoạch yêu thương của Người, là ân phúc đáng được trân trọng hơn tất cả. Bởi vậy, hiểu được tại sao Thánh Phaolô chấp nhận đánh đổi: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Ðức Kitô Giêsu, Chúa của tôi, vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như đồ bỏ, để được Ðức Kitô và được kết hợp với Người… Vấn đề là được biết chính Ðức Kitô, nhất là biết quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết” (Pl 3, 8-11).
Chính vì hiến tế Thập Giá là lễ Vượt Qua dẫn đến ơn Phục Sinh và là dấu chứng tình yêu lớn nhất, do đó, thánh Phaolô đã xác định với giáo đoàn Côrintô: “Hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Ðức Giêsu Kitô, mà là Ðức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá”(1Cr 2,2). Nhận biết Đức Kitô cách đích thật và cụ thể như vậy sẽ làm xoay chiều và biến đổi cuộc sống theo ý Thiên Chúa và dõi bước theo Chúa Giêsu.“Căn cứ vào điều này, chúng ta nhận ra rằng chúng ta biết Thiên Chúa: đó là chúng ta tuân giữ các điều răn của Người. Ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối, và sự thật không ở nơi người ấy…Căn cứ vào đó, chúng ta biết được mình đang ở trong Thiên Chúa. Ai nói rằng mình ở lại trong Người, thì phải đi trên con đường Ðức Giêsu đã đi” (1Ga 2,3-6). Đó mới là dấu chứng đích thực Tiếp nhận Đức Kitô toàn tri.
Vì thế, Chúa Giêsu cũng mạnh mẽ cảnh giác chúng ta kẻo sa vào ảo tưởng rất nguy hại: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! Lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?” Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!”(Mt 7,21-23). Như vậy đã rõ, ơn nhận biết Đức Kitô và được Ngài biết đến hệ tại điều gì.
Còn phải kể Kinh Thánh là đường dẫn đến nhận biết Đức Kitô. Tuy nhiên, nghiên cứu Kinh thánh chỉ đạt hiệu quả nếu dẫn đến cuộc hạnh ngộ cứu độ với Đức Giêsu Kitô. Vì thế, Chúa Giêsu đã cảnh cáo các nhà lãnh đạo Do Thái về việc học hỏi Kinh Thánh: “Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời, mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về Tôi. Các ông không muốn đến cùng Tôi để được sự sống” (Ga 5,39-40). Trái lại, cuộc đàm thoại của Chúa Giêsu với hai môn đệ trên đường Emmau cho thấy tầm quan trọng của Kinh thánh cần thiết để đạt tới nhận biết Đức Kitô. “Rồi bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh. Họ mới bảo nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24, 27.32). Quả thật: “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô” (Thánh Hiêrônimô). Chúa Kitô hiện diện và tác động qua Lời Chúa (x. Ga 8, 31-32). Tuy nhiên, Ngài đặc biệt hiện diện trong các Bí tích; Ngài còn cam kết hiện diện ở giữa cộng đoàn quy tụ nhân danh Ngài (x. Mt 18,20); Đức Kitô còn ngự trị trong cung lòng kitô hữu nhờ đức tin sống động (x. Ep 3,17).
Hơn nữa, qua các nẻo đường cuộc sống, không thiếu những biến cố lớn nhỏ cho ta cảm nhận được Ngài hiện diện và tác động: có thể nghĩ tới trường hợp thánh Phêrô, sau mẻ cá lạ lùng, đã thốt lên lời phân phô: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”(Lc 5,8); hoặc Madalêna, mừng rỡ ngỡ ngàng kêu lên: “Rabbuni”, khi thoạt nghe Chúa Giêsu gọi tên bà (x. Ga 20,16).
Thế nhưng, vẫn thật đúng cho bao trường hợp lời cảnh báo nầy của vị Tiền hô Đấng Cứu Thế: “Có một Vị đang ở giữa các ngươi mà các ngươi không biết”(Ga 1,26). Phải chăng cần cặp mắt của một trái tim tinh tuyền mới nhận ra Ngài trong cuộc sống. Thiết tưởng lời van xin của anh Bartimê: “Xin cho con được thấy!” cũng phải là nguyện cầu tha thiết của chúng ta (x.Mc 10,51). “Lạy Chúa, xin tỏa ánh Tôn Nhan rạng ngời, để chúng con được ơn cứu độ” (Tv 79,20). Nhưng Chúa Giêsu cho biết chỉ những tâm hồn đơn sơ bé mọn mới nhận được ơn Chúa mạc khải (x. Mt 11,25-26). Hơn nữa, nhờ đồng tâm nhất trí, lời cầu sẽ bảo đảm được nhậm (x. Mt 18,19). “Nhờ được liên kết chặt chẽ với nhau trong tình thương, họ đạt tới sự thông hiểu phong phú và đầy đủ, khiến họ nhận biết mầu nhiệm của Thiên Chúa, tức là Ðức Kitô, trong Người có cất giấu mọi kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết” (Cl 2,2). Như vậy, sẽ được thăng tiến trong sự hiểu biết Đức Kitô. “Anh em hãy lớn lên trong ân sủng và trong sự hiểu biết Ðức Giêsu Kitô là Chúa và là Ðấng Cứu Ðộ chúng ta. Xin kính dâng Người vinh quang, bây giờ và cho đến muôn đời. Amen” (2Pr 3,18).

III. TIẾP NHẬN ĐỨC KITÔ TOÀN NĂNG
Đức Kitô toàn năng vì Thiên Chúa Cha ban cho Ngài được toàn quyền trên tất cả: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất”(Mt 28,18). Hơn nữa, vì Ngài là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật: “… chính Ðức Kitô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ. Người là Thiên Chúa, Ðấng vượt trên mọi sự. Chúc tụng Người đến muôn thuở muôn đời. Amen” (Rm 9,5). Ngài có quyền tha tội (x. Mt 9,5-6). Ngài cũng là nguồn sự sống (x. 1Ga 1,2) và có quyền ban sự sống đời đời: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (Ga 10,28).
Tuy nhiên, chúng ta cần ơn Chúa tác động để cảm nhận được quyền năng Ngài đang thi thố trong ta xuyên qua Đức Giêsu Kitô: “Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng các thánh, đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Ðó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, mà Người đã biểu dương nơi Ðức Kitô, khi làm cho Ðức Kitô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt Ngài ngự bên hữu Người trên trời” (Ep1,19). Nhưng, chính trong sự yếu đuối của chúng ta, quyền năng của Thiên Chúa càng sáng tỏ: “Kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi” (2Cr 4,7). Dù vậy, con người theo bản năng tự nhiên vẫn có xu hướng tự khẳng định, quy về mình những ân phúc lãnh nhận từ nơi Chúa. Bởi vậy, cần ghi khắc sự thật này: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?” (1Cr 4,7). Chính vì vậy, Thánh Phaolô nói lên nghịch lý: “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh!”, có nghĩa là với sức mạnh nhận được từ nơi Chúa. Thánh Phaolô cũng đã chia sẻ kinh nghiệm sống: “Để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Xatan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại. Ðã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Người quả quyết với tôi: “Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối”. Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Ðức Kitô ở mãi trong tôi. Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Ðức Kitô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,7-10).
Vậy, chính nhờ niềm tin vào ơn Chúa mà tiếp nhận được quyền năng của “Đức Kitô là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1,24); vì thế Thánh Phaolô đã tuyên bố: “Tôi biết tôi tin vào ai, và xác tín rằng: Người có đủ quyền năng bảo toàn giáo lý đã được giao phó cho tôi” (2Tm 1,12). Ngài còn chia sẻ kinh nghiệm cụ thể: “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được tất cả (Pl 4,13). Đây là điều Chúa Giêsu đã ưu ái xác định với cha đứa bé bị quỷ ám: “Mọi sự đều có thể đối với người tin” (Mc 9,23). Lập tức ông ấy khiêm tốn thốt lên: “Tôi tin! Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi” (Mc 9,24). Đó cũng phải là lời khấn xin của mỗi chúng ta để nhận được hiệu lực quyền năng của Đức Kitô. Thiên Chúa trung thành luôn trợ giúp chúng ta: “Vì chính Thiên Chúa tác động đến ý chí cũng như hành động của anh em do lòng yêu thương của Người” (Pl 2,13); đó là nền tảng của đức cậy trông. Vì thế, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1). Và đã có lần Ngài xác định với các ông: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được” (Mc 10,27).
Vậy, tiếp nhận Đức Kitô toàn năng là trọn vẹn tin vào tình thương và quyền năng của Thiên Chúa thể hiện cho chúng ta qua Đức Kitô. Tổ phụ Abraham, cha của các kẻ tin; Đức Maria, Đấng được chúc phúc vì đã tin, là những gương sống động cho chúng ta: “Mặc dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin, do đó ông đã trở thành tổ phụ nhiều dân tộc, như lời Thiên Chúa phán :Dòng dõi ngươi sẽ đông đảo như thế” (Rm 4,18). “Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”. Bấy giờ bà Maria nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,35-38). Được cưu mang Đấng cứu Thế trong lòng, Đức Maria đã hát ca quyền năng Thiên Chúa: “Đấng Toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả danh Người thật chí thánh chí tôn” (Lc 1,49). Vậy, chúng ta hãy cùng với Mẹ Maria và toàn thể Dân thánh chúc tụng Thiên Chúa toàn năng: “Tôn vinh Đấng có thể dùng quyền năng đang hoạt động nơi chúng ta, mà làm gấp ngàn lần điều chúng ta dám cầu xin hay nghĩ tới. Xin tôn vinh Người trong Hội thánh và nơi Đức Kitô Giêsu đến muôn thuở muôn đời. Amen” (Ep 3,20-21).

IV. TIẾP NHẬN ĐỨC KITÔ TOÀN THỂ
Thánh Âu Tinh đã từng đề cập đến cụm từ “Đức Kitô toàn thể” (Christus totalis). Trong nhiệm cục cứu độ, tiếp nhận Đức Kitô toàn thể là tham dự kế hoạch Thiên Chúa vào thời viên mãn, hướng về cánh chung: “Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Kitô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn và quy tụ muôn loài trong trời đất, dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô”(Ep 1,9-10). Phải chăng theo ý nghĩa đó Giáo Hội mừng lễ Đức Kitô Vua Vũ trụ vào chu kỳ cuối năm Phụng vụ? Cũng theo gợi hứng đó, Thánh Phanxicô Assidi đã hát lên Bài ca về Anh Mặt trời, Chị Mặt trăng. Kinh Thánh cũng có những bài ca về các tạo vật (x. Dn 3,57-88; Tv 148).
Tuy nhiên, khi con người xa lìa Thiên Chúa thì các mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, và với các tạo thành đều bị xáo trộn. Vì thế, thánh Phaolô ghi nhận được tiếng rên xiết của toàn thể tạo thành: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy ; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang”(Rm 8,19-21). Tuy nhiên, khi con người khép mình trong tội thì Thiên Chúa, vì tình yêu tăng bội (x.Rm 5,20) lại mở lối cho ân sủng trào tràn : “Sự sa ngã của Ađam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người”(Rm 5,15), vì “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ”(1Tm 2,4). Không chỉ được cứu độ mà còn được quy tụ trong hiệp nhất: “Đức Giêsu phải chết không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối” (Ga 11,51-52). Sự hiệp nhất chặt chẽ đến độ được diễn tả với hình ảnh chi thể liên kết với thân mình: “Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy”(1Cr 12,12). Đức Kitô là Đầu, liên kết với Hội Thánh là Thân mình, trở thành “Đức Kitô toàn thể”: “Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn”(Ep 1,22-23). Chính Ngài nuôi dưỡng các chi thể và làm cho toàn thân phát triển: “Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình. Như thế Người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái”(Ep 4,16).
Chính mối hiệp thông “hữu cơ” nầy sẽ quyết định dây liên đới ràng buộc toàn thân trong cuộc sống: “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy, anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa”(1Pr 4,10). Trong cả hai tiến trình chuyển trao và tiếp nhận, theo Đức Bênêđictô XVI nhận định, con người cần ra khỏi cái tôi của mình, vượt qua ranh giới sa mạc phân cách do mình tự tạo, để có thể đi vào hiệp thông với toàn thể (x. Porta Fidei.2). Tính liên đới hiệp thông này quan trọng đặc biệt vì Chúa Giêsu đã tự đồng hóa với những người nhỏ bé nhất: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”(Mt 25,40). Hơn nữa, các nhiệm tích Thánh tẩy và Thánh Thể là các “dấu chỉ hữu hiệu” đã được dự liệu để làm nên Thân mình. Quả thật: “Tất cả chúng ta, dầu là Dothái hay Hylạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất”(1Cr 12,13). Còn hiệu quả của Thánh Thể là làm nên nhiệm thể: “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể”(1Cr 10,17). Vì vậy, tất cả chúng ta được chung hưởng phúc bình an trong cùng một thân thể: “Ước gì ơn bình an của Đức Kitô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân”(Cl 3,15; x.Ep 4,3). Vì thế, tác giả thư Do thái đã từ đó rút ra một hệ luận cho cuộc sống: “Anh em hãy nhớ đến các người bị xiềng xích, chẳng khác gì anh em cũng bị xiềng xích với họ; anh em hãy nhớ đến những người bị hành hạ, chẳng khác gì mình với họ chỉ là một thân thể”(Dt 13,3). Cuối cùng, thiết tưởng cần lưu ý: tiếp nhận Đức Kitô toàn thể còn bao quát rộng mở trong cả hai chiều không gian và thời gian theo lệnh truyền Ngài đã ban: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất”(Cv 1,8). Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”(Mt 28,20).

V. TIẾP NHẬN ĐỨC KITÔ TOÀN ÁI
Đức Giêsu Kitô được sai đến để bày tỏ và thể hiện tình yêu của Thiên Chúa một cách sung mãn đến nỗi con người có được một nhận thức tuyệt vời về Thiên Chúa, như một định nghĩa:“Thiên Chúa là Tình Yêu”(1Ga 4,8.16). Quả thật, Chúa Giêsu, Đấng Thiên Sai, xuyên qua sứ vụ, luôn quy chiếu về Thiên Chúa Cha như “Tình yêu nguồn cội” (Amor Fontalis). Các dụ ngôn Tin Mừng cũng như toàn bộ công trình cứu độ của Chúa Giêsu đều nhằm minh chứng cho con người sự thật cao cả: “Thật vậy, chính Chúa Cha yêu mến anh em” (Ga 16,27; x. Mt 7,11). Dĩ nhiên, Tình yêu ấy được cụ thể hóa và chuyển đạt cho chúng ta qua con người và sứ vụ cứu độ của Chúa Giêsu: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy”(Ga 15,9). Điều ấy do sự liên kết đồng nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con, như Chúa Giêsu đã xác định: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”(Ga 14,9), và vì “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy”(Ga 14,11). Bởi vậy, dấu chứng tình yêu ấy không còn mang tính đơn thuần nhân loại, nhưng phát xuất từ sự kết hiệp đồng bản thể của Chúa Giêsu với Thiên Chúa Cha, như Chúa Giêsu đã xác quyết: “Ta với Chúa Cha là một”(Ga 10,30). Vậy, từ đây tình yêu của Thiên Chúa đối với con người luôn là tình yêu được thể hiện trong Đức Giêsu Kitô (x. Rm 8,39), một tình yêu TOÀN ÁI, dẫn ta vào “sự sung mãn của Thiên Chúa” (x. Ep 3,19).
Đến đây, cần ghi nhận một số đặc tính của Tình Yêu Thiên Chúa dành cho con người.
Trước hết, Tình yêu Thiên Chúa luôn đi bước trước, vì tất cả thuộc về “kế hoạch yêu thương Thiên Chúa đã dự định từ trước trong Đức Giêsu Kitô”(Ep 1,9). Quả thật, “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội, vì tội lỗi chúng ta”(1Ga 4,9; x. Rm 5,7).
Hơn nữa, tình yêu của Thiên Chúa còn vượt xa hẳn mọi tính toán và ước mong của con người (x. Ep 3,20). Phải chăng đó cũng là mẫu mực mời gọi con người biết sống yêu thương mà không bận tâm so đo tính toán: “Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước”(1Ga 4,19).
“Nhưng không” cũng là một đặc tính của Tình yêu Thiên Chúa: “Thật vậy, mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu”(Rm 3,23-24).
Tình yêu hằng hữu luôn nguyên vẹn, mặc dù con người làm sứt mẻ đổ vỡ (x.Lc 15).
Tình yêu tăng bội trong ân sủng trước tội lỗi gia tăng của con người (x. Rm 5,20).
Lòng thương xót nhân hậu cũng là một đặc tính nổi bật của Tình yêu Thiên Chúa: “Người là Cha, giàu lòng thương xót từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an”(2Cr 1,3). Chân phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Thông điệp “Thiên Chúa giàu lòng thương xót” đã nhận xét “thương xót” có thể coi là từ ngữ thứ hai của Tình yêu khi đụng chạm đến cảnh khốn cùng của con người. Khốn cùng về thể xác, vì Chúa Giêsu đến cứu chữa các bệnh nhân (x. Mt 4,23), khốn cùng về tâm linh, vì Ngài đến, tìm cứu các tội nhân (x.1Tm 1,15). Cứu chữa do yêu thương bằng cách gánh lấy bệnh hoạn và tội lỗi của con người, “vì Ngài phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành”(1Pr 2,24).
Hơn nữa, vì đã mặc lấy xác phàm, nên giống con người, bởi vậy, Đức Giêsu Kitô “yêu thương với trái tim nhân loại” (GS 22). Cụm từ “chạnh thương” được Tin Mừng ghi nhận về Chúa Giêsu trong các tình huống nói lên mối tình vô biên của Đấng Cứu Thế được diễn tả bằng các hình thức và sắc thái nhân loại. Đặc biệt, Đức Kitô toàn ái đã xác định sứ vụ của Ngài là thể hiện Tình yêu khiêm hạ và hy sinh phục vụ: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”(Mt 20,28). Đó chính là Tình yêu tự hạ, Tình yêu tự hiến.
Tình yêu tự hạ: Khởi đầu với mầu nhiệm Nhập Thể: “Ðức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Ngài còn thể hiện tự hạ trong suốt cả cuộc đời trần thế. Bởi vậy, khi Ngài đưa ra so sánh “giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ”, Ngài đã xác nhận với các môn đệ: “Thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ”(Lc 22,27). Cụ thể, trong bữa Tiệc ly thể hiện “Tình Yêu đến cùng” của Ngài, Chúa Giêsu đã thực hiện một hành động vốn dành cho hàng tôi tớ, là quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ (x. Ga 13,4-5), với lời nhắn nhủ muốn được lưu truyền: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là ‘Thầy’, là ‘Chúa’, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”(Ga 13,12-15).
Tình yêu tự hiến là hình thức hy sinh phục vụ đến mức cao nhất (x. Ga 15,13). “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”(Pl 2,6-8). Đức Kitô đã “hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc muôn người”(Mt 20,28), thể hiện hình ảnh“Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”(Ga 1,29).“Thật vậy, Ðức Kitô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người. Người không hề phạm tội; Chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối… Tội lỗi của chúng ta, chính người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em được chữa lành”(1Pr 2,21-24).
Đức Kitô toàn ái thể hiện tình yêu cách sung mãn đã trở thành nền tảng đức tin để con người được ơn cứu độ: “Như thế, phần chúng ta… chúng ta hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Ðức Giêsu là Ðấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa (Dt 12,1-2). Đây là niềm tin sống động, hoàn toàn gắn bó với Đức Kitô, Đấng Cứu độ:“Tôi sống, nhưng không còn là Tôi, mà là Ðức Kitô sống trong Tôi. Hiện nay Tôi sống trong xác phàm, là sống trong niềm tin vào con Thiên Chúa, Ðấng đã yêu mến Tôi và hiến mạng vì Tôi”(Gl 2,20).
Từ đó, tâm hồn cảm nhận được ân phúc “thuộc về Chúa”: “Thật vậy, không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa; vì Ðức Kitô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết”(Rm 14,7-9).
Và như thế, tình yêu trở thành động lực sống cho Chúa và vượt mọi thử thách:“Tình yêu Ðức Kitô thôi thúc chúng tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng: nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết. Ðức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Ðấng đã chết và sống lại vì mình”(2Cr 5,14-15). Đồng thời là sức mạnh vượt qua mọi gian nan: “Trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Ðấng đã yêu mến chúng ta. Ðúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Ðức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta”(Rm 8,37-39).
* “Cùng chết cùng sống với Đức Kitô”: là cụ thể tiếp nhận Đức Kitô Toàn ái: “Nếu chúng ta cùng chết với Ðức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta”(Rm 6,8).
“Cùng chết với Đức Kitô” phải hiểu thế nào? Đó là qua mầu nhiệm thập giá để đạt tới sự sống của Đức Kitô Phục sinh: “Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Ðức Kitô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại”(Rm 6,5). Cần ghi nhận đối tượng của cái chết này là gì? Thánh Phaolô lần lượt xác định cho chúng ta. Trước hết, phải hiểu về “cái tôi chủ thể” nói chung : “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi”(Gl 2,19b-20). Nhưng rồi vấn đề được xác định thêm: “Chúng ta biết rằng: con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Ðức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị hủy diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội nữa”(Rm 6,6). Cuối cùng, thánh Tông đồ xác định rõ ràng: “Những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê”(Gl 5,24). Và vì dục vọng trần tục có liên lụy, bởi đó thế gian cũng cần đến hiệu lực cứu độ của thập giá: “Nhờ thập giá Đức Giêsu Kitô, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian”(Gl 6,14).
Thế gian vốn đồng loã với “tính xác thịt” và con người cũ, “con người do tội lỗi thống trị”(Rm 6,6). Vì vậy, mục tiêu chết đây là “chết đối với tội”(x.1Pr 2,24). Tội lỗi của chúng ta đã được Chúa Giêsu rửa sạch trên thập giá: “Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta”(Kh 1,5).
Vì thế, được hiệp thông trong tình yêu Đức Giêsu thì chúng ta cũng cần thông hiệp với Ngài trong mầu nhiệm thập giá: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi”(2Cr 4,10).

“Cùng sống với Đức Kitô” như thế nào?
Chúa Giêsu tự xác nhận: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”(Ga 14,6). Chúa Giêsu luôn quy hướng về Thiên Chúa Cha: “Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy”(Ga 5,26). Chúa Giêsu là “sự sống được tỏ bày”(1Ga 1,2), được sai đến để trao ban ơn “hiệp thông với Chúa Chúa Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Người”(1Ga 1,3). Ngài là mục tử săn sóc đoàn chiên để được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,10). Đó là sự sống đời đời, không có nghĩa là trong thời gian bất tận, nhưng là sự sống thần linh nhờ thông hiệp trong ân sủng nhận biết Thiên Chúa là Cha (x.Ga 17,3), và do lòng tin vào Con của Người (x. Ga 6,40). Sự sống ấy vượt lên cái chết của thể xác nầy, vì Chúa Giêsu đã phán: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”(Ga 11,25-26).
Để có Đức Kitô là nguồn sống, Ngài đã ban cho chúng ta tất cả những gì đem lại sự sống: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo Tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống”(Ga 8,12). “Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì; Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống”(Ga 6,63). Bởi vậy, Ông Simon Phêrô đã thân thưa với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”(Ga 6,68).
Nhưng đặc biệt Đức Kitô khơi nguồn sống cho chúng ta khi trao ban Nước Hằng Sống và Bánh Trường Sinh.

* NƯỚC HẰNG SỐNG
Mạch Nước Hằng Sống chính là Thánh Thần, tặng ân của Chúa Kitô Phục sinh:“Hôm ấy là ngày bế mạc tuần lễ Lều, và là ngày long trọng nhất. Ðức Giêsu đứng trong Ðền Thờ và lớn tiếng nói rằng: “Ai khát, hãy đến với Tôi, ai tin vào Tôi, hãy đến mà uống!” Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống. Ðức Giêsu muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bấy giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Ðức Giêsu chưa được tôn vinh”(Ga 7,37-39).
Đức Kitô Phục sinh trao ban Thánh Thần như đã được báo trước:“Người thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”(Ga 20,22-23). Đây là Thần Khí Đức Kitô, vì “Ai Không có Thần Khí của Đức Kitô, thì không thuộc về Đức Kitô”(Rm 8,9), Chính Thần Khí ban cho tín hữu được sự sống mới, vì: “được sinh lại bởi Thánh Thần”(Ga 3,5), với phúc làm nghĩa tử (x. Rm 8,15; Gl 4,6) trong đó bao gồm các ân phúc thuộc con cái Thiên Chúa do Thần Khí sự thật (x. Ga 14,17), Thần Khí tình yêu (x. Rm 5,5). Từ đây, kitô hữu sống dưới sự chi phối của Thánh Thần: “Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không còn thỏa mãn đam mê của tính xác thịt”(Gl 5,16). Quả thật, chính nhờ tác động của Thần Khí mà người tín hữu được hưởng ơn tự do đích thực bởi Chúa Giêsu (x. Ga 8,36; 2Cr 3,17), cùng với niềm vui trọn vẹn của Chúa Giêsu (x. Ga 15,11), ơn bình an Chúa Giêsu trối ban (x. Ga 14,27) bình an vượt trên mọi hiểu biết (x. Pl 4,7); tất cả do Tình yêu Chúa Giêsu (x. Ga 15,9). Hơn nữa, vì được phúc sống dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần (x. Rm 8,14) người tín hữu được trổ sinh các hoa trái thần linh (x. Gl 5,22), trở thành môn đệ Chúa Giêsu để vinh danh Thiên Chúa Cha (x. Ga 15, 8).
Thánh Thần còn được ban tràn đầy trong ngày lễ Ngũ tuần, ngày Hội Thánh được khai sinh, “mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho”(Cv 2,1-4).
Đời sống hiệp thông và sứ vụ của Hội thánh được chính thức khởi đầu từ đó.“Họ chuyên cần nghe các Tông Ðồ giảng dạy, hiệp thông với nhau, tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện… Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Ðền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ”(Cv 2,42). Chính Thánh Thần ban phát các đặc sủng để xây dựng Hội thánh: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung”(1Cr 12,4).
Đặc biệt đời sống bác ái hiệp nhất được củng cố bởi Thánh Thần: “Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau. Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được ơn để chia sẻ cùng một niềm hy vọng”(Ep 4,2). Cũng nhờ sức mạnh của Thánh Thần mà kitô hữu tham gia sứ vụ của Hội Thánh: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy… cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).
Thánh Thần và mối tình hôn ước của Giáo Hội với Chúa Kitô. “Vì thế… không ai có thể nói rằng: “Ðức Giêsu là Chúa”, nếu người ấy không ở trong Thần Khí”(1Cr 12,3). Thần Khí và Tân Nương nói: “Xin ngài ngự đến!” Ai nghe, hãy nói: “Xin Ngài ngự đến!“(Kh 22,17). “Ðấng làm chứng về những điều đó phán rằng: “Phải, chẳng bao lâu nữa ta sẽ đến” Amen, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!”(Kh 22,20). Để hiểu ý nghĩa, cần ghi nhận, Thánh Phaolô khi đề cập vấn đề hôn nhân, đã quả quyết: “Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Ðức Kitô và Hội Thánh”(Ep 5,32).
*BÁNH TRƯỜNG SINH được báo trước
Chúa Giêsu tuyên bố: “Chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”. Họ liền nói: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy”. Ðức Giêsu bảo họ: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”(Ga 6,32b-35). “Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn manna trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết . Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6, 48-51).

 

*BÁNH TRƯỜNG SINH được trao ban
“Trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Đây là Mình Thầy, hiến dâng vì anh em; anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy“. Cũng thế, sau bữa ăn, Người cầm lấy chén rượu và nói: “Chén này là Giao Ước Mới, lập bằng Máu Thầy; mỗi khi uống, anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy”(1Cr 11,23-25).
Hiệu quả tuyệt diệu của nhiệm tích Thánh Thể được Chúa Giêsu nêu lên hết sức rõ ràng: “Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Ðấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy”(Ga 6,55-57).
Vậy, qua nhiệm tích Thánh Thể, Đức Giêsu Kitô đã tự ban mình cách trọn vẹn, thể hiện một cách tổng hợp công trình cứu độ; Thánh Thể cũng là tất cả Kho tàng quý báu nhất của Giáo Hội (x. Chân phước GH Gioan Phaolô II. Ecclesia de Eucharistia. 9). Bởi vậy, Công đồng Vaticanô II đã xác nhận: “Thánh Thể là chóp đỉnh và là nguồn mạch của đời sống kitô giáo” (LG 11). Quả thật, đây là cao điểm Tình Yêu của Đức Kitô toàn ái trong kế hoạch yêu thương Chúa đã dự liệu trong Đức Giêsu Kitô”(Ep 1,9).

THAY LỜI KẾT
Thánh Tôma Aquinô nhận định: “Đặc tính của Thiên Chúa là trao ban, đặc tính của con người là tiếp nhận”.
Cụ thể, Thiên Chúa đã tự mạc khải là Tình Yêu (x. 1Ga 4,8.16), cũng vì yêu thương nhân loại, Người đã ban Con Một mình là Đức Giêsu Kitô (x. Ga 3,16). Trong Đức Giêsu Kitô, Người đã trao ban tất cả (x. Rm 8,32). Bởi vậy, con người được mời gọi tiếp nhận Đức Kitô toàn diện, trong các phẩm tính thần linh của Ngài, như Lời Chúa đã chứng tỏ cho chúng ta.
Tuy nhiên, đây cũng là toàn bộ kế hoạch yêu thương do tác động của cả Ba Ngôi Thiên Chúa nơi tâm hồn tín hữu, và bao gồm cả nhiệm cục cứu độ loài người được Thiên Chúa yêu thương (x. Lc 2,14). Thánh Phêrô đã có dịp trình bày vấn đề này, khi diễn tả chân tính của kitô hữu: “Tôi là Phêrô, Tông đồ của Đức Giêsu Kitô, kính gửi… những người được THIÊN CHÚA CHA biết trước và kén chọn, những người được THẦN KHÍ thánh hóa để vâng phục ĐỨC GIÊSU KITÔ, và được máu Người tưới rảy… là những người, nhờ lòng tin, được Thiên Chúa quyền năng gìn giữ, hầu được hưởng ơn cứu độ Người đã định sẵn, và sẽ bày tỏ ra trong thời sau hết”(1Pr 1,1.5). “Vâng phục Đức Giêsu Ki tô” chính là Tiếp Nhận Đức Kitô Toàn Diện, có nghĩa là “nhận Ngài làm Chúa” bản thân và xây dựng đời mình trên nền tảng là Đức Giêsu Kitô (x. Cl 2,6). Đây là đời sống kết hợp với Chúa Giêsu Kitô, để nên đồng hình đồng dạng với Ngài trong Tình mến: Tình mến phát xuất từ Chúa Cha (x. Ga 3,16), được thể hiện qua Chúa Con (x. Rm 8,39) và tác động do Chúa Thánh Thần (x. Rm 5,5). Tình mến là sợi chỉ xuyên suốt toàn bộ sứ vụ và sứ điệp của Chúa Giêsu. Bởi vậy, Tình mến là giới răn mới của Chúa Giêsu: yêu NHƯ Chúa yêu (x. Ga 13,34), yêu với lòng dạ Chúa Giêsu (x .Pl 1,8). Đó là giá trị đích thực của mọi thực tại thiêng liêng (x. 1Cr 13,4-7), là bảo đảm sự sống thần linh (x. 1Ga 3,14), là bảo chứng chức vị con cái Thiên Chúa (x. 1Ga 3,10) là dấu hiệu đặc thù của người môn đệ Chúa Giêsu (x. Ga 13,35). Vì thế, kitô hữu tựu trung là con người cảm nhận được Tình Chúa yêu thương (x. 1Ga 4,16) đồng thời tiếp nhận sứ vụ làm chứng và chuyển đạt Tình yêu đó (x. 1Ga 3,11), nhờ kết hợp với Chúa Giêsu Kitô. Quả thật: “Trong Đức Kitô, Người đã chọn ta…để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người”(Ep 1,4). Chính vì vậy, một khi đã “yêu thương đến nỗi ban Con Một mình”(x. Ga 3,16), “Chúa Cha mời gọi chúng ta hiệp thông với Con của Người” (x. 1Cr 1,9) theo tiến trình nhằm mục tiêu đạt tới ơn HIỆP THÔNG NÊN MỘT trong Tình Mến: “Lạy Cha, Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hoàn toàn nên một; như vậy thế gian sẽ biết là chính Cha đã sai Con và đã yêu thương họ như đã yêu thương Con”(Ga 17,23). “Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương Con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa”(Ga 17,26). Để thể hiện ân huệ kỳ diệu này, Chúa Giêsu đã trao cho chúng ta bí quyết tuyệt vời, với lời mời gọi: “Anh em hãy Ở LẠI TRONG THẦY (Ga 15,4), hãy Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU của Thầy”(Ga 15,9).
Đi vào cuộc sống, chúng ta ghi nhận lời khích lệ quý giá của Thánh Phaolô để thực hiện, đặc biệt trong Năm Đức Tin này: “Anh em đã nhận Đức Giêsu Kitô làm Chúa, thì hãy tiếp tục sống kết hợp với Ngài. Anh em hãy bén rễ sâu và xây dựng đời mình trên nền tảng Đức Kitô Giêsu, hãy dựa vào đức tin mà anh em đã được thụ huấn, và để cho lòng chan chứa niềm tri ân cảm tạ”(Cl 2,6-7).

LỜI NGUYỆN CẦU:
TIẾP NHẬN CHÚA KITÔ TOÀN DIỆN
Lạy Chúa Giêsu Kitô, Tặng Ân viên mãn vĩnh cửu Thiên Chúa Cha trao ban; xin cho con tiếp nhận được Chúa trọn vẹn với lòng cảm mến, chan chứa tri ân.
LẠY CHÚA KITÔ TOÀN HỮU,
Xin cho con tiếp nhận được Chúa trọn vẹn,
Kẻo sa vào cảnh toàn ảo của hư vô trống rỗng.
LẠY CHÚA KITÔ TOÀN TRI,
Xin cho con tiếp nhận được Chúa trọn vẹn,
Kẻo sa vào vực thẳm của vô minh đen tối.
LẠY CHÚA KITÔ TOÀN NĂNG,
Xin cho con tiếp nhận được Chúa trọn vẹn,
Kẻo sa vào nẻo đường bế tắc vô vọng.
LẠY CHÚA KITÔ TOÀN THỂ,
Xin cho con tiếp nhận được Chúa trọn vẹn,
Kẻo sa vào kiếp bất hạnh cô đơn đọa đày.
LẠY CHÚA KITÔ TOÀN ÁI,
Xin cho con tiếp nhận được Chúa trọn vẹn,
Kẻo con trở thành vô cảm lạnh lùng;
Trái lại, xuyên qua Ngọn Lửa Thánh Tâm của Chúa,
con được tham dự hồng ân Hiệp thông vĩnh phúc,
theo kế hoạch của Tình Ba Ngôi Thiên Chúa yêu thương.
AMEN! HALLELUIA!

 

 

 

 

 

 

 

 

THÔNG HIỆP

VỚI THIÊN CHÚA VÀ HỘI THÁNH

 VP Dominico

Cánh cửa đức tin dẫn vào đời sống hiệp thông với Thiên Chúa và với Giáo Hội…’ (PF 1)
Câu mở đầu của tự sắc Porta fidei nêu rõ mục đích ĐTC Benedicto XVI, nhằm trong năm thánh này. Vì thế chúng tôi có lý coi hiệp thông như điểm trung tâm của năm thánh. Hẳn nhiên qua những chỉ dẫn của tự sắc và qua những đề nghị của Bộ Giáo lý đức tin, các Hội Đồng Giám Mục địa phương sẽ có các tổ chức hoành tráng về phụng vụ, các lớp học hỏi, các buổi tuyên xưng đức tin và nhiều sinh hoạt rầm rộ khác nữa… nhưng năm thánh sẽ mất ý nghĩa nếu chưa giúp mọi thành phần dân Chúa đạt tới sự thông hiệp với Thiên Chúa và Hội Thánh.
Như chúng ta biết, năm nay kỷ niệm 50 năm khai mạc công đồng Vatican II và 20 năm công bố sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo. Hai biến cố ấy đã đi vào lịch sử, mà vẫn mở ra một cuộc canh tân mang tính toàn diện cho cộng đồng dân Chúa. Mỗi kitô hữu, qua bí tích Thanh tẩy sẳn sàng dấn bước hành trình, “khả dĩ kéo họ ra khỏi sa mạc, để tiến đến sự sống, đồng thời thắt chặt hướng về tình bạn với Con Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng ta sự sống, sự sống sung mãn”( PF 2). Sự sống ấy như Edêkien tiên báo, chảy ra từ bên cạnh đền thờ, tức Hội Thánh, tạo nên một dòng sông mỗi lúc mỗi dâng cao, để rồi tưới mát cả cảnh đồng thế giới. Mỗi kitô hữu có nhiệm vụ khai thông cho dòng nước này, theo mệnh lệnh Chúa Kitô: “Hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy”(Mc l6,15). Hẳn thật, truyền giảng Tin Mừng không đồng nghĩa chiêu mộ đảng viên, nhưng giới thiệu cho người nghe một bậc thầy, và là một người bạn. Đó thật đúng với ý nghĩa chữ mạc khải, vì mạc khải không gì khác hơn là “Thiên Chúa đến nói chuyện với ta như với những người bạn”(Vatican II, DV 2). Đã là bạn, đương nhiên, ta được tháp nhập vào mối hiệp thông rồi! Sau đây để đào sâu chủ đề, chúng ta sẽ lần lượt triển khai ba điểm chính:
– Tại sao hiệp thông được coi như điểm trung tâm ?
– Thế nào là thông hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi ?
– Hội Thánh, phải chăng là mảnh vườn sặc xở hoa hiệp thông ?
Tại sao Hiệp thông là điểm trung tâm của năm đức tin?
Kitô hữu đã nhận sứ vụ làm chứng cho Đức Kitô Phục sinh khi họ nhận lãnh bí tích Thanh Tẩy (PF 1).Thánh tông đồ Gioan đã ý thức tầm quan trọng và mục đích của sứ vụ nầy hơn ai hết, vì thế, Ngài viết cho các giáo đoàn: “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Người”(1Ga 1,3).
Nhưng hiệp thông là gì? Theo nghĩa gốc, hiệp thông là nên một, oikononia, communio. Từ hiệp thông trong việt ngữ, hình như có nội dung sâu sát hơn. Hai cục đá buộc lại với nhau chỉ có hiệp mà không thông, trái lại cành với cây vừa hiệp vừa thông, vì có chung một nhựa sống. Hai hình ảnh Kinh thánh dùng để chỉ sự hiệp thông trong Giáo Hội là cây nho và cành nho hay đầu với các chi thể (Ga 15 & 1Cr 12) trả lời câu hỏi: Tại sao hiệp thông là điểm trung tâm của năm đức tin. Tin không phải chỉ chấp nhận một lý thuyết, nhưng luôn kèm theo lòng mến, cụ thể hoá qua hành động. Như thế hiệp thông là hồn của lòng tin, và là điểm nhắm của mọi sinh hoạt trong năm đức tin này.
Thế nào là hiệp thông với Thiên Chúa ?
Đối tượng niềm tin Kitô giáo là Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Trong Ba Ngôi có một sự hiệp thông viên mãn, bởi Thiên Chúa là Tình Yêu (1Ga 4, 8. 16). Nhưng tình yêu là sự thiện hảo luôn trào tràn (Bonum difusivum sui, Boetius). Vạn vật và chúng ta là kết qủa của sự trào tràn tình yêu Thiên Chúa. Ngài là Alpha và Omega (KH 1,8). Chúng ta xuất phát từ Ba Ngôi, rồi trở về Ba ngôi. Ý thức như thế, thánh Augustino nói lên nỗi thao thức: “Fecisti nos ad Te, et inquietum est cor nostrum, donec requiescat in Te”, “Chúa dựng nên chúng con để TÌM Chúa, và lòng chúng con mãi thao thức cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa” (Confessio 1). May thay Thiên Chúa cho chúng ta cảm nếm Ngài ngay tại thế. Vịnh gia cũng kêu mời “Anh em hãy nếm xem Thiên Chúa dịu ngọt dường bao”(Tv 33). Hẳn thật trong lịch sử cứu độ biết bao tâm hồn được thưởng nếm diệu cảm thần linh này! Điển hình như cụ già Simeon hay thánh tông đồ Phaolo. Thật quá kỳ diệu, các ngài chỉ biết kêu lên: “Điều mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe, và lòng chưa hề cảm nếm được, đó là điều Thiên Chúa dành cho kẻ yêu mến Ngài”(1Cr 2,9).
Những diệu cảm nói đây không phải những tình cảm ướt át, nó thâm nhập con người toàn diện: hồn và xác, lý trí, ý chí và con tim. Vì thế, muốn thông hiệp với Thiên Chúa, con người phải huy động ba nhân đức đối thần tin, cậy, mến với trợ lực của Thần Khí.
Trước hết Thần Khí cho ta cảm nhận mình là con Cha trên trời : “Anh em xem, Chúa Cha yêu chúng ta dường nào, đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, và quả thật chúng ta là con Thiên Chúa” (1Ga 3,1). Tình phụ tử của Thiên Chúa được bày tỏ qua việc Ngài ban cho ta Con Một (Ga 3,16). Do đó ta càng thêm vững tin: “Nếu Con Một mà Người sẵn sàng thí ban, thì chẳng lẽ Người không rộng ban tất cả cho chúng ta sao?” Hãy tin vào Chúa Giêsu, bởi Ngài đặt vào miệng chúng ta kinh Lạy Cha. Cha trên trời thương ta hơn cả mẹ trần gian (Is 49,15). Chúa Giêsu khẳng định: “Cha dành cho ta món quà trọng đại nhất, đó là Chúa Thánh Thần (Lc 11,13). Ngài chăm chút thậm chí từng sợi tóc của ta, nhất là Ngài kiên nhẫn chờ đợi ta để tha thứ sau bước đuờng ta đi hoang (Lc 15,20). Vậy muốn hiệp thông với Cha, thì chúng ta phải làm gì? Thưa, theo gương Chúa Giêsu ta thà uống chén đắng hơn là làm ngược thánh ý Cha (x Mc 14,36). Ngài dứt khoát đi chịu khổ nạn ‘để thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha’ (Ga 14, 31).
Có lẽ nhiều người trong chúng ta tự bảo: Làm sao tôi có thể bắt ý muốn của tôi hoà hiệp với thánh ý Cha được như Đức Kitô? Đây, bí quyết của thánh Phaolô: “Tôi sống không phải tôi, chính Đức Kitô sống trong tôi”(Gal 2, 20) hay “Tôi yêu anh em bằng chính tình yêu Đức Kitô”(Pl 1,7). Để đạt tới đỉnh cao của sự thông hiệp, giả định sự kết hiệp mật thiết giữa tôi và Đức Kitô (Ep 3,16-19). Chúa Kitô vừa là gương mẫu, vừa là trung gian dẫn chúng ta vào trong sự thông hiệp với Chúa Cha (Mt 11,27). Đó là lý do Chúa Giêsu kêu mời chúng ta ở lại trong tình yêu của Ngài, tới bốn lần trong Gioan 15,3-9. Dĩ nhiên, chúng ta phải thể hiện sự “ở trong tình yêu của Thầy” qua bí tích Thánh Thể, qua việc sống Lời Chúa và thực thi bác ái huynh đệ (1Ga 4,16-20).
Hiệp thông trong Chúa Thánh Thần
Trong ba việc vừa nêu trên, Chúa Thánh Thần đóng vai chính. Quả thật, làm sao sống bí tích yêu thương, là Thánh Thể, nếu Thánh Thần chưa đổ tràn tình yêu vào lòng chúng ta? (x. Rm 5,5). Làm sao hiểu và sống Lời Chúa, mà chưa được Thần Chân Lý dẫn ta từng bước vào trong sự thật viên mãn? (Ga 16, 13). Làm sao chúng ta có được những trái yêu thương, nếu Thánh Thần chưa cho trổ hoa bác ái? (Gl 5,22-23)
Câu chúc sau đây của thánh Phaolô cho thấy vai trò của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh: “Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh em” (2 Cr 13,13). Qua mầu nhiệm Phục sinh Đức Giêsu đã mang lại cho mọi Kitô hữu Tình thương của Chúa Cha; tuy nhiên để qui tụ họ thành Hội Thánh như một “cộng đoàn yêu thương” thì phải có ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần. Vì Thánh Thần ở trong Hội Thánh như hồn ở trong thân xác (x. LG 4). Xác không hồn, chầy kíp sẽ bị tan rữa !
Nhìn lại Giáo đoàn đầu tiên ở Giêrusalem, sau biến cố Ngũ tuần, nhờ tác động yêu thương của Thánh Thần, “họ sống kết hiệp với nhau như chỉ có một lòng, một linh hồn” (Cv 4,32).
Hoạt động của Thần Khí còn tiếp diễn ngày nay chăng ? Có chứ, lịch sử hai nghìn năm của Giáo Hội là chứng từ hùng hồn nhất. Dĩ nhiên, sự chia rẻ thời nào cũng có, chẳng hạn trong giáo đoàn Côrintô, thời Thánh Phaolô, hay trong việc phân ly của các giáo phái Kitô vào thế kỷ XVI. Nhưng sau Công đồng Vatican II, một luồng sinh khí mới qua phong trào đại kết, đang thổi qua các giáo đoàn. Sinh khí ấy do đâu, nếu không bởi Chúa Thánh Thần? Ngài đang mời gọi sự hợp tác của mọi kitô hữu. Hẳn thật: “Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì chúng ta hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước”(Gl 5,25). Tiến bước với Thánh Thần khác gì chiếc thuyền được gió thổi vượt trùng dương, với điều kiện chúng ta phải căng buồm lên. Những tiếng giục bảo của Thánh Thần, tuy âm thầm, song quyết liệt, diễn tả qua lời Kinh Thánh hoặc qua tiếng nói nội tâm. Thánh Phaolô ân cần căn dặn mỗi người: “Anh em đừng dập tan Thần Khí”(Ep 5,18). Thánh Tổ Biển Đức cũng đã chia sẻ kinh nghiệm: “Một khi đã tiến bộ trong đời tu và đức tin, một khi lòng phấn khởi và nếm được sự ngọt ngào khôn tả của tình yêu, chúng ta sẽ chạy trên đường giới răn Thiên Chúa”(TL Lời tựa) .
Phải chăng Giáo Hội là vườn hoa hiệp thông ?
Đương nhiên rồi ! Công đồng Vatican II định nghĩa Hội Thánh là cộng đoàn yêu thương (x. LG 13c). Nhưng làm sao có yêu thương, nếu chưa có thông hiệp. Người ta thường nói: “Xem quả thì biết cây”. Sách Công vụ Tông đồ chứng minh đặc tính sáng ngời ấy, đồng thời coi đó như yếu tố tăng tốc cho sự phát triển vượt mức ngay trong giai đoạn đầu của Kitô giáo. Plinius, một tổng trấn, trong thư báo cáo cho hoàng đế Roma vào đầu kỷ nguyên, đã xác định: “Trong vùng chúng tôi, có một nhóm người thờ ông Kitô. Họ rất yêu thương nhau”. Đây quả là vẻ đẹp đặc thù của Giáo Hội, khả dĩ cuốn hút bao tâm hồn qua hai nghìn năm lịch sử. Những cơn bách hại triền miên đã giáng xuống trên cộng đoàn Kitô khắp mọi miền, hôm qua cũng như hôm nay, nhưng không sao làm dập nát được vườn hoa hiệp thông; trái lại cây hoa càng thêm bụ bẫm và nhân thừa lên. Đúng như ngài Tertulianô đã tuyên chứng: Sanguis martyrum est semen chrisstianorum, (máu các tử đạo là hạt giống nảy sinh các kitô hữu) !
Hoa bác ái hiệp thông của Kitô giáo thật ra không chỉ nở tươi trong vũng máu của các chứng nhân đức tin, mà còn khoe sắc trong các nhà thương, các trại phong, trong các trường học và ở mọi ngóc ngách của bất cứ nơi nào cần đến bàn tay cứu trợ của ai đó mang tinh thần người Samaritanô nhân hậu (x. Lc 10,29-37).
Dân Ấn Độ sẽ chẳng bao giờ quên được những tấm lòng hy sinh quảng đại như Mẹ Têrêsa thành Calcutta! Gương của Mẹ ngày nay được nhân thừa lên khắp nơi. Đây hẳn là phương cách tái phúc âm hữu hiệu nhất, mà Thượng Hội Đồng Giám mục XIII không tiếc lời khen ngợi (xem tuyên ngôn THĐGM TG 13).
Trước lời mời gọi khẩn thiết của THĐGM Thế giới này, chắc ai trong chúng ta cũng cảm thấy đầy nhiệt thành, muốn ra đi, tới mọi chân trời góc biển để loan báo Tin Vui Cứu Độ! Thế nhưng, như thánh nữ Têrêsa HĐGS, chúng ta lại được mời gọi sống ơn gọi đặc thù của mình. Vì “hữu xạ tự nhiên hương!” Hương của Hoa Thông Hiệp luôn bay lên và lan toả theo “Làn Gió” của Thần Khí ! Không gì có thể cản được làn gió này, dù là nơi kín cổng cao tường!
Kết luận
“Cánh cửa Đức Tin đã mở sẵn, dẫn mọi người vào thông hiệp với Thiên Chúa và Hội Thánh”
Câu khẳng định này giúp ta đi vào trọng tâm của Năm Thánh, với niềm hy vọng chứa chan, nếu ta đặt tất cả niềm tin vào Đức Kitô ! Nhưng ước gì mỗi người chúng ta sống hết ý nghĩa của đức tin!
Hẳn thật, Tin trước tiên là sẵn sàng đối thoại với Thiên Chúa MẠC KHẢI, Đấng “đến nói chuyện với con người như với những người bạn” (DV 2).
Thứ đến, Tin là lắng nghe Thiên Chúa (x. Rm 10,17). Đan sĩ được thánh tổ Biển Đức khuyên mời ngay từ chữ đầu của Tu Luật: “Ausculta. O fili”: (lắng nghe, con ơi…). Lắng nghe rồi, đương nhiên phải thưa AMEN và FIAT như Đức Maria.
Sau hết Tin, theo Công đồng Vatican II là “hiến toàn thân cho Đấng mình tin” (DV 5). Sự hiến toàn thân nầy giả định một sự THÔNG HIỆP trọn vẹn với Thiên Chúa, trong Thánh Linh của Ngài. Hạnh phúc thay những ai cảm nhận được niềm vui vĩnh cửu do sự hiệp thông với Thiên Chúa!
“Sự sống anh em được ẩn tàng với Đức Kitô trong Thiên Chúa. Khi Đức Kitô, nguồn sống anh em xuất hiện, anh em cũng được xuất hiện với Người, để cùng Người hưởng PHÚC VINH QUANG”(Cl 3,3-4).

 

 

 

 

 

 

 

 

HUYỀN NHIỆM HIỆP THÔNG

 

Lm.Ân Đức Trần Ngọc Hoan

 

                           Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa nguồn tình yêu viên mãn,
                           Là vinh quang, là sự sống muôn đời,
                           Là mạch nguồn hạnh phúc chẳng cạn vơi,
                           Là nguyên ủy, là cùng đích mọi sự.
                           Chúa dựng nên con người chỉ thua hàng thiên sứ,
                           Ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên.
                           Bắt muôn loài phải lụy phục uy quyền,
                           Khắp mặt đất Ngài cho làm bá chủ.
                           Sự sống thần thiêng được phần thông dự,
                           Ân huệ tuyệt vời như nghĩa thiết tình thân.
                           Nhưng than ôi! Nguyên tổ bất tuân,
                           Bản giao hưởng nửa chừng sai cung nhịp.
                           Lời Chúa hứa ngàn đời ôi tha thiết,
                           Đấng Cứu Tinh : Con Thiên Chúa làm người,
                           Đã xuống trần trong thân phận bầy tôi,
                           Dùng thập giá : cây trường sinh bất tử.
                           Ân huệ Phục sinh: niềm vui chan chứa.
                           Trong dịu êm sức mạnh của Thánh Thần,
                           Hội Thánh khơi nguồn từ máu nước trào tuôn,
                           Như mẹ hiền ấp yêu đàn con nhỏ.
                           Cánh cửa đức tin: Hồng ân rộng mở,
                           Cho con bước vào biển cả của Tình yêu,
                           Một Tình yêu vô tận mọi chiều,
                           Rộng, dài, cao, sâu…Ôi Tình yêu Thiên Chúa!
                           Trong Đức Ki-Tô, nguồn ơn cứu độ,
                           Con được gọi mời hiện hữu chốn trần gian,
                           Được dự phần nguồn phong phú thiên ân,
                           Được gọi Chúa là “Cha”, sống trong tình Phụ-tử.
                           Trong Đức Ki-Tô, ơn Thánh Thần chan chứa,
                           Mạc khải cho con bao mầu nhiệm diệu huyền.
                           Gọi mời con vào sự sống thần thiêng,
                           Trong Đức Ki-Tô, con trở thành một thụ tạo mới.
                           Con muốn sống trọn tình hiệp thông mời gọi,
                           Được trở nên đồng hình, đồng dạng với Chúa Con,
                           Được mở ra đón nhận hết tâm hồn,
                           Ơn Chúa bao la mà con thì bé nhỏ.
                           Cho con hiệp thông nỗi vui buồn, sướng khổ,
                           Của con người, của Hội Thánh hôm nay,
                           Của mọi anh em không phân biệt là ai?
                           Để nên giống Cha trên trời, Đấng giàu lòng thương xót.
                           Lạy Chúa Ba Ngôi từ bi, ái tuất,
                           Xin cho con đừng ngần ngại đứng ngoài.
                           Đừng để con cứ tim đá, dạ chai,
                           Cánh cửa đức tin mãi im lìm đóng lại.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HIẾN CHƯƠNG ĐỨC ÁI

CARTA CARITATIS

 

Chuyển ngữ từ bản tiếng pháp : Phan Bảo Luyện

 

Hiến Chương Đức Ái được các thánh Tổ Phụ Xitô lập lên như cơ sở để xây dựng hiệp nhất giữa các đan viện.
1.Trước khi các đan viện xitô bắt đầu phát triển, viện phụ Stêphanô và các anh em quyết định sẽ không lập đan viện trong bất cứ giáo phận nào mà giám mục sở tại chưa chấp thuận và phê chuẩn sắc lệnh đã được cộng đoàn Xitô cũng như các cộng đoàn do Xitô thành lập soạn thảo và quyết nghị. Như thế là để tránh mọi đụng chạm giữa giám mục và các đan sĩ.
2. Vậy, trong sắc lệnh này, vì muốn mang lại sự bình an cho mọi người, các anh em nói trên trình bày, thiết định và lưu truyền cho hậu duệ mình những qui ước huynh đệ, quy định về lối sống, hay đúng hơn là đức ái để giúp gắn kết bền chặt tình huynh đệ của tất cả các đan sĩ trong các đan viện. Các anh em ấy cũng nghĩ rằng sắc lệnh này phải mang tên Hiến Chương Đức Ái, vì lẽ nội dung không đề cập tới những vấn đề vật chất, nhưng chỉ duy nhất nhắm tới đức ái cũng như lợi ích của các linh hồn trong những việc thuộc về Chúa và con người.

Chương I
Nhà-Mẹ không đòi hỏi Nhà-con bất cứ đóng góp nào về vật chất.

Điều 1
1. Vì tất cả chúng ta đều biết mình là tôi tớ, vô dụng của Vua duy nhất chân thật, là Chúa và là Thầy, nên chúng ta, kẻ rốt hết trong loài người, không đòi buộc các viện phụ, cũng là anh em của chúng ta trong đời sống đan tu và đã được Thiên Chúa nhân từ đặt làm bề trên tại các đan viện sống theo qui luật chung đã được ấn định do thừa tác vụ của chúng ta, phải đóng góp bất cứ của cải hay lợi lộc vật chất nào.
2. Thực vậy, vì ước mong giúp ích cho họ cũng như cho tất cả con cái, chúng tôi quyết định không làm gì gây phiền hà cho họ, giảm thiểu sở hữu của họ, để khi muốn cho mình được sung túc bằng những chi phí của họ, chúng tôi sẽ không tránh được thói hà tiện mà theo thánh Tông đồ đó là một thứ tôn thờ ngẫu tượng.
Điều 2: Sự ân cần chăm sóc khi có sai lệch
Tuy nhiên, vì đức ái, chúng tôi muốn quan tâm chăm sóc linh hồn họ, để nhờ sự ân cần của chúng tôi, họ có thể trở về nẻo chính đường ngay khi họ dám xa lìa ý hướng sống cuộc đời tốt lành và việc tuân giữ thánh Luật, dù chỉ là một chút.

Chương II
Mọi người hiểu và tuân giữ Tu luật như nhau
Điều 3
Và đây là ý của chúng tôi: chúng tôi truyền cho họ tuân giữ trọn vẹn Tu luật thánh Biển Đức như được giữ tại Tân Đan viện. Họ không được giải thích theo một nghĩa nào khác. Như các vị tiền bối, các Cha anh thánh thiện, tức là các đan sĩ Tân Đan viện, đã hiểu và giữ Tu luật thế nào, cũng như chúng ta hiểu và giữ ngày nay, họ cũng phải hiểu và giữ như vậy.

Chương III
Tất cả đều dùng các sách phụng vụ và sống theo các thói lệ như nhau.
Điều 3 (tiếp)
Và vì chúng tôi đón tiếp vào đan viện chúng tôi tất cả các đan sĩ của các đan viện khác đến với chúng tôi, thì họ cũng đón tiếp các đan sĩ của chúng tôi vào đan viện của họ. Nên chúng tôi thấy thích hợp và muốn rằng: Họ cũng theo một cách sống, một loại ca hát và tất cả những sách cần thiết cho các giờ kinh ban ngày cũng như ban đêm giống với cách sống và các sách kinh của Tân Đan viện, để không có gì khác biệt trong các sinh hoạt của chúng ta, nhưng chúng ta cùng sống trong một đức ái, dưới một Tu luật và theo một cách sống duy nhất.
Điều 4
Loại bỏ mọi đặc ân trái ngược với hiến pháp
Không một đan viện hay cá nhân nào thuộc Dòng chúng ta được táo bạo xin bất cứ ai một đặc ân trái ngược với luật chung của Dòng, cũng như nắm giữ đặc ân này cách nào đó một khi đã xin được.

Chương IV
Điều lệ chung về tương quan giữa các đan viện
Điều 5
1. Khi viện phụ của Tân Đan viện tuần viếng một cộng đoàn nào, viện phụ sở tại sẽ nhường chỗ nhất cho ngài ở mọi nơi trong đan viện, để nhìn nhận rằng: Tân Đan viện là mẹ của cộng đoàn mình. Và viện phụ tuần viếng ngồi ở chỗ của viện phụ sở tại trong suốt cuộc tuần viếng. Nếu viện phụ sở tại không đi vắng, ngài không dùng bữa ở nhà khách, nhưng ở nhà cơm với anh em, để duy trì kỷ luật.
2. Tất cả các viện phụ trong Dòng chúng ta cũng giữ như vậy khi các ngài ghé qua một đan viện. Khi có nhiều viện phụ tới mà viện phụ sở tại đi vắng thì vị niên trưởng sẽ dùng bữa ở nhà khách.
3. Ngoại trừ trường hợp đón nhận tập sinh sau thời gian thử theo luật, thì viện phụ sở tại vẫn thi hành quyền này, ngay cả khi có sự hiện diện của viện phụ thế giá hơn.
Điều 6
Quyền của viện phụ tuần viếng
1. Ngoài ra, viện phụ Tân Đan viện phải tránh can thiệp, xử lý hay xếp đặt bất cứ điều gì liên quan tới của cải vật chất của đan viện ngài tuần viếng; cũng đừng chiếm lĩnh trái ý muốn của viện phụ và anh em.
2. Trái lại, nếu ngài thấy các chỉ thị của Tu luật hay của Dòng không được tuân giữ, ngài sẽ hội ý với viện phụ sở tại rồi lấy tình bác ái mà chấn chỉnh. Khi viện phụ sở tại đi vắng, ngài cũng sửa sai những gì ngài thấy cần phải sửa.

Chương V
Tuần viếng thường niên của Nhà-mẹ tại nhà con
Điều 7
Mỗi năm một lần, viện phụ của Nhà-mẹ tuần viếng (đích thân hoặc do một anh em thuộc đan viện) tất cả các cộng đoàn ngài đã thiết lập. Nếu ngài tuần viếng thường xuyên hơn, anh em ở các cộng đoàn ấy sẽ vui mừng hơn.
Điều 8
Tuần viếng nhà Xitô
Còn nhà Xitô sẽ được bốn viện phụ đầu tiên của La Ferté, Pontigny, Clairvaux và Morimond cùng tuần viếng và mỗi vị phải đích thân thực hiện vào ngày được các vị đồng thuận với nhau, ngoài thời gian hội nghị thường niên. Trừ khi một trong bốn vị ấy mắc bệnh nặng không thể cùng thực hiện cuộc tuần viếng.

Chương VI
Sự tôn kính dành cho Nhà-con khi Nhà-con tuần viếng Nhà-mẹ
Điều 9
Khi một viện phụ của các Nhà-con (thuộc Dòng chúng ta) tới Tân Đan viện, mọi người sẽ tỏ lòng tôn kính ngài cách thích hợp (với một viện phụ). Ngài đứng ở chỗ ca tòa của viện phụ sở tại, ngài chỉ tiếp đón khách và dùng bữa với họ (ở nhà khách) nếu viện phụ sở tại đi vắng.
Nếu trái lại, viện phụ sở tại ở nhà, ngài sẽ không tiếp đón và không dùng bữa với khách nhưng dùng bữa tại nhà cơm, và viện phó sở tại sẽ điều hành công việc của cộng đoàn.
Điều 10
Tiếp đón viện phụ những nhà-con khác
1. Các đan viện không có liên hệ mẹ-con với nhau sẽ theo qui luật sau đây. Mọi viện phụ, ở mọi nơi trong đan viện mình, sẽ nhường chỗ cho viện phụ khách, để thực thi lời này: “Anh em hãy tôn kính lẫn nhau”. Nếu có hai hoặc ba viện phụ khách, vị niên trưởng sẽ ở chỗ nhất.
2. Tuy nhiên, tất cả các ngài sẽ dùng bữa tại nhà cơm, như chúng tôi đã nói trên, ngoại trừ viện phụ sở tại. Nhưng khi hội họp, các ngài sẽ nhận chỗ theo thứ tự thời gian đan viện các ngài được thành lập. Như thế, viện phụ của đan viện lập đầu tiên sẽ ngồi chỗ nhất. Trừ ra nếu vị nào trong các ngài mặc áo dài trắng (chú thích của người dịch: áo dài trắng: aube [tiếng Pháp]; alba: [tiếng latinh]), vị ấy sẽ đứng trước các ngài ở ca tòa phía trái, và làm mọi việc thuộc nhiệm vụ của vị chủ tọa, ngay cả khi ngài là người trẻ nhất.
Nhưng khi tụ họp lại bất cứ ở đâu, các ngài đều cúi đầu chào nhau.
Điều 11
Tương quan giữa những đan viện không trực tiếp xuất phát từ Xitô.
Cấm mọi tổng công hội riêng biệt
1a. Khi nhờ ơn Chúa, một trong các đan viện chúng ta phát triển tới độ có thể lập một đan viện khác, hai đan viện này cũng ứng xử với nhau theo qui luật chúng ta vẫn giữ với các anh em chúng ta ở những đan viện chúng ta đã thành lập.
1b.Tuy nhiên, chúng tôi muốn và qui định điều này: tất cả các viện phụ từ mọi miền, theo ngày các ngài thỏa thuận với nhau, sẽ về Tân Đan viện và suy phục viện phụ cũng như hội đồng ở đó liên quan tới việc tu chỉnh những lệch lạc trong cách tuân giữ thánh Luật và những chỉ thị của Dòng.
2. Phần các ngài, các ngài sẽ không nhóm họp hội nghị thường niên nào với những đan viện các ngài đã thành lập. Trừ khi các đan viện ấy nhóm họp hội nghị thường niên với nhau.

Chương VII
Tổng hội nghị các viện phụ ở Xitô
Điều 12
1.Tất cả các viện phụ của những đan viện ấy sẽ nhóm họp mỗi năm một lần vào ngày các vị ấn định. Nhưng tất cả các viện phụ của Dòng chúng ta sẽ họp tổng hội nghị Xitô mỗi năm, phải dành ưu tiên cho công việc này.
2. Nhưng nếu bị ngăn trở vì lý do sức khỏe hay vì việc khấn hứa của tập sinh mà một trong các viện phụ chúng ta không tới họp mặt được vào ngày đã thỏa thuận và nơi đã dự liệu trước. Vị ấy sẽ gửi viện phó của ngài đến với nhiệm vụ trình bày cho hội nghị lý do ngài vắng mặt và khi trở về sẽ báo cáo cho ngài và anh em trong nhà những điều chúng ta quyết định hoặc thay đổi.
3. Nếu trong mọi trường hợp, vị nào đó dám tự ý không tham dự tổng hội nghị của chúng ta, ngài sẽ xin lỗi ở hội nghị vào năm sau và sẽ chịu hình phạt dành cho lỗi nhẹ, theo phán quyết của vị chủ tọa. Ngài chỉ được tha sau khi đã bị nghiêm trách.
Điều 13
Đối tượng tổng công nghị phải quan tâm
Khi các ngài nói về phần rỗi các linh hồn mình: các ngài sẽ ấn định điều gì phải được chỉnh đốn hay thêm vào trong việc tuân giữ thánh Luật và những chỉ thị của Dòng; các ngài sẽ phục hồi sự bình an và đức ái huynh đệ.
Điều 14
Các viện phụ nhận lỗi ở tổng hội nghị
Nếu một viện phụ bị coi như thiếu nhiệt thành với Tu Luật hay quá ôm đồm những việc thế gian, hoặc hư hỏng về lãnh vực nào đó, ngài sẽ được cảnh cáo, với tình bác ái yêu thương. Khi được cảnh cáo, ngài phải xin lỗi và chịu phạt vì lỗi mình. Nhưng chỉ các viện phụ mới có thể cảnh cáo như vậy.
Điều 15
Tranh chấp giữa các viện phụ, lỗi nặng
Nếu xảy ra bất hòa giữa bất cứ những viện phụ nào, hoặc nếu có viện phụ nào vì một lỗi nặng đã bị phát hiện mà đáng phải bị treo chức hay bãi chức, thì cứ giữ đúng như hội nghị ấn định, không thay đổi gì.
Điều 16
Thủ tục phải giữ khi có bất đồng ý kiến
Tuy nhiên, nếu vì bất đồng ý kiến mà sự việc gây ra tranh cãi, khi ấy phải tuyệt đối tuân theo phán quyết của viện phụ Xitô và những vị xem ra khôn ngoan nhất và có thẩm quyền nhất, đồng thời phải để ý điều này: Không người nào có liên hệ đặc biệt trong vụ việc được tham gia vào phán quyết đó.
Điều 17
Trợ giúp vật chất cho những đan viện có nhu cầu
Nếu có đan viện nào lâm cảnh quá túng thiếu, viện phụ của cộng đoàn ấy sẽ trình bày hiện trạng trước toàn thể hội nghị. Khi đó, tất cả các viện phụ, được đức ái nồng nhiệt nung nấu, sẽ tùy khả năng mà mau mắn dùng những của cải Chúa ban cho mình để trợ giúp đan viện túng thiếu ấy.
Điều 18
Trống ngôi viện phụ và chuẩn bị bầu viện phụ mới
1. Nếu một nhà trong Dòng chúng ta có viện phụ qua đời, viện phụ của nhà sáng lập nhà ấy sẽ điều hành mọi sự thuộc nhà ấy cho tới khi bầu một viện phụ khác.
Cũng vậy, nơi mọi cộng đoàn thiếu chú chăn, trong bất cứ trường hợp nào, anh em ở những cộng đoàn ấy sẽ mời viện phụ của Nhà-mẹ; trước sự hiện diện của ngài và theo ý kiến của ngài họ chọn cho mình một viện phụ…
2. Sau khi đã ấn định ngày bầu cử, sẽ triệu tập cử tri, kể cả các viện phụ của những cộng đoàn phát xuất từ nhà ấy; rồi theo ý kiến và sự ưng thuận của viện phụ Nhà mẹ, các viện phụ và các đan sĩ của nhà ấy sẽ bầu chọn một viện phụ
Điều 19
Việc quản trị nhà Xitô trong thời gian khuyết nhiệm
Trong thời gian đó, viện phụ của La Ferté, như chúng tôi đã nói trước đây, sẽ thay thế viện phụ quá cố trong mọi sự cho tới khi bầu cử một viện phụ khác, và với ơn Chúa giúp, ngài sẽ nhận chức và thi hành nhiệm vụ ở nơi ấy.
Về nhà Xitô, vì là mẹ của tất cả chúng ta, nên khi viện phụ ở đó qua đời, bốn viện phụ đầu tiên, tức là viện phụ của La Ferté, Pontigny, Clairvaux và Morimond sẽ đảm nhiệm việc quản trị nhà ấy cho tới khi một viện phụ được bầu lên và nhận chức.
Điều 20
Bầu cử viện phụ Xitô
Khi người cha của mình qua đời, các anh em thuộc Tân Đan viện sẽ gửi tới các viện phụ ba sứ giả, như chúng tôi đã nói trên, hoặc nhiều hơn nếu họ muốn, và họ sẽ mời đến bao nhiêu viện phụ có thể trong vòng mười lăm ngày, rồi với sự nhất trí ưng thuận của các ngài, họ sẽ chọn cho mình một chủ chăn như Chúa đã tiên liệu.
Để bầu chọn viện phụ Xitô, sau khi đã ấn định ngày, sẽ triệu tập trong vòng mườì lăm ngày các viện phụ của những nhà phát xuất từ Xitô và những viện phụ khác được những viện phụ nói trên và các anh em nhà Xitô coi là có thẩm quyền. Và khi đã tụ họp nhân danh Chúa, các viện phụ và các đan sĩ nhà Xitô sẽ bầu chọn một viện phụ.
Điều 21
Điều kiện để được chọn làm viện phụ
Họ sẽ chọn cho mình một viện phụ từ giữa anh em mình hoặc những anh em thuộc Tân Đan viện hay thuộc những đan viện khác của chúng ta.
Mọi Nhà-mẹ của Dòng chúng ta được tự do chọn làm viện phụ, không chỉ một đan sĩ của những Nhà-con, nhưng khi cần, ngay cả một viện phụ của những đan viện ấy nữa.
Điều 22
Quyền bầu cử chủ động và thụ động chỉ dành cho các thành viên của Dòng
1. Vì các đan sĩ xitô không được bầu một người của các đan viện không thuộc về Dòng làm viện phụ, cũng không được để cho đan sĩ của mình làm viện phụ ở những đan viện khác.
Không đan viện nào của chúng ta được bầu một người thuộc Dòng khác làm viện phụ, y như không được cho người của chúng ta làm viện phụ ở những đan viện không thuộc Dòng chúng ta.
2. Nhưng tất cả những ai được các đan sĩ chọn, từ bất cứ cộng đoàn nào thuộc Dòng chúng ta, đều sẽ được chấp nhận mà không bị phản đối.
Điều 23
Viện phụ từ chức
Nếu một viện phụ, vì thiếu khả năng hay vì thiếu can đảm mà xin viện phụ Nhà-mẹ, tức viện phụ của nhà đã lập nên nhà của ngài, để được cất khỏi gánh nặng của chức vụ viện phụ, thì viện phụ-nhà mẹ phải cẩn thận không nên dễ dàng chấp thuận nếu không có lý do thích đáng và khẩn thiết. Nhưng ngay cả trong trường hợp ấy, ngài sẽ không tự mình chấp thuận, trái lại ngài sẽ triệu tập vài ba viện phụ khác thuộc Dòng chúng ta, rồi sau khi đã họp bàn với những vị ấy ngài sẽ làm như tất cả các ngài thấy cần phải làm.
Điều 24
Cất chức viện phụ
Nếu một viện phụ tỏ ra coi thường thánh Luật hay các điều luật của Dòng chúng ta (hay vi phạm các điều luật của Dòng chúng ta), hoặc đồng thuận với nết xấu của các anh em được ủy thác cho ngài, thì viện phụ của Tân Đan viện (của Nhà-mẹ), tự mình hay nhờ viện phó của cộng đoàn, hoặc bằng thư từ, cố gắng bốn lần nhắc nhở để đương sự tu sửa. Nếu đương sự đáp lại bằng sự khinh mạn và nếu đã được nhắc nhở mà đương sự vẫn không tu sửa và từ chối tự rút lui. Lúc ấy, viện phụ của nhà-mẹ sẽ báo cáo với giám mục của giáo phận nơi đương sự cư trú, và với các kinh sĩ thuộc địa phận của ngài về lầm lỗi của đương sự. Các ngài sẽ cho mời đương sự tới và bàn thảo kỹ lưỡng sự việc với viện phụ của nhà-mẹ: Các ngài sẽ sửa sai đương sự hoặc nếu đương sự tỏ ra chống đối, các ngài sẽ bãi chức.
Nhưng nếu giám mục và hàng giáo sĩ của ngài không lấy làm quan trọng việc vi phạm thánh Luật trong cộng đoàn ấy và từ chối bãi nhiệm hay sửa sai viện phụ có lỗi. Khi đó, viện phụ của Tân Đan viện và vài ba viện phụ thuộc Dòng chúng ta sẽ cùng với ngài tới cộng đoàn liên hệ và bãi nhiệm kẻ vi phạm thánh Luật. Trước mặt các viện phụ và sau khi nghe ý kiến các ngài, các đan sĩ ở nơi ấy sẽ chọn cho mình một viện phụ khác là người xứng đáng.
Điều 25
Biện pháp đối với những người ngoan cố
Nếu viện phụ và các đan sĩ của đan viện sở tại khinh thị các viện phụ đến với họ và từ chối tu sửa theo lệnh của các ngài, khi ấy họ sẽ bị tuyệt thông do chính viện phụ của nhà-mẹ và những viện phụ khác, những người đồng nhiệm với ngài trong chức vụ viện phụ. Sau đó, ngài sẽ cho họ trở lại nhiệm vụ trong quyền hạn của ngài và thấy là thích hợp.
Điều 26
Đón nhận những anh em hối cải
Nếu, sau đó, một trong những anh em lầm lạc hồi tâm muốn tránh cho linh hồn mình khỏi chết, và với lòng ước mong cải thiện, trở lại nhà mẹ, tức là Tân Đan viện, để cư ngụ ở đó, họ sẽ được đón nhận như một đan sĩ của đan viện này.
Điều 27
Trường hợp chuyển cư duy nhất
Ngoài trường hợp đó mà anh em chúng ta phải cẩn thận tránh, chúng ta không nhận một đan sĩ nào thuộc các đan viện chúng ta đến ở mà lại không có sự đồng ý của viện phụ của đan sĩ ấy. Chúng ta không đưa các đan sĩ chúng ta tới ở trong đan viện của các ngài trái với ý các viện phụ đó, mà các ngài cũng không đưa đan sĩ của các ngài đến ở trong đan viện chúng ta.
Điều 28
Sửa lỗi viện phụ Xitô
Tuy nhiên, nếu các viện phụ của các đan viện chúng ta thấy Tân đan viện bắt đầu buông lỏng trong việc theo đuổi ý hướng sống đời thánh thiện và xa lạc con đường thẳng (việc tuân giữ) của thánh Luật hay những chỉ thị của Dòng chúng ta, thì nhân danh tất cả những viện phụ khác, các ngài cảnh cáo viện phụ sở tại tới bốn lần qua trung gian ba vị trong hàng viện phụ (trong số bốn viện phụ đầu tiên), tức các viện phụ của La Ferté, Pontigny, Clairvaux (và Morimond), rằng ngài phải tu sửa (và phải lo sửa dạy những anh em khác). Các ngài sẽ nhiệt thành thực thi đối với đương sự tất cả những gì chúng tôi đã chỉ thị phải làm (đã được nói tới) liên quan tới các viện phụ (tỏ ra chống đối) đã xa rời Tu luật, ngoại trừ điều này: nếu đương sự từ chối tự nguyện rút lui, các ngài không thể truất chức đương sự hay tuyên bố tuyệt thông chống lại kẻ phản loạn.
Vì nếu đương sự không chấp nhận lời các ngài cảnh cáo, các ngài sẽ báo ngay cho giám mục và các kinh sĩ của địa phận đó biết việc nổi loạn của đương sự, xin các vị đưa đương sự ra trước tòa, và sau khi nghe cáo trạng, hoặc là nghiêm trách, hoặc là bãi nhiệm chức vụ mục tử, nếu đương sự tỏ ra chống đối.
Sau khi đương sự bị bãi nhiệm, các anh em sở tại sẽ gửi ba sứ giả, hoặc bao nhiêu họ muốn, tới các đan viện do Tân Đan viện trực tiếp thành lập, và trong vòng mười lăm ngày, họ sẽ triệu tập bao nhiêu viện phụ có thể. Với ý kiến và sự trợ giúp của các ngài, họ sẽ bầu chọn viện phụ đã được Chúa muốn. Về phần viện phụ của La Ferté, trong lúc đó, ngài sẽ điều khiển đan viện này, cho tới khi nó được trao lại cho người mục tử lầm lỗi đã hoán cải, hoặc được đặt dưới quyền một vị khác được bầu lên thay thế vị tiền nhiệm. Trái lại, nếu giám mục và hàng giáo sĩ của thành phố nói trên coi thường việc xét xử người phạm lỗi theo cách chúng tôi đã nói. Khi ấy, các viện phụ xuất phát trực tiếp từ Tân Đan viện sẽ đến nơi có sai phạm, cất chức kẻ vị phạm thánh luật và tiếp theo đó, trước mặt các viện phụ và sau khi nghe ý kiến các ngài, các đan sĩ của đan viện ấy sẽ đặt một viện phụ lên làm đầu họ.
Điều 29
Vạ tuyệt thông trong trường hợp nổi loạn chống lại việc cách chức viện phụ Xitô
Nếu viện phụ đó và các đan sĩ của ngài từ chối tiếp đón các viện phụ chúng ta và vâng phục các ngài, các ngài sẽ không sợ dùng lưỡi gươm tuyệt thông mà tách họ ra khỏi Giáo Hội Công Giáo.
Điều 30
Sự hối cải của viện phụ và các đan sĩ Xitô
Nếu sau này, một trong những kẻ phản nghịch, có lòng sám hối, ước ao cứu linh hồn mình và đến nương ẩn nơi một trong ba (bốn) đan viện chúng ta, đó là La Ferté, Pontigny, Clairvaux (hay Morimond). Kẻ ấy sẽ được đón nhận như một người trong nhà và như người đồng thừa kế của đan viện, (nhờ việc đền tội theo luật), cho tới ngày họ được trao trả lại cho đan viện riêng của mình, như là điều chính đáng, khi đan viện ấy đã được giao hòa. Nhưng trong thời gian đó, tổng hội nghị thường niên sẽ không nhóm họp ở Tân Đan viện (ở Xitô), nhưng ở nơi ba (bốn) viện phụ nói trên đã dự liệu.

 

 

 

 

 

 

 

 

TỰ TRỊ VÀ HIỆP THÔNG

Viện Phụ Hội Trưởng Duyên Thập Tự

Trong việc tổ chức và cơ cấu của một hội dòng Xitô, chúng ta thấy có các cấp độ của các cộng đoàn đan tu: đan phụ viện, đan trưởng viện, đan viện đơn lập, tu sở… Một cộng đoàn chỉ được nâng lên hàng đan viện khi hội đủ những yếu tố được Giáo Luật và Hiến Pháp Hội Dòng qui định và phải được Tổng Hội quyết định nâng cấp. Khi được nâng lên hàng tự trị, cộng đoàn đó được mời gọi sống trưởng thành về mọi phương diện và ngay cả mối tương giao hiệp thông trong Toàn Dòng và Hội Dòng.
Nói đến hiệp thông là đề cập đến tương giao. Đề cập đến tương giao là bàn về sự khác biệt. Thật vậy, khi có sự khác biệt – chứ không phải tách biệt – mới có thể có tương giao. Tự trị và hiệp thông, có thể được coi như hai đầu mối của cùng một sợi giây. Tự trị mà không hiệp thông, đó là cắt đứt, là cô lập, và sẽ hao mòn, chết dần. Hiệp thông mà không tự trị thì chỉ là mang một hình thức chung, không hồn, và có nguy cơ áp đặt không thể tăng triển, và cũng chẳng phải là hiệp thông, mà chỉ là một thứ thỏa hiệp nào đó, vì một quyền lợi nhất thời.
Trong bài viết này, tôi xin được chia sẻ một vài suy nghĩ và cả mong ước cho Hội Dòng Xitô Thánh Gia. Những suy nghĩ đơn sơ với ước muốn anh chị em trong trong từng Đan viện và toàn Hội Dòng “đi chung”, “cùng nhau” trong “lý tưởng đan tu Xitô Thánh Gia”.

1. HIẾN CHƯƠNG ĐỨC ÁI : MỐI QUAN TÂM CỦA CÁC THÁNH PHỤ XI-TÔ
Khi dòng Xitô bắt đầu phát triển, các Thánh Tổ Phụ đã nhận thấy cần thiết phải thảo ra một tài liệu để định hướng cho mối tương giao của những cộng đoàn sẽ được thành lập sau này. Khi Hiến Chương Đức Ái ra đời, Xitô đã thành lập được bốn nhà con là La Ferté (1113), Pontigny (1114), và năm 1115 hai nhà con là Clairvaux và Morimond . Sự thành lập các nhà con phát xuất từ Xitô cũng đặt ra vấn đề vị trí và các tương giao giữa Nhà Mẹ Xitô và các Nhà Con, và các đan viện sẽ được các Nhà Con thành lập.
Không đi vào chi tiết và lịch sử hình thành Hiến Chương này – vì Hiến Chương đã trải qua nhiều lần tu chính -, chúng ta có văn bản chuyển ngữ sang tiếng việt được đăng trong số nội san này. Có thể ghi nhận một vài chi tiết:
– Hiến Chương Đức Ái thường được qui kết cho Thánh Phụ Stephanô Hardingô. Thật vậy, trong cuộc du hành quanh các đan viện Âu-châu, thánh Stephanô đã có thể đọc được các bản thảo về những mối liên hệ với nhà mẹ – nhà con đã được đặt ra ngay trước khi Hiến Chương Đức Ái được hình thành. Khi một nhóm đan sĩ thuộc đan viện Molesme đi thành lập cộng đoàn Aulps, thuộc vùng Chalais, một vài năm trước khi Xitô được khai sinh, thì những mối tương giao với nhà mẹ-con này đã được đề cập đến, cũng theo một sơ đồ tương tự, như văn bản tìm thấy trong Concordia Molesmensis vào năm 1110.
– Cũng có thể nghĩ rằng Hiến Chương Đức Ái là kết quả của một sự thỏa hiệp giữa nhà mẹ Xitô và bốn nhà con đầu tiên. Chắc chắn có vai trò quan trọng của thánh Benađô. Đối với thánh Stephanô, điều quan trọng hàng đầu là sự đồng tâm, nghĩa là sự đồng nhất trong các qui định thích hợp với Tu Luật thánh Biển Đức. Trái lại, dành cho các bề trên địa phương một sự độc lập tổ chức kinh tế, mà thánh Benađô đã kiên quyết bảo vệ.
Mục đích của Hiến Chương Đức Ái đã được xác định ngay từ đầu của tài liệu :
“Vậy, trong sắc lệnh này, vì muốn đề phòng cho sự bình an giữa mọi người khỏi bị tiêu tan, các anh em nói trên trình bày, thiết định và lưu truyền cho hậu duệ mình đâu là qui ước bằng hữu, đâu là lối sống, hay đúng hơn đâu là đức ái sẽ gắn kết bền chặt trong tinh thần tất cả các đan sĩ sống trong các đan viện ở những miền khác nhau. Các anh em ấy cũng nghĩ rằng sắc lệnh này phải mang tên Hiến Chương Đức Ái, vì lẽ nội dung không đề cập tới những vấn đề vật chất, nhưng chỉ duy nhất nhắm tới đức ái cũng như lợi ích các linh hồn trong những việc thuộc về Chúa và con người.” (I,3).
Như vậy, sự bình an là hồn của Hiến Chương và cũng là mục đích cần nhắm tới: bình an trong các tương giao giữa các đan viện được thành lập từ Xitô, và ngay trong lòng từng đan viện. Chúng ta đọc thấy trong Hiến Chương những qui định về vị trí của các viện phụ Xitô hay các viện phụ khác khi đến một đan viện nào đó hay khi về nhà mẹ. Hiến Chương cũng đề cập đến việc bầu viện phụ và cả việc cảnh cáo hay truất chức viện phụ… tất cả những qui định đó – còn mang dấu vết trong các tập tục hiện hành trong các Hội Dòng Xitô của chúng ta – muốn diễn tả một ước muốn là trong mọi sự cần đặt lợi ích các linh hồn và sự bình an của cộng đoàn lên trên hết. Chính trong tinh thần đó, mà việc tự trị của một đan viện và việc hiệp thông trong từng Hội Dòng và Toàn Dòng phải được hài hòa với nhau.

2. TỰ TRỊ GIÚP PHÁT TRIỂN
Trong Hiến Pháp Toàn Dòng Xitô và trong Hiến Pháp Hội Dòng Xitô Thánh Gia, vấn đề một cộng đoàn được nâng lên hàng tự trị cần phải hội đủ các điều kiện cần thiết về nhân sự và đáp ứng những khả năng như huấn luyện, kinh tế… Một cộng đoàn đơn lập, khi hội đủ những điều kiện cần thiết, là dấu chỉ của một sự phát triển nào đó, đã đạt đến một tầm mức trưởng thành.
Một trong những điểm son của tu trào Xitô về phương diện tổ chức là trao cho các đan viện sự tự trị, tính độc lập để mỗi cộng đoàn có khả năng phát triển. Cũng cần ghi nhận là dù trao cho các đan viện sự tự trị, nhưng các Thánh Tổ Phụ Xitô, trong Hiến Chương Đức Ái, luôn đề cao tính duy nhất hay sự đồng bộ trong Toàn Dòng và giữa các đan viện:
– Chương II : Mọi người hiểu và tuân giữ Tu luật như nhau
– Chương III : Tất cả đều dùng các sách phụng vụ và sống theo các thói lệ như nhau
– Chương IV : Điều lệ chung về tương quan giữa các đan viện.
Khi đề cao tính đồng bộ, các tác giả Hiến Chương Đức Ái đã nhận ra nguy cơ của việc nhân danh sự tự trị mà quên đi hay xem thường tính duy nhất. Như vậy, một bề trên nhà tự trị không được vượt qua giới hạn qui định. Nói một cách tích cực hơn, sự tự trị giúp phát triển, nhưng phát triển theo hướng đi chung. Không nhân danh cái đặc thù mà loại bỏ mẫu số chung. Mẫu số chung này là chính nền tảng để những nét đặc thù được xây dựng trên đó. Như vậy vấn đề hiệp thông mang tầm mức hết sức quan trọng. Sự hiệp thông này phải được hiện thực ngay trong chính mỗi cộng đoàn tự trị.
Trong mỗi cộng đoàn tự trị, vai trò của Viện phụ hay Viện trưởng hết sức quan trọng. Ngài phải là giây liên kết các thành phần và là người xây dựng, bảo tồn và làm tăng trưởng sự bình an. Chính vì thế, ngài phải là con người của nối kết: Hiệp nhất các thành viên trong cộng đoàn của mình và là đại diện của cộng đoàn tham gia các sinh hoạt của Toàn Dòng và nhất là với Hội Dòng mà cộng đoàn của ngài là thành viên. Vì vai trò quan trọng đó, bề trên phải là người tích cực nhất trong việc tham dự vào những “dự án” của Hội Dòng và hiện thực những quyết nghị của Tổng Hội. Khi hành xử như vậy, ngài dẫn đưa cộng đoàn của mình vào chính nguồn sống chung và hòa nhịp vào một bản hòa tấu phong phú. Chính khi được nuôi sống bằng chính sự sống nuôi dưỡng toàn Hội Dòng, từng cộng đoàn tự trị phát triển đúng hướng, trong “lý tưởng đan tu”.

3. HIỆP THÔNG ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Khi một cộng đoàn được thiết lập, một trong những quan tâm đầu tiên của các vị sáng lập là tìm một “DÒNG” giúp phát triển bền vững. Chúng ta lấy ví dụ của cộng đoàn mà Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận thành lập tài Phước Sơn. Khi ấy được gọi là ‘Dòng Đức Bà An-Nam”. Ngài đã sử dụng Hiến Pháp của Xitô Nhặt Phép để soạn thảo Hiến Pháp của Dòng mới thành lập, với những thích ứng theo hoàn cảnh tại Việt Nam về phương diện văn hóa và nếp sống. Một bước tiến nữa là xin gia nhập Xitô Nhặt Phép, vì định hướng là “hoàn toàn hướng về chiêm niệm”. Bị từ chối, ngài đã xin gia nhập Xitô Chung Phép. Ngài xin gia nhập nhưng vẫn kiên quyết giữ lại những gì quan trọng đối với hoàn cảnh Việt Nam mà ngài có kinh nghiệm sâu sắc. Nhưng ở đây, chúng ta không bàn đến khía cạnh này. Cha Tổ Phụ xin gia nhập vào Dòng Xitô để cộng đoàn đầu tiên này được phát triển bền vững và sẽ thành một Hội Dòng. Và mơ ước của ngài đã trở thành hiện thực.
Việc hiệp thông để phát triển bền vững được xây dựng trên những yếu tố nền tảng. Chúng ta có thể nêu lên những yếu tố chính yếu. Những yếu tố này đã được công bố một cách chính thức và trang trọng trong Hiến Pháp của Hội Dòng chúng ta.

a. Lời Chúa và Thánh Thể
Hiến Pháp Toàn Dòng Xitô và Hiến Pháp riêng của Hội Dòng Xitô đều dành cho Lời Chúa một vị trí tối thượng trong sinh hoạt của đan viện cũng như trong việc huấn luyện các thành phần trong cộng đoàn. Dù là một văn bản có tính pháp lý, Hiến Pháp đã nêu lên trọng tâm của một cộng đoàn tự trị. Một cộng đoàn chỉ thực sự lớn mạnh khi được nuôi dưỡng bằng chính sự sống của Chúa Kitô. Điều đó khẳng định tầm quan trọng của chiều dọc của mối tương giao, của sự hiệp thông. Các cành nho trước hết phải gắn chặt và ở lại trong thân nho, nếu muốn được nuôi sống và liên kết với các cành khác. Một cộng đoàn tự trị phải là một cộng đoàn được qui tụ nhân danh Chúa Kitô và được nuôi sống bằng chính sự sống của Ngài. Nhưng để sự hiệp thông mang tính toàn diện, một công đoàn tự trị không bao giờ chỉ mang tính cục bộ. Hiệp thông với Chúa Kitô luôn luôn bao hàm sự hiệp thông trong và với Giáo Hội. Giáo Hội ở đây được hiểu với nhiều cấp độ. Chính vì thế, trong Hiến Chương Đức Ái, các đan viện được gọi là Giáo Hội của (đan viện nào đó) như Giáo Hội của Tân Đan Viện. Như vậy, hồn của sự hiệp thông giữa các đan viện là chính sự hiệp thông với Thiên Chúa. Sự hiệp thông chiều ngang được xây dựng và kiên vững nhờ sự hiệp thông chiều dọc.

b. Tu Luật Thánh Biển Đức
Khi rời bỏ đan viện Molesme để thành lập Tân Đan Viện tại Xitô, các đan sĩ có một “giấc mơ lớn” là muốn tuân giữ Tu Luật một các tinh tuyền nhất. Hiến Chương Đức Ái, trong chương II, điều 3 đã đề cập đến việc “Mọi người phải hiểu và giữ Tu Luật như nhau” với khẳng định: “Và đây là ý của chúng tôi: chúng tôi truyền cho họ tuân giữ trọn vẹn Tu luật thánh Biển Đức như được giữ tại Tân Đan viện, không được giải thích theo một nghĩa nào khác. Như các vị tiền bối, các Cha anh thánh thiện, tức là các đan sĩ Tân Đan viện, đã hiểu và giữ Tu luật thế nào, cũng như chúng ta hiểu và giữ ngày nay, họ cũng phải hiểu và giữ như vậy”. Khi viết những dòng này, các tác giả Hiến Chương Đức Ái muốn nêu cao sự hiệp thông của mọi thế hệ đan sĩ Xitô trong cách thức sống đời đan tu theo sự hướng dẫn của Tu Luật Thánh Phụ Biển Đức. Chính vì thế, các cộng đoàn tự trị trong Hội Dòng Xitô Thánh Gia chúng ta phải coi Tu Luật như kim chỉ nam cho cuộc sống đan tu. Bề trên của cộng đoàn tự trị không thể nhân danh sự tự trị của cộng đoàn mà giải thích Tu Luật theo cảm tính và quan điểm riêng tư không thích hợp với tinh thần của thánh Biển Đức. Cha Thánh Biển Đức đã cảnh cáo không được đặt ý riêng – ngay cả của bề trên – lên trên Tu Luật: “Mọi người hãy lấy Tu Luật làm thầy”. Cũng cần nhắc lại rằng sự tự trị thuộc về cộng đoàn, chứ không thể hiểu là “bề trên tự trị” muốn giải thích Tu Luật tùy tiện và áp đặt quan điểm của mình trên định hướng của Tu Luật. Sự tùy tiện đó sẽ gây nên sự mất bình an và hoang mang cho cộng đoàn.
Nhưng cũng cần phải xác định rằng, tuy cùng tuân giữ Tu Luật Thánh Biển Đức, nếp sống đan tu Biển Đức và Xitô cũng khác nhau. Điều đó muốn nói rằng Hiến Pháp – hay Hiến Chương – của mỗi Dòng và mỗi Hội Dòng là cụ thể hóa cuộc sống theo Tin Mừng và Tu Luật Thánh Phụ Biển Đức. Như thế, Hiến Pháp đó hết sức quan trọng.

c. Định hướng của Xitô Tiên Khởi
Khi Hiến Pháp Hội Dòng Xitô Thánh Gia khẳng định Xitô tiên khởi như một trong những linh hứng quan trọng cho Hội Dòng là muốn nói đến Xitô trước những đổi thay của dòng Xitô vì hoàn cảnh chính trị và thời cuộc từ thế kỷ 17 về sau. Tuyệt đại đa số các đan viện Xitô đều hiện diện tại lục địa Âu Châu. Vào thời đó, các hoàng đế chỉ cho các dòng tu có những hoạt động xã hội mới được tồn tại. Vì thế, để tiếp tục hiện diện, các đan viện Xitô đã phải đảm nhiệm các sinh hoạt xã hội như trường học và các việc mục vụ như đảm nhận giáo xứ… Xitô Nhặt Phép ra đời là nỗ lực trở về Xitô Nguyên Thủy khi cuộc sống các đan sĩ chỉ chuyên về chiêm niệm.
Trong Dòng Xitô – mà anh em Xitô Nhặt Phép gọi là Xitô Chung Phép – bao gồm 13 hội dòng mà Hội Dòng Xitô Thánh Gia được thành lập cuối cùng. Trong 13 hội dòng, chỉ có hai hội dòng mà cuộc sống hoàn toàn chuyên về chiêm niệm, đó là hội dòng Xitô Đức Mẹ Vô Nhiễm và Hội Dòng Xitô Thánh Gia. Còn các hội dòng khác có những hoạt động mục vụ và xã hội, tuy trong lòng các hội dòng đó có những đan viện nam hoặc nữ mà cuộc sống chuyên về chiêm niệm. Nếu có sự khác biệt trong định hướng cuộc sống đan tu – dù là Xitô – thì chúng ta cũng dễ hiểu là bản Hiến Pháp toàn Dòng Xitô chỉ nêu ra những yếu tố căn bản mang tính chất chung cho mọi hội dòng. Cũng có thể nói rằng bản Hiến Pháp Dòng Xitô là một sự dung hòa các chiều hướng khác nhau, và chắc chắn phải có sự thỏa hiệp và nhượng bộ, theo ý nghĩa tích cực của các từ ngữ đó.
Là một Hội Dòng độc lập – nghĩa là tự trị – chúng ta sống mối hiệp thông trong tinh thần của Xitô. Mỗi hội dòng sống trung thực định hướng cụ thể của mình sẽ mang lại sự phong phú. Dù vậy, sự khác biệt – do hoàn cảnh lịch sử – cũng mang lại nhiều khác biệt, cả khó khăn và tế nhị khi đề cập đến gia sản Xitô, đến Xitô tiên khởi… Đại Hội Xitô mang tính chất liên kết và hiệp thông giữa những hội dòng mà cuộc sống Xitô khá khác biệt. Vì thế, khó có những quyết định áp dụng cho tất cả mọi hội dòng. Nhưng dù giữ bản sắc của mình, hội dòng chúng ta cũng luôn phải sống mối hiệp thông đó, tùy mức độ của những vấn đề được đề cập đến.
Khi sử dụng Hiến Pháp của dòng Trappe – nghĩa là của Xitô Nhặt Phép – Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận đã muốn trở về chính nguồn của Xitô tiên khởi, muốn cuộc đời của các đan sĩ Xitô Thánh Gia hoàn toàn hướng về chiêm niệm. Ngay cả khi sử dụng hiến pháp của Trappe, ngài đã thích ứng với cuộc sống tại chỗ, tại Việt Nam; điều đó nói lên sự nhạy cảm và thích ứng mà Thánh Phụ Biển Đức đã ý thức trong Tu Luật. Ngài sử dụng hiến pháp của Trappe nhưng không hoàn toàn nô lệ. Ngài đã nối kết sự hiệp thông và tự trị, độc lập trong định hướng của ngài. Hiến pháp ngài soạn thảo mang hai yếu tố đó.

d. Hiến Pháp Hội Dòng
Như vừa nói trên, Dòng Xitô – Xitô Chung Phép – bao gồm 13 hội dòng và mỗi hội dòng đều có bản Hiến Pháp riêng. Hiến Pháp Hội Dòng Xitô Thánh Gia đã được Tòa Thánh phê chuẩn vào năm 1999. Bản hiến pháp hiện hành là thừa kế công việc soạn thảo của Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận và được cập nhật sau công đồng Vaticanô II vào những năm 1968 và 1972. Hiến Pháp của hội dòng chúng ta cũng như hiến pháp của các hội dòng khác là kim chỉ nam cho chính các thành viên và các đan viện trong hội dòng. Bản Hiến pháp là nơi cô động và cụ thể hóa sống Tin Mừng, Tu luật Thánh Phụ Biển Đức cho chính các cộng đoàn trong hội dòng. Vì thế, bản Hiến Pháp của hội dòng có tầm mức hết sức quan trọng. Chúng ta phải sống những gì được viết trong bản hiến pháp, nếu muốn trung thành với ơn gọi đan tu Xitô. Những gì qui định trong bản Hiến Pháp phải được thực hiện nếu chúng ta muốn sống mối hiệp thông trong lòng hội dòng.
Chính vì thế, không thể nhân danh sự tự trị của mình mà cộng đoàn nào đó không sống theo định hướng của Hội Dòng. Cũng vậy, những vị phụ trách trong các cộng đoàn tự trị không có quyền đặt những quan niệm, những “hứng khởi” riêng của mình lên trên Hiến Pháp. Có thể có nguy cơ là chọn lựa một vài yếu tố và loại trừ những yếu tố khác, và hướng cộng đoàn theo một “lối rẽ” khác. Việc làm tùy tiện này gây nên xáo trộn, mất định hướng cho cộng đoàn và xói mòn niềm tin và sự hiệp thông trong Hội Dòng. Nếu mọi thành phần và đan viện tuân thủ Hiến Pháp trong tinh thần của Chúa và tình hiệp thông, lúc đó các đan viện tự trị sẽ tăng trưởng đúng hướng và Hội Dòng phát triển vững chắc, vì mọi người đều nhìn về một hướng và tiến đến cùng một đích điểm. Chỉ trong tinh thần và chiều hướng đó, các đan viện tự Trong thời gian đó, viện phụ của La Ferté, như chúng tôi đã nói trước đây, sẽ thay thế viện phụ quá cố trong mọi sự cho tới khi bầu cử một viện phụ khác, và với ơn Chúa giúp, ngài sẽ nhận chức và thi hành nhiệm vụ ở nơi ấy.
Về nhà Xitô, vì là mẹ của tất cả chúng ta, nên khi viện phụ ở đó qua đời, bốn viện phụ đầu tiên, tức là viện phụ của La Ferté, Pontigny, Clairvaux và Morimond sẽ đảm nhiệm việc quản trị nhà ấy cho tới khi một viện phụ được bầu lên và nhận chức đồng ý và chỉ có Tòa Thánh có quyền cho phép tu chính.

e. Những Quyết Nghị Tổng Hội
Ngoài bản Hiến Pháp như chiếc la bàn giúp định hướng hành trình của từng đan viện và toàn hội dòng, Tổng Hội là nơi thể hiện sự hiệp thông cụ thể của những thao thức và nhiệt tâm xây dựng hội dòng. Tổng Hội thể hiện hai yếu tố quan trọng: tinh thần và pháp lý. Tinh thần hiểu nơi đây là mội hiệp thông trong cách thức sống ngày càng sâu xa hơn ơn gọi đan tu Xitô Thánh Gia. Những chủ đề đưa ra, được các cộng đoàn học hỏi, đào sâu và chia sẻ trong Tổng Hội sẽ làm phong phú hóa cho từng đan viện và sinh động cuộc sống của Hội Dòng. Về yếu tố pháp lý, những vần đề được nêu lên, cần nhiều thời gian suy nghĩ, bàn thảo và đi đến quyết định với mục đích là làm sao cho khung pháp lý, lề luật thêm kiến hiệu giúp cho tinh thần thêm vững mạnh và tăng trưởng. Vì vậy, những quyết nghị của Tổng Hội rất quan trọng và phải được áp dụng trong mọi đan viện của Hội Dòng.
Chính vì thế, để phát triển trong lý tưởng đan tu, mọi thành phần cần thực hiện những gì Tổng Hội quyết định. Các vị bề trên phải là những người đầu tiên triển khai những quyết nghị của Tổng Hội, để cho cộng đoàn của mình cùng nhịp đi với các cộng đoàn khác. Cũng có thể có trường hợp nhân danh sự tự trị của đan viện mình mà người phụ trách cộng đoàn bỏ qua hay hành động bất chấp những quyết định của Hội Dòng xuyên qua những quyết nghị của Tổng Hội. Lý do có thể là những quyết định đó không phù hợp với cái nhìn và qua điểm riêng của vị phụ trách hoặc bị một số anh em tác động. Nếu hành động một cách riêng lẻ, không đồng hành với toàn Hội dòng, vị phụ trách đó đưa cộng đoàn mình vào tình trạng bất an, không thể phát triển đúng hướng. Chắc chắn sẽ có những hậu quả tiêu cực dài hạn làm suy yếu cộng đoàn về cuộc sống đan tu.

f. Tham dự tích cực vào các sinh hoạt Hội Dòng
Một điểm quan trọng khác giúp sống mối hiệp thông trong Hội Dòng, đó là các đan viện tham gia tích cực vào các sinh hoạt mang tính Hội Dòng. Việc tham gia này xuyên qua các thành viên của từng đan viện tự trị. Tất cả mọi đan viện tự trị đều có bổn phận tham gia vào sự phát triển của Hội Dòng. Sự phát triển mang tính Hội Dòng này không gì khác hơn là chính sự phát triển của tất cả và từng đan viện. Chính nhờ khả năng và sự cộng tác tích cực của các thành viên mà nhiều ban trong Hội Dòng đã mang lại nhiều kết quả giúp ích rất nhiều cho nền phụng vụ, thánh ca và giáo dục. Và các ban này cần thiết phải tiếp tục hoạt động.
Chính vì thế, những vị phụ trách các cộng đoàn cần thiết phải động viên anh chị em của mình tích cực tham gia. Không những chỉ động viên bằng lời mà còn những hành động cụ thể để các thành viên của các ban cảm thấy được nâng đỡ thật sự và không ngại hy sinh. Như đã nói trên, sự hiệp thông trong mọi phạm vi đời sống, với một cấp độ lớn hơn cộng đoàn, sẽ giúp cho sự tiến triển bền vững. Dù đã tự trị, nhưng số lượng đan sĩ và anh em khác nhau. Một đan viện đông anh chị em sẽ dễ tìm thấy nhiều khả năng và dễ tham gia mọi sinh hoạt hơn là một cộng đoàn mà túc số tương đối nhỏ. Nhưng nếu được tham gia mọi sinh hoạt mang tính Hội Dòng, anh chị em sẽ tự tin và chắc chắn sẽ mang lại nhiều lợi ích và niềm vui cho chính cộng đoàn của mình.

THAY LỜI KẾT : NHƯ MỘT THÂN THỂ
Thánh Phaolô đã so sánh Giáo Hội như một Thân Thể mà Chúa Kitô là Đầu. Thân thể đó được liên kết với nhau nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng ban cho mỗi chi thể những chức năng và hoạt động khác nhau để xây dựng toàn thân thể. Sự hiệp thông trong Giáo Hội giúp hiểu sự hiệp thông giữa các đan viện tự trị trong Hội Dòng. Mỗi đan viện đều có vị trí độc đáo nhưng luôn trong mối liên kết, hiệp thông. Sự lớn mạnh của một cộng đoàn không chỉ nhờ sự tự trị mà còn nhờ sự liên kết. Có thể nói, chính nhờ sự liên kết này mà sự độc lập mới có ý nghĩa. Độc lập chứ không cô lập hay tách biệt.
Ngày nay người ta nói nhiều đến các mảng tương giao. Ngay cả Internet cũng là một hệ thống những mạng lưới lên kết. Nhưng mối hiệp thông của đời đan tu phải là một tương giao của chiều sâu, một chiều sâu mà không thể lúc nào cũng có thể thực nghiệm được. Chính vì thế, đức tin luôn cần thiết cho chúng ta là những người đang xây dựng sự hiệp nhất này. Sự hiệp nhất đó phải là sự thông truyền cho nhau mọi ân phúc đã lãnh nhận : Những gì một cộng đoàn tự trị đón nhận từ Chúa và nỗ lực xây dựng đều có tác động trên toàn Hội Dòng. Ánh nhìn đó cho chúng ta niềm phấn khởi và niềm vui chia sẻ và giúp nhau tăng trưởng; như chính Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI viết trong Tự Sắc “Cánh Cửa Đức Tin”, số 7 : “Đức tin tăng trưởng khi đức tin được sống như một kinh nghiệm về tình yêu đã lãnh nhận; và khi thông truyền, đức tin được sống như một kinh nghiệm về ân sủng và niềm vui”. 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐẠO YÊU THƯƠNG ANH EM

MỚI CHẮC LÀ ĐẠO

 

 Thiên Giang

Dẫn nhập
Yêu mến là gồm tóm căn bản của Tin Mừng, là hồn của đời sống đạo đức (1Cr 13, 1). Theo thánh Benađô “Lý do yêu mến Thiên Chúa là chính Thiên Chúa; mức độ yêu mến Ngài là yêu mến không mức độ” (Khái luận về tình yêu Thiên Chúa).
Trong khi đó, Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận tỉ mĩ hơn: “Cái đạo ăn chay, chầu Thánh Thể, các đạo ấy dễ mà không chắc chi. Còn đạo yêu thương anh em, đạo ấy chắc là đạo”(LGH, số 6). Ta cùng tìm hiểu đôi nét về vấn đề này theo bản tính con người tự nhiên, dưới nhãn quan Tin Mừng và dưới cái nhìn của Cha Tổ Phụ.

1. Bản tính con người tự nhiên
Yêu thương gia đình, tổ quốc, cha mẹ, thầy cô, anh chị em, bạn bè, những người mình yêu thích, ta dễ dàng yêu thương và cảm được hạnh phúc khi yêu thương. Đôi khi ta dám xả thân hi sinh và cho đi tất cả. Nhưng mặt khác, nhiều khi con người lại cảm thấy bất lực trong tình yêu đó là khi đối diện với kẻ thù…Là con người ai cũng muốn yêu và muốn được yêu, không ai có thể sống mà không yêu và đời sống con người chỉ được triển nở trong tình yêu.
Nhiều khi con người cảm thấy bất lực trong tình yêu, yêu kẻ thù, yêu người ghét mình, yêu người không ưa mình, yêu kẻ nói hành nói xấu mình, cả những người mình không thích không ưa, không phải dễ, nhìn thấy họ là muốn tránh mặt, lấy đâu mà yêu. Tôi có thể chu toàn công việc bổn phận hằng ngày, đọc kinh, đi lễ đầy đủ, chầu Mình Thánh Chúa nhiều giờ, điều này tương đối dễ. Tôi có thể ăn chay, đánh tội, tương đối dễ, vì tôi làm theo ý tôi. Khi tôi muốn, tôi thích thì không có gì là khó.
Nhưng còn yêu thương người khác, chỉ dễ khi hợp ý tôi, hay không có vấn đề gì nghịch giữa tôi với họ. Ngược lại, thật không phải dễ. Vì bản năng bảo tồn và phát triển tiềm tàng của mỗi con người. Vì tôi có cái tôi, có nhân vị tự do của tôi. Không lý do gì tôi phải yêu người tôi không thích, tại sao tôi phải yêu thương người ghét tôi? Người ta làm khổ, làm hại tôi, tại sao tôi phải yêu họ? Bao nhiêu câu hỏi tại sao bủa vây ta. Tình yêu giới hạn của con người chúng ta chẳng có khả năng nào để yêu thương tất cả! Chúng ta chỉ tìm yêu với vài người mà thôi.
Chỉ khi nào có tình yêu Thiên Chúa ở trong ta, tình yêu của một vị Thiên Chúa làm người, chết cho ta đang khi ta còn là tội nhân (x. Rm 5,8 ) mới lý giải được điều này, mới giúp ta có khả năng yêu người như Chúa yêu. Khi đó chúng ta mới có thể nói “Cái đạo yêu thương là đạo thật”.
Yêu anh em, lúc này đòi hỏi ta nhiều cố gắng và hy sinh. Yêu thương người đòi ta phải từ bỏ chính mình, từ bỏ cái tôi ích kỷ, nhiều khi phải chấp nhận hao mòn đến đổ máu.

2. Dưới nhãn quan Tin Mừng
Cha Tổ Phụ nói: “Đạo yêu thương anh em là đạo thật”. Ngài xác tín điều này dựa trên nền tảng Lời Chúa. Đó là giới răn yêu thương: “Hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng hết sức và yêu thương tha nhân như chính mình ngươi” (Mt 22,37); “Ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà không yêu thương anh em là kẻ nói dối, vì nếu ta không yêu người anh em ta thấy, thì sao ta có thể yêu mến Thiên Chúa là Đấng ta không thấy” ( 1Ga 4,20).
Như vậy, “Tình yêu tha nhân mới đạt tới chỗ toàn thiện phải lấy Thiên Chúa làm nguyên ủy. Làm sao yêu mến anh em cách trong sạch được, nếu ta không yêu họ trong Chúa? Nhưng ta không thể yêu họ trong Chúa, nếu ta không yêu chính Chúa. Trước hết ta phải yêu mến Chúa thì mới có thể yêu tha nhân trong Chúa được” (Benado, Bổn phận phải yêu mến Thiên Chúa, số 25).
Phải chăng chúng ta có thể dễ dàng ngồi chầu Mình Thánh Chúa, viếng nhà thờ, đọc kinh lâu giờ, đi đàng thánh giá, khổ chế…Nhưng trong tất cả những việc đó “dễ mà không chắc”. Vì nó chưa đụng chạm đến “cái tôi” trong ta, tuy có chịu khó hay khó chịu một chút, nhưng ta vẫn dễ dàng làm, vì ta tự mình muốn làm những điều đó, “dễ” là vậy, bởi ta có thể làm mọi việc một cách chi ly, nhưng nó vẫn ở bên ngoài ta. Như đã nói ở trên, là có thể có nhiều động lực thúc đẩy ta trong tất cả những việc đó. Còn khi yêu thương người, rất nhiều khi ta phải bỏ mình. Và phải bỏ mình vì người khác thường là một điều rất khó, bởi nó chạm đến chính con người ta. Nhưng muốn có một tình yêu thật là phải có hy sinh mất mát, vì tự bản chất, tình yêu không mưu cầu tư lợi (x. 1Cr 13, 5). Chúa Giêsu nói: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15, 13). Thiên Chúa yêu thương nhân loại đã ban chính con một Người, Chúa Giêsu yêu thương nhân loại đã vâng ý Chúa Cha, hiến dâng, chết nhục hình trên thập giá. Vì yêu, Ngài đã ban chính máu thịt mình làm thần lương nuôi sống con người trên đường lữ hành dương thế. Vậy nếu chúng ta có Chúa, có tình yêu của Ngài nơi ta, ta không thể làm gì khác hơn là hiến dâng trọn vẹn bản thân mình lên Thiên Chúa, và tiêu hao đời mình vì anh chị em. Một tình yêu nhưng không như Thiên Chúa đã trao ban cho ta, không so đo tính toán và luôn luôn tự nguyện. Có như vậy, tình yêu Chúa mới trọn hảo nơi ta. Và dù làm gì, ở đâu, ta chỉ có duy một ước mong là muốn làm đẹp lòng Thiên Chúa (x. 2Cr 5, 9).
Nếu ta thấy cần yêu thương, lo lắng cho bản thân thế nào (cách hợp lý) thì ta cũng muốn yêu thương, phục vụ anh em, chị em như vậy. Khi ta chay tịnh, giảm bớt lòng ham muốn, chỉ sử dụng những nhu cầu thiết yếu, tâm hồn ta sẽ nhẹ nhàng, thanh thản hơn khi phải chia sẻ với người khác. Lúc này, lòng yêu thương anh em, chị em sẽ hợp lẽ công bằng, một tình yêu huynh đệ mang chiều kích đại đồng (x. Benado, Bổn phận phải yêu mến Thiên Chúa, số 23).
“Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau”. Một tình thương tinh tuyền được thực hiện bằng việc làm và sự thật, không miệng lưỡi ba hoa (x. Bài ca lòng mến). Rất công bằng đem tình yêu đáp trả tình yêu, “Yêu người như Chúa yêu ta, thương người như Chúa thương ta”, làm tất cả “vì tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi”. “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13, 8). Có thể nói đây là luật bác ái, luật này không áp đặt ta nhưng là luật êm ái, luật đem lại cho ta niềm an vui, hạnh phúc. Luật đến từ Đấng đã nói với chúng ta rằng: “Hãy mang lấy ách của Ta” (Mt 11, 29) và làm bảo chứng tình yêu nghĩa tử của ta đối với Thiên Chúa. Một lòng yêu mến không sợ hãi (x. Ga 4, 18). Chính lòng mến này sẽ giúp ta cầm cương trong mọi sự, chu toàn bổn phận đối với Thiên Chúa và với tha nhân một cách trọn hảo. Không làm vì tiếng khen, vì được thưởng công hay vì sợ hình phạt, nhưng được thúc đẩy bởi tình yêu Thiên Chúa tràn đầy trong ta.
Vì sao Chúa Giêsu lại bảo: “Hãy để của lễ đó, về làm hòa trước đã!”. Phải chăng Chúa Giêsu coi nhẹ hành vi thờ phượng, dâng của lễ lên Thiên Chúa? Sao không để dâng của lễ xong rồi về làm hòa với anh em có tiện hơn không? Chắc hẳn là không. Nhưng vì tình yêu thương huynh đệ bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa: “Cứ dấu này người ta sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 13, 35). Vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8). Do đó, Thiên Chúa không muốn ta dâng của lễ với trái tim bất hòa, giận hờn, ganh ghét hay loại trừ :“Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9, 23).
Vì Chúa dạy: “Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán, vì anh em xét đoán thế nào, thì an hem cũng sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy; và anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong cho anh em đấu ấy” (Mt 7,1-2).
Và khi ta dâng trao tình yêu cho Ngài, là yêu mến Thiên Chúa và yêu thương anh em thì trổi vượt hơn mọi của lễ, mọi lề luật: “Yêu thương là chu toàn lề luật” (Rm 13,10b), yêu thương là điều kiện tiên quyết để vào Nước Trời. Yêu thương anh chị em như họ là, ta yêu thương vì tình yêu Chúa trào tràn trong ta. Và ta sẽ không loại trừ một tạo vật nào ra ngoài quỹ đạo yêu thương như Thiên Chúa đã ban ơn lành cho tất cả, và “Tạo vật những ngong ngóng chờ ngày được cứu độ”. Nói như Thánh Phanxico Assisi: Anh mặt trời, chị mặt trăng, chị gió, chị chết…
Như vậy, những việc làm thờ phượng đối với Thiên Chúa tỏ ra lòng con người yêu mến Ngài mang một giá trị thánh thiêng. Ta cần phải chu toàn với hết lòng tôn thờ và yêu mến, mặc dù chúng ta luôn có giới hạn và khiếm khuyết.
Cả hai giới răn: Mến Chúa, yêu người đều phải chu toàn song hành, không thể bỏ một trong hai.
Yêu thương là bản tính con người xuất phát từ tình yêu Thiên Chúa. Khi yêu thương, ta mới thực sự trở nên con cái Thiên Chúa. Bởi nếu ta thật sự yêu mến Thiên Chúa thì ta cũng yêu những ai thuộc về Ngài. Lòng ta được thanh luyện và không còn cảm thấy vất vả khi sống tình thương đối với tha nhân. “Nhờ vâng phục sự thật, anh em đã thanh luyện tâm hồn để thực thi tình huynh đệ chân thành” (1Pr 1, 22), một tình thương vô vị lợi, không so đo tính toán.
Ăn chay đánh tội gọi tắt là khổ chế, chế ngự thân xác trong những việc nhỏ để có thể chống lại những cơn cám dỗ lớn hơn. Chính Chúa Giêsu cũng đã từng ăn chay bốn mươi ngày trước khi thi hành sứ vụ. Thế nhưng Ngài cũng đã bênh vực môn đệ khi những người Pharisêu trách các ông không ăn chay.
Khi có Chúa hiện diện, có tình yêu Ngài, thì mọi sự sẽ được điều chỉnh dưới cái nhìn của tình yêu. Ăn chay cách vui tươi tinh tuyền không để ai biết mình ăn chay. Ăn chay cầu nguyện trong thầm kín, chỉ mình Cha trên trời biết thôi mới tránh được hư danh.
Cuộc sống đan sĩ mỗi ngày là một khởi sự cuộc tìm kiếm dưới ánh sáng đức tin yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân: “Vui với người vui, khóc với người khóc”.
Tình thương huynh đệ là điều kiện tiên quyết cho đời sống cộng đoàn, hàng ngày luôn luôn có nhiều cơ hội cho ta thể hiện tình yêu thương huynh đệ, thể hiện tình bác ái với những gì nhỏ bé nhất cho mọi người bằng tình yêu Thiên Chúa đã đổ đầy trong con tim ta, một con tim rộng mở và tự do, quan tâm tới những nhu cầu của người khác, không phê bình, chỉ trích, xét đoán hay giận hờn, ghen tỵ, nhưng cầu nguyện nhiều và trao dâng tất cả trong tình yêu Chúa. Xin Chúa ban phúc lành và tình yêu cho ta, để ta có thể sống tình yêu thương huynh đệ như Chúa muốn (Với bản tính con người tự nhiên sống được điều đó thật không dễ). Vun đắp một tình thương trong giới hạn, “Yêu mến mọi người trong chân lý và trong sự thật của họ” (Một Nữ Ẩn Sĩ, Cuộc sống trong đời chiêm niệm, Tập II, tr 146).
Thường khi có tình yêu thương huynh đệ chân thật, tất sẽ nảy sinh trong ta những sáng kiến thích hợp, mới mẻ và hữu hiệu để phục vụ.

3. Dưới cái nhìn của Cha Tổ Phụ
Trong thư đề ngày 27/8/1920, Cha Tổ Phụ đã nói: “Việc khó nhất không phải ăn chay, cũng không phải dậy 2 giờ khuya, nhưng là nên thầy dòng thật, nên thầy dòng thánh. Mà nên thầy dòng thánh là nên con Thiên Chúa, mang phẩm chất yêu thương như Chúa. Đấng là Thiên Chúa đã mặc lấy tính loài người, trở nên Cha, nên anh, nên bạn của ta” (LGH số 3), đã chấp nhận hủy mình ra không để cứu độ chúng ta. Cha Tổ Phụ đã chọn làm những việc nặng nhọc, hèn hạ, đã chấp nhận chén tân toan, luôn thuận theo ý Chúa, phó dâng mọi sự trong tay Cha chí ái với một đức mến nồng nàn, với đức tin, đức cậy như đứa con thơ (x. Hạnh tích, tr 112). Nhưng trên tất cả vẫn là một tình yêu mặn nồng mong cứu vớt các linh hồn, đặc biệt là những người chưa nhận biết Chúa (x. Hạnh tích, tr 167).
Trong Lời Giáo Huấn của Cha Tổ Phụ, sau khi nói về lòng sốt sắng mến Chúa (số 5), kết hiệp với Chúa, nên giống Chúa (số 130), anh em (số 6), ngài nói: “Muốn biết chúng tôi có kính mến Chúa hay không, hãy xét coi chúng tôi có yêu thương anh em không”. Và tiếp theo, ngài khẳng định: “Nếu chúng tôi có, ấy là dấu chúng tôi có lòng kính mến Chúa. Vì sự kính mến Chúa có lẽ lầm được, còn sự thương yêu anh em thì không lầm được…và yêu thương anh em là dấu chắc chắn chúng tôi có lòng kính mến Chúa” (LGH số 6). Sau đó ngài nêu ra một loạt các dấu chỉ để xét mình xem có yêu thương anh em thật không: “Trong ngày, có làm chi cho bề trên, cho anh em vui chăng, có làm chi cho bề trên, cho anh em bớt cực chăng?”.
Sau khi nói đến những điều tiêu cực, Cha Tổ Phụ nêu ra những điều tích cực của đạo yêu thương: cùng vui cùng buồn, yêu thương phục vụ, đừng xét đoán, nhịn nhục, giúp đỡ nhau (x. LGH số 16, 49), đừng lợi dụng việc bổn phận mà làm cực anh em, xét ý lành cho nhau thì có ích luôn (x. số 17), không khinh dể phân bì nhau (x. số 19), tận tình lo cho anh em đau ốm (x. số 21), nhắc bảo giúp nhau tấn tới (x. số 32). Nhà dòng là một gia đình (x. số 33), gặp được Chúa thì yêu thương anh em lắm lắm (x. số 35). Lời dốc lòng (x. số 49), đừng xét đoán ai, đừng nói lời phiền lòng ai, cư xử với mọi người cách dịu dàng thương mến, hết sức giúp đỡ và làm vui lòng mọi người. Nói tắt, là phải yêu thương mọi người thay thảy (số 6).
Cuối cùng, dù là ăn chay, đánh tội, chầu Thánh Thể, yêu thương anh em, tất cả đều quy về Chúa và tha thiết cứu giúp các linh hồn (x. số 15, 35). Và cả đời sống đan sĩ dâng lên Chúa để cầu cho những người chưa tin nhận Chúa (x. số 47). Đó là tình yêu phổ quát, tình thương đại đồng, yêu thương người sống, kẻ chết, không trừ ai.
Hơn ai hết, khi nói những điều này Cha Tổ Phụ như đã dàn trải ra kinh nghiệm sống đời mình. Bởi ngay từ bé, ngài đã chăm chú đọc kinh cầu nguyện lâu giờ, một đời sống đạo đức thấm nhuần từ nhỏ của nhà thần học tí hon, không ai chê trách được. Nhưng đời sống bác ái yêu thương lại là gương sáng cho mọi người. Khi là Cha Giáo sư, ngài rất mực yêu thương dạy dỗ chu đáo, tinh tế cả khi sửa dạy (x. Hạnh tích Cha Benoit, tr 43).
Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận sống rất khiêm nhường, nhiệm nhặt khổ chế, dù khi ở Chủng Viện An Ninh, hay khi đã lập dòng (x. số 73, 78, 90, 103, tr 111, 127-130).
Mặc dù bản thân ngài giữ chay rất nhiệm nhặt, sống khiêm nhường nghèo khó (x. Hạnh tích, tr 45) nhưng không phung phí sức khỏe vào những sự vô ích, mà ngài đã yêu thương người khác, yêu thương trọn con người họ, cả thân xác lẫn linh hồn họ. Nên ngài đã hy sinh hãm mình cầu nguyện cho họ, mong chữa lành những vết thương linh hồn và thể xác của họ (x. Hạnh tích tr 146)
Cha yêu thương mọi người như anh chị em, nhìn thấy Chúa nơi họ và luôn đón nhận họ như “họ là”, bất kể họ là ai, lương hay giáo (x. Hạnh tích Cha Benoit, tr 51-55). Yêu thương theo gương Chúa, cha cũng hiền lành nhịn nhục khiêm nhường như Chúa, chỉ tìm vinh danh Chúa, không kể chi đến mình (x. Hạnh tích, tr 61, 64). Cha Chất làm chứng: “Cha Benoit là đấng thật sốt sắng kính mến Chúa hết lòng và phi thường, lại rất ái mộ phần rỗi người ta” (x. Hạnh tích, tr 81).
Chúng ta cũng biết đời sống Cha Tổ Phụ tỏ lộ rõ nét một tấm lòng mến Chúa yêu người và nhiệt tâm loan báo Tin Mừng, thao thức, khắc khoải mong sao cho mọi người nhận biết Chúa. Bởi ngài có một đời sống nội tâm sâu xa, luôn gắn bó mật thiết với Chúa, yêu thích cầu nguyện, chầu Thánh Thể, chay tịnh, nên nơi Ngài cũng đầy tràn tình yêu và sức sống của Chúa cho anh chị em. Tình yêu thương cao quý hơn cả là lo cho anh chị em nhận được ơn cứu độ. Lòng khao khát cho mọi người nhận biết Chúa cháy bỏng trong tâm hồn cha. Trong đêm Giáng Sinh cha đã than thở: Chúa đã xuống trần 2000 năm mà vẫn còn có nhiều người chưa nhận biết Chúa, khiến cái phòng Giáo sư của ngài nên như hỏa ngục.
Nơi Cha Tổ Phụ, tình thương rộng mở mênh mông trong trái tim Chúa Giêsu, nhưng đôi chân chẳng thể đi đến với hết mọi người, đôi tay chẳng đủ dang rộng ôm ấp tất cả, nên sau những năm dài sống đời truyền giáo, coi xứ, Cha Tổ Phụ đã chuyển hướng ôm ấp ước mơ lập dòng chiêm niệm, để mong có nhiều người sống đời cầu nguyện cho nhiều anh chị em được nhận biết Chúa, vì theo ngài: “Cầu nguyện thì làm được luôn”, và tình thương quyền năng của Thiên Chúa sẽ làm được tất cả. Như vậy, với lòng tin cậy mến, cha xác tín mọi tình yêu đều quy hướng về Chúa và tình yêu anh chị em cao quý nhất là lo cho phần rỗi đời đời của anh chị em. Cha đã tìm ra con đường yêu thương, xả thân cho tình yêu Chúa và anh chị em qua đời sống chiêm niệm.
Đến đây chúng ta hiểu vì sao Cha Tổ Phụ nói: “Cái đạo ăn chay, cái đạo đánh tội, cái đạo chầu Thánh Thể, các đạo ấy dễ mà không chắc chi, còn cái đạo yêu thương anh em, đạo ấy chắc là đạo”(LGH số 6). Ở số 21, ngài còn xác quyết: “Khi giúp anh em, hãy tưởng như mình được giúp chính Chúa. Lập lại lời chính Chúa Giêsu đã nói:“Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính ta vậy”(x. Mt 25,40).

KẾT:
Thiên Chúa là tình yêu. Bản tính Thiên Chúa là yêu. Khi tạo dựng nên loài người , Chúa đã phú bẩm tình yêu cho con người được hiệp thông với Chúa, được đối thoại với Chúa, thậm chí khi họ yếu đuối sa ngã Chúa vẫn luôn yêu thương và tìm cách cứu họ ra khỏi vòng nô lệ tội lỗi, Ngài đã yêu họ đến cùng (x.Ga 13,1). Quả thật, một tình yêu trung tín vô bờ bến, làm sao ta có thể vô tâm và hờ hững với một tình yêu lớn lao đến như thế? Vâng, không thể phụ tình Chúa được. Thế thì con người có bổn phận phải đáp lại tình thương Chúa thôi. Nhưng đáp lại thế nào cho cân xứng đang khi con người chúng ta thật giới hạn, và tình yêu lại dễ thay đổi.
Lời mời gọi của Chúa giúp chúng ta có thể đáp lại tình thương của Ngài đó là chúng ta sẵn sàng yêu thương anh em như chính Chúa đã yêu thương chúng ta (x. Ga 13,34). Chúa đã vạch ra cho chúng ta con đường yêu thương bằng chính cuộc đời tự hủy của Ngài. Nhìn Chúa đẫm máu trên đồi cao mà biết bao lớp người đã tự nguyện tiến lên pháp trường. Nhìn vào đời sống Cha Tổ Phụ, chúng ta xác tín rằng: Không có con đường nào khác ngoài con đường yêu thương anh em. Đó là đạo thật.
 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐAN SĨ LINH MỤC … NGƯỜI LÀ AI?

 

Cao Minh Long – Châu Sơn ĐD

Linh mục, người là ai? Câu hỏi đó đã được biết bao nhiêu người đặt ra, từ người bình thường cho tới các nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ… Nhưng rồi không ai có thể trả lời một cách trọn vẹn, chính xác nhất và đầy đủ ý nghĩa của nó. Hay nói cho có vẻ “thần học” một chút, thì ơn gọi linh mục là một “huyền nhiệm”, mà đã là huyền nhiệm thì trí khôn loài người không thể hiểu thấu được.
Trước hết, đó là một lời mời gọi của Chúa xuất phát từ một tình yêu thương âu yếm có một không hai. Một ơn gọi có giá trị như bao ơn gọi khác, rất được trân trọng và tin tưởng. Chúa Giêsu kêu gọi những ai muốn theo Người, hãy quảng đại dấn thân tiến bước. Nhận ra tiếng gọi và sống ơn gọi đó để cuộc sống vươn lên, sống có lý tưởng và khám phá ý nghĩa cuộc đời. Điểm son đáng chú ý của lời Chúa Giêsu mời gọi là hy sinh từ bỏ chính mình, vác Thập Giá hằng ngày để bước theo Đức Kitô, vì chính Ngài đã đi trọn con đường đau khổ và cái chết Thập Giá để ban ơn cứu độ cho nhân loại. Qua đó, Ngài mở ra cho chúng ta một chân trời hy vọng tràn trề là: Mỗi người chúng ta sẽ được cứu độ, nếu chúng ta biết chấp nhận hy sinh vì Chúa, vì Tin Mừng và vì anh em đồng loại, thì chúng ta sẽ được sống sung mãn với Chúa. Như vậy, Linh mục là người có ơn gọi để thi hành sứ mạng của Hội Thánh, là những người hạnh phúc nhất, bởi vì họ ý thức mình được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và sai đi rao giảng Tin Mừng.
Thế còn đan sĩ linh mục thì sao? Đức Kitô đã cho chúng ta một hướng đi độc đáo, không phải từ một công thức nào đó, nhưng là Ngài đem đến cho chúng ta một sự hiện diện của Ngài, bằng cách dạy chúng ta qua chính cuộc đời của Ngài, để cho chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong tình yêu.
Đan sĩ linh mục, người là ai? Là người không lấy gì hơn ngoài việc sống trọn vẹn ơn gọi chiêm niệm, mà cha tổ phụ Henri Denis Benoit (Biển Đức) Thuận đã không ngừng nhắc nhở: “Để đáp lại Tình Chúa yêu thương, để xây dựng Hội Thánh, cần phải trở nên những “đan sĩ đích thực”, những “đan sĩ thánh thiện”, điều ngài đã cố gắng với ơn Chúa thực hiện bằng cả một đời sống”. Đó là lý tưởng đan tu không phải là chuyện đời xưa, nhưng là một cái gì rất đỗi thiết thực hôm nay.
Ý nghĩa của ơn gọi đan sĩ linh mục là gì? Là tích trữ sự thinh lặng của tình yêu, thinh lặng của sự chúc tụng, thinh lặng của việc dâng hiến cho một mối tình. Trước tiên, ơn gọi đó là một sự tự do, là nhân phẩm, là hơi thở của tình yêu. Không có ơn gọi nào cao cả hơn, cao quí hơn, vì ơn gọi đó đem lại ý nghĩa cho ơn gọi làm người, là sự hiểu biết Thiên Chúa, yêu mến Thiên Chúa. Nhờ đó, chúng ta tìm ra cho mình một cuộc sống hạnh phúc, một cuộc sống có ý nghĩa và giá trị đích thực. Điều đó chắc chắn Thiên Chúa muốn chúng ta yêu mến Ngài trên hết mọi sự, muốn chúng ta xa tránh những điều bất hạnh, những điều làm cản trở mối tình yêu thương gắn bó giữa chúng ta với Đức Kitô, và giữa chúng ta với tha nhân. Thánh Biển Đức đã từng nhắc nhở con cái của Ngài là các đan sĩ: “Tuyệt đối không lấy gì làm hơn Đức Kitô”. Do đó, Đức Kitô chính là lý tưởng, lẽ sống và là hạnh phúc duy nhất của chúng ta.

I. ĐAN SĨ LINH MỤC LÀ MỘT CON NGƯỜI CHIÊM NIỆM ĐÍCH THỰC.

Thiết tưởng không cần biện luận dài dòng để minh chứng những đòi hỏi tinh thần đời sống thiêng liêng của người đan sĩ linh mục, phù hợp với yêu sách của đời sống đan tu thế nào, mà chỉ cần ý thức rằng đó là một cuộc sống lý tưởng và cao cả.
Yêu sách của đời sống đan tu là gì? Theo thánh Biển Đức, bất cứ người đan sĩ nào không tha thiết trở thành một người chiêm niệm thì không sống trọn vẹn tinh thần và ơn gọi của mình. Ngài đã chứng minh rằng: Một đan sĩ chiêm niệm trọn vẹn, cũng là một người tông đồ nhiệt thành. Đó là chiêm niệm về Đức Kitô, suy niệm về mầu nhiệm cứu độ, lòng khao khát cứu các linh hồn; và chiêm niệm về cái chết của Chúa trên thập giá để cứu chuộc các tội nhân. Cách cầu nguyện này nhằm hướng tới hoạt động tông đồ, và hướng người chiêm niệm đến việc quan tâm lo lắng và tìm kiếm phần rỗi của tha nhân, bởi vì họ giống như những tín hữu tiên khởi nhìn thấy tha nhân là nhìn thấy Chúa.
Theo tinh thần Cha Tổ Phụ thì: “Cuộc sống đan tu Thánh Gia là một đời tận hiến chuyên về chiêm niệm, thể hiện sự thông phần Mầu Nhiệm Thánh Giá, tuyên xưng sức mạnh và hoan lạc của ơn Phục sinh”. Điều đó nhắc nhở cho người đan sĩ linh mục rằng: Lý tưởng của đan sĩ là gì, nếu không phải là đồng nhất với Chúa Kitô và tan biến trong Người? Thiên chức linh mục làm cho đời sống đan tu của người đan sĩ linh mục có một nền tảng mới hơn và qui hướng tất cả vào việc thờ phượng Thiên Chúa. Chức linh mục mời gọi đan sĩ phải sống ơn gọi chiêm niệm của mình trong liên hệ mật thiết với Chúa Kitô bằng việc cử hành Thánh Lễ hằng ngày: Làm sống lại chính đời sống Chúa Kitô, đó là một cách sống trọn vẹn thuộc về Thiên Chúa. Chức Tư Tế ban phép cho đan sĩ linh mục dâng lên Thiên Chúa hiến lễ có giá trị vô cùng bởi chính động tác của Chúa Kitô tự hiến. Không phải với tư cách cá nhân hay của một phần chi thể, nhưng với toàn thân và với Đầu của Nhiệm Thể Hội Thánh, đan sĩ linh mục dâng lên Thiên Chúa Hiến Lễ của toàn thể Hội Thánh cũng là Hy Lễ của Chúa Kitô.
Đan sĩ linh mục luôn phải ý thức rằng: Mình là một đan sĩ chính hiệu chứ không phài là ai khác. Cho nên, đừng kiêu ngạo, hay ỉ vào mình đã là linh mục thì muốn làm gì thì làm; nại cớ là linh mục để quên giữ tu luật, và tự nâng mình lên cao hơn vị thế của mình. Trái lại, hai tiếng “đan sĩ” ấy càng phải được thể hiện rõ nét hơn, qua cung cách sống của mình, trong tinh thần giữ luật, trong tinh thần dấn thân phục vụ Giáo Hội và cộng đoàn mình đang sống. Tu Luật chương 62 nói về chức linh mục trong cộng đoàn như sau: “Nếu Viện Phụ muốn xin phong chức linh mục hay phó tế cho đan viện mình, ngài cứ chọn trong anh em nào xứng đáng thi hành chức vụ ấy”. Ở đây, Thánh Biển Đức không khinh thường chức linh mục, nhưng ngài nhắc nhở chúng ta rằng lãnh nhận chức linh mục là để phục vụ, nếu không muốn nói là trở nên gương sáng cho mọi người. Vì linh mục là hình ảnh của Đấng đã không đòi phải được coi ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng trái lại đã tự hạ. Thừa tác viên Chúa Kitô cũng phải ứng xử như vậy, phải trở nên người tôi tớ.
Có thể ví cuộc đời của người đan sĩ linh mục là hình ảnh của một giếng nước sâu, nguồn nước tinh khiết dâng lên dần dần tới thành giếng, tràn ra tưới khắp cánh đồng. Khi tưới những cánh đồng, giếng đó không bao giờ cạn cho dù nó còn cho đi sự phong phú của mình. Người đan sĩ linh mục thánh hóa bản thân mình trước khi có thể giúp đỡ tha nhân. Đời sống của họ là một đời sống ẩn náu trong Thiên Chúa cùng với Đức Kitô, và trong sự thanh vắng của đan viện. Ở đó, người đan sĩ linh mục sống một mình với Thiên Chúa, trong khi các hoạt động bề ngoài là một âm vang của sự thinh lặng trong đan viện. Đúng hơn, điều đó có nghĩa là họ thực hành việc cầu nguyện liên lỉ, hay cũng có nghĩa là họ tổ chức cuộc sống thế nào để duy trì liên tục bao nhiêu có thể ý thức yêu thương về sự hiện diện sống động của Thiên Chúa.
Để đạt đến sự viên mãn trong tình yêu Thiên Chúa, đan sĩ linh mục say mê chiêm ngắm Thiên Chúa đến nỗi họ không còn muốn từ bỏ, mà chỉ muốn hiến dâng đời mình cho công việc phục vụ Thiên Chúa trong việc cứu rỗi tha nhân qua đời sống âm thầm mà thôi. Người đan sĩ linh mục phải sẵn lòng trao ban những hoa quả của chính đời sống nội tâm mình cho tha nhân, nơi họ có một tương quan mật thiết giữa lời cầu nguyện và sự mong muốn đem tha nhân về với Thiên Chúa.
Trong tinh thần chiêm niệm sâu xa, người đan sĩ linh mục tự hiến mình vì danh Chúa cho phần rỗi của tha nhân. Bởi vậy, đây là một bằng chứng của đức ái hoàn hảo hơn đối với tình yêu Thiên Chúa và tha nhân, để sẵn sàng ra đi vì phần rỗi của người khác. Lòng nhiệt thành cứu rỗi các linh hồn thúc đẩy người đan sĩ linh mục, mang đến một sứ điệp đã được sung mãn trong suy niệm trước nhan Thiên Chúa, sứ điệp của hoa trái chiêm niệm thánh thiện của mình.

II. ĐAN SĨ LINH MỤC LÀ MỘT CON NGƯỜI THÁNH THIỆN.

Đan sĩ linh mục là người tiên phong trong việc nên thánh. Đây là trách nhiệm của chính mình, và làm gương sáng cho anh em. Đôi khi chúng ta tự hỏi: Tại sao tôi phải nên thánh mà không là người khác? Chúng ta ghen tị với những người khác để chối từ nên thánh thiện. Nên thánh đó chính là lời mời gọi của Thiên Chúa. Trong mọi hoàn cảnh, người đan sĩ linh mục đều có thể nên thánh qua việc phục vụ cộng đoàn, phục vụ anh em, qua công việc rất bình thường và tầm thường hằng ngày trong đời sống đan tu của mình. Nếu không gắn bó mật thiết keo sơn với Chúa từng giây phút, thì chúng ta sẽ bỏ dở niềm hy vọng nên thánh.

1. Nên Thánh là đòi hỏi cốt yếu đối với Đan Sĩ Linh Mục.

Thật đơn giản và hợp lý về bổn phận nên thánh của đan sĩ linh mục, khởi đi từ việc nên thánh qua bí tích rửa tội, như đối với các tín hữu khác. Đó là lý do thứ nhất: Mọi người, trong đó kể cả linh mục, đều được kêu gọi nên thánh theo như lời Chúa Giêsu đã nói: “Các con hãy nên thánh như Cha các con trên trời là Đấng Thánh”.
Việc đòi hỏi nên thánh nơi đan sĩ linh mục, còn có một lý do khác nữa, đó là “chức thánh” các ngài đã lãnh nhận, và qua chức thánh đó, trong Chúa Thánh Thần, “Con người linh mục đã được thánh hiến trong một tư cách mới, để hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa”. Từ hai lý do này, Công Đồng Vatican II đi tới một xác quyết chắc chắn về sự thánh thiện mà linh mục phải đạt tới, vì các ngài tiếp xúc với thế giới thánh thiêng, với các thực tại, sự vật thánh thiện và thi hành những công việc thánh thiện, cũng như là người quản thủ các mầu nhiệm thánh. “Thánh Công Đồng này đã tha thiết khuyên tất cả các linh mục hãy dùng mọi phương tiện thích hợp mà Giáo Hội ban cho, để luôn nỗ lực tiến cao hơn trên dường thánh thiện”.
Trong lễ phong chức linh mục, Đức Giám Mục đã dặn dò các tân chức như sau: “Con hãy nhận lễ vật của dân thánh mà dâng cho Thiên Chúa. Con hãy ý thức việc con làm, noi theo điều con thực hiện và hãy rập đời sống con theo gương mầu nhiệm thánh giá Chúa”. Từ đó, đời sống người linh mục không gì khác hơn là một đời sống rập mình theo khuôn mẫu Đức Kitô, Đấng đã đến để “Chiên được sống và sống dồi dào”. Đó cũng là ý nghĩa sâu xa của chức linh mục đan tu mà thánh Biển Đức nhắc nhở anh em tiến chức linh mục: “Con người tiến chức, phải giữ mình cho khỏi tự phụ kiêu căng, và không tự tiện làm gì ngoài lệnh truyền của Viện Phụ, vì biết rằng mình phải tuân giữ cặn kẽ hơn. Ngài đừng ỉ vào chức linh mục mà quên giữ luật lệ và kỷ cương, nhưng càng phải tiến hơn lên trong Chúa”. Vì lời nguyện truyền chức bao hàm một lần nữa những lời khấn thanh khiết và vâng phục, nhưng vấn đề nơi đương sự là phải vươn lên trong “Ân Thánh” của Thiên Chúa, trao ban sự sống, trở nên người “cha” theo ý nghĩa sâu xa của từ này, bằng cách chính mình đi vào con đường sự sống, không phải bằng những bài diễn thuyết hùng hồn, những bài giảng hay, nhưng bằng chính cuộc đời tận hiến và cung cách sống của mình.

2. Nên thánh từ những điều bình thường.

Các thánh vốn là những con người bình thường, có khi là tầm thường nữa, nhưng các ngài đã biến những điều bình thường thành phi thường. Chúng ta có thể gặp thấy điều này trong bất cứ vị thánh nào. Tấm gương sáng ngời cụ thể và gần gũi với chúng ta nhất, đó là Cha Tổ Phụ đáng kính, một đan sĩ linh mục rất bình thường.
Theo cách nói của Thánh Phaolô, việc nên thánh đã được thành tựu trong ta ngay từ khi lãnh Bí Tích Rửa Tội (x.Rm 6,3-5). Nhờ bí tích này, mỗi người tín hữu được kết hợp với Đức Kitô, trở nên thân thể của Ngài. Sau này dẫu cho ta có bê tha, tội luỵ đi nữa, thì cái “chất thánh” vẫn còn đó, và chúng như một lời mời gọi ta tìm ra nẻo đường nên thánh của mình.
Đâu là nẻo đường bình thường cho người đan sĩ linh mục để nên thánh? Trước hết, đó là đời sống nội tâm, sự kết hợp hài hoà giữa ý ta và ý Chúa. Để đạt được điều ấy, ta cần lắng lòng nghe ngóng sự hiện diện của Chúa nơi ta. Nghe Chúa qua tiếng nói của lương tâm, qua những ước vọng của những anh em đồng tu, qua biến cố thường nhật, qua tinh thần tuân giữ luật dòng…
Thứ đến, sự hoà hợp giữa ý ta và ý Chúa cần phải được thể hiện trong việc chu toàn một cách thường xuyên và nghiêm túc những bổn phận hằng ngày trong bậc sống của mình. Kế đến là việc chu toàn bổn phận hằng ngày đòi hỏi phải sống thánh thiện một cách anh hùng, vì việc làm nên trọn lành không thể hoà chung với một thiếu sót nào.
Cuối cùng, chúng ta luôn biết chắc điều này, là không có nẻo đường trọn lành nào có thể dẫn đến Thiên Chúa, nếu không có ơn Chúa và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
Vì thế, chúng ta phải cầu nguyện, bàn hỏi, và làm theo lời chỉ dẫn của Ngài. Những điều đó sẽ giúp người đan sĩ linh mục giải quyết được những u uẩn, hoài nghi, chán nản xảy ra trong đời tu. Tất cả những điều đó dễ trở nên vô ích, chẳng có chút ý nghĩa nào, nếu người đan sĩ linh mục đi trên con đường này mà không thấy Đức Ái như sợi chỉ xuyên suốt, dẫn đường. Bởi có đủ mọi lý lẽ, ý muốn ngay lành trên nẻo đường bình thường mà không có Đức Ái thì cũng chẳng ích gì (x. Ga 13,3). Cho nên, con đường của Tình Yêu, con đường yêu thương và phục vụ là con đường chắc chắn nhất, giúp cho người đan sĩ linh mục ngày một tiến tới trên đường trọn lành, trong thánh chức linh mục, trong ơn gọi đan tu chiêm niệm của mình.

III. ĐAN SĨ LINH MỤC LÀ NGƯỜI TÔI TỚ PHỤC VỤ MỌI NGƯỜI.

Đan sĩ Linh mục được hình thành trên nền tảng ơn thánh hiến của chức Linh mục. Ơn thánh hiến vừa là Lời Chúa mời gọi, vừa là ơn Chúa trợ giúp linh mục củng cố niềm tin, để gắn bó mật thiết với Đức Kitô và quyết tâm bước theo Ngài trên con đường tình yêu và hy sinh. Con đường hy sinh sẽ giúp linh mục ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong địa vị làm con Chúa, là tư tế, và là mục tử của dân Chúa theo gương Thầy Chí Thánh, vị Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống vì đàn chiên.
Theo Công Đồng Vatican II, linh mục là “những người phục vụ Chúa và Giáo Hội”. Thực ra, xác quyết của Công Đồng chỉ là nhắc lại những gì đã được truyền thống Giáo hội đề cao, vì Giáo Hội, cách riêng các thừa tác viên trong Giáo Hội có sứ mệnh phục vụ mọi người để tiếp nối chương trình của Đức Kitô, Đấng đã đến thế gian, không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ (x. Nt 20, 28).
Đức Kitô là thủ lãnh các mục tử và là thầy. Ngài dạy, Ngài chỉ cho chúng ta thấy: “Ai muốn làm lớn trong các ngươi thì hãy làm đầy tớ các ngươi” và “Thí mạng sống vì anh em”.
Người đan sĩ linh mục cũng được xây dựng trên nền tảng Đức Kitô, vị Thượng Tế cao cả, Đấng đã trở nên tôi tớ phục vụ mọi người. Cộng đoàn Đan viện được xây dựng trên tinh thần Phúc Âm, và đó cũng là điều mà người đan sĩ linh mục phải sống. Bởi vậy, người đan sĩ linh mục tận tâm chu toàn mọi công tác Bề Trên giao phó, với lòng khiêm tốn, trong đức vâng lời. Noi gương Đức Kitô phục vụ, chúng ta cần đào sâu hơn để thấm nhập vào tinh thần phục vụ của Ngài, hầu mỗi ngày trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài hơn.

1. Tinh thần trách nhiệm.

Trách nhiệm trước tiên nằm trong sứ vụ mà mình được giao phó. Trách nhiệm đòi hỏi chúng ta phải hy sinh, cho dù sự hy sinh đó xem ra có vẻ quá lớn trong khi kết quả quá nhỏ bé và không chắc chắn. Tuy nhiên, chúng ta phải xét giá trị của nó trước cái nhìn của Chúa, chứ không xét theo thành quả trước sự đánh giá của người đời.
Chúng ta luôn ưa thích những thành quả lớn lao và dễ dàng, đang khi tinh thần trách nhiệm thì nhiều khi rất khó khăn và kết quả rất âm thầm. Nhưng đó lại là điều biểu hiện tấm lòng nhân hậu mà Chúa ưa thích. Cũng vậy, chúng ta luôn ưa chuộng và chạy theo số đông mà bất chấp những cá nhân nhỏ bé, nhất là những cá nhân sai lạc và làm trì trệ đời sống cộng đoàn.
Vì thế, phục vụ trước tiên là phục vụ chính Chúa, Đấng đảm nhiệm mọi ý nghĩa và giá trị của công việc chúng ta làm để đưa nó vào chương trình cứu độ của Ngài. Trong tinh thần trách nhiệm cũng cần phải luôn biết rằng, mình phục vụ và người khác cũng đang phục vụ. Giá trị của phục vụ không nằm trong công việc lớn nhỏ, trong vai trò hay chức vụ, nhưng nằm trong tâm tình, ý hướng và thái độ của người phục vụ. Sự phục vụ chân chính trong tinh thần trách nhiệm bao giờ cũng đòi hỏi một sự tế nhị, nhường bước để tạo được hoà khí sinh động, bình đẳng và bổ túc cho nhau trong mọi công việc. Phục vụ mà gây ra bất an, hỗn loạn và hư hại cho người khác thì quả là sự phục vụ bất chính.

2. Tinh thần liên đới.

Không ai có quyền sống riêng cho mình, nhất là khi đứng trước tình cảnh khó khăn và đau khổ của người khác, cũng như của cộng đoàn mà chúng ta đang sống. Đó là chân lý trong lẽ sống làm người, huống chi đối với chúng ta là những đan sĩ linh mục coi mọi người như anh em với nhau, vì cùng là con của một Cha trên trời và đang cùng chung sống với nhau trong một mái nhà, một cộng đoàn, một gia đình hướng tới sự hoàn thiện như Đức Kitô.
Tinh thần liên đới không phải chỉ biết cho đi mà còn phải biết khiêm tốn lãnh nhận. Nhiều khi lãnh nhận còn khó hơn là cho đi, vì nó dễ đụng chạm đến cái “tôi” của chúng ta, đụng chạm tới quyền bính, vai trò, chức vụ và uy thế của mình. Vì thế, mỗi người cần phải nhìn lại cách thức sống và phục vụ của mình, sao cho nó thể hiện được rõ nét tinh thần liên đới chân thực như Chúa Giêsu.

 

3. Tinh thần tổ chức.

Để phục vụ cho hữu hiệu cần phải có tinh thần tổ chức, mà tinh thần tổ chức trước tiên là tổ chức đời sống bản thân của mình cho có một sự thống nhất hài hoà từ bên trong đến bên ngoài, từ tư tưởng, đường hướng cho đến phương cách làm việc. Từ đó, ta mới biết cách sắp xếp trình tự, kế hoạch và diễn tiến công việc một cách ổn thoả, an vui, từ công việc cá nhân đến công việc của tập thể, từ việc nhỏ tới việc lớn, từ công việc ngắn hạn tới những công việc trường kỳ.
Thiếu tinh thần tổ chức ta sẽ hành động một cách tuỳ tiện, ngẫu hứng theo cảm tính của mình, sẽ dễ dàng gây ra những chạm trán, xung đột với người khác và làm phương hại đến đời sống tập thể. Tinh thần tổ chức không bao giờ là một diễn biến từ ý định riêng tư do khả năng đề xuất của mình, nhưng là một cảm nhận sâu xa về sự hiện diện và tác động của Thánh Thần, Đấng đang gieo mầm sống mới trong sự chan hoà yêu thương qua việc phục vụ của chúng ta.

4. Tinh thần từ bỏ.

Trong sự phục vụ, tinh thần từ bỏ phải là một chứng tá đương nhiên của một con người có tinh thần trách nhiệm, liên đới và tổ chức. Tuy nhiên, người ta có thể dễ dàng từ bỏ những đặc quyền, đặc lợi của mình, nhưng khó lòng mà từ bỏ chính bản thân mình. Vì thế, nếu không tỉnh thức đủ thì sợ rằng phục vụ sẽ trở thành cách thức củng cố cái “tôi” của mình, cảm thấy mình sáng giá trước những công trình do mình làm nên, và rồi vui hưởng trong bình an giả tạo vì cho rằng mình đã hết lòng sống cho Chúa và tha nhân. Tuy nhiên, trước sau gì thì chiếc mặt nạ này cũng sẽ rơi xuống trước một hành vi phục vụ chân chính khi nó đòi phải hy sinh chính mình.
Trong một nếp sống văn minh vật chất, người ta chỉ còn muốn hưởng thụ, mà ít ai thật sự muốn phục vụ. Lối sống này cũng đã bắt đầu lan tràn vào đời sống tu trì: Từ bỏ thì ít mà chiếm giữ thì nhiều; hy sinh thì nhỏ mà đòi hỏi thì lớn; nói thì dạy dỗ đủ mọi điều mà làm và sống điều mình nói thì chẳng có bao nhiêu; điều gì dễ dàng thoải mái thì tha thiết đón nhận, còn điều gì khó khăn nặng nề thì tìm cách cho đi; điều gì thoả thích thì vui hưởng, còn điều gì không ổn, bất lợi thì phản kháng và dồn hết cho người khác. Vì thế, người đan sĩ linh mục cần chìm sâu trong cầu nguyện không ngừng, để có thể gặp gỡ và sống thân tình với Đức Kitô là chính Đấng phục vụ. Nơi Ngài sự phục vụ của chúng ta được thanh luyện để trở nên trong sáng, được thánh hoá để trở nên cao cả hầu đem lại niềm vui hạnh phúc đích thực cho mình và cộng đoàn.

THAY LỜI KẾT.

Để trở nên một đan sĩ linh mục đích thực, thì chúng ta hãy ý thức rằng, điều làm cho chúng ta trở nên linh mục, chính là do lòng yêu thương bao la vô cùng của Thiên Chúa. Ngài đã mời gọi, tuyển lựa và thánh hiến chúng ta, làm cho chúng ta trở thành dân riêng của Chúa, để tham dự vào công trình cứu chuộc của Đức Kitô là chuyên lo việc thánh hóa các linh hồn, như xưa Thiên Chúa đã chọn dân Do thái làm dân riêng và được Ngài thánh hiến để phục vụ cho việc tế tự. Chúng ta sẽ chỉ là một với Giáo Hội, chỉ đạt đến sự hiệp thông sâu sắc với tư cách là thành viên cộng tác có hiệu quả của Giáo Hội, nếu chúng ta hoà hợp trên bình diện của khát vọng sâu thẳm nhất của chúng ta. Chúng ta phải luôn biết nỗ lực không ngừng hoán cải và rao giảng sự hoán cải để trở thành hạt giống của mầu nhiệm Nước Thiên Chúa. Và vì thế, thực hiện chương trình này là cách thế chúng ta phục vụ Nước Thiên Chúa, và làm cho nước Thiên Chúa trở thành một vương quốc vĩnh cửu và vô biên, vương quốc đầy tràn sự thật và sự sống, đầy tràn ân sủng và thánh thiện, đầy tràn tình thương, công lý và an bình.
Chức linh mục là để phục vụ. Vì thế, muốn cho cộng đoàn đan viện ngày càng thêm vững mạnh, thiết nghĩ cần phải có thái độ thiêng liêng: Luôn luôn coi cộng đoàn mình là một cộng đoàn đức tin. Vì mỗi người chúng ta là một nhân vị, Chúa mời gọi mỗi người mỗi cách, để cộng đoàn trở nên có ý nghĩa, thì mỗi thành viên luôn phải đặt Chúa là trung tâm điểm trong cuộc sống, với một ý chí vững mạnh vào Ngài, bước đi theo Người và thuộc trọn về Người. Đặc biệt, là qua Thánh Lễ, kinh nguyện và lao động, qua việc chu toàn bổn phận hằng ngày, chúng ta đón nhận của ăn thần thiêng nuôi sống linh hồn và cộng đoàn chúng ta nữa. Chính những của ăn này làm cho đời sống cộng đoàn phát triển bền vững, tạo mối dây liên kết với Thiên Chúa và mọi người.
Vì thế, mỗi đan sĩ linh mục chúng ta được mời gọi hãy trở thành chứng nhân tình yêu của Thiên Chúa trong môi trường mình đang sống. Điều quan trọng nhất là chúng ta hãy nên thánh. Nếu chúng ta thành công trong mọi lãnh vực, mà chính chúng ta bị loại ra khỏi Nước Trời, thì hai tiếng “Đan sĩ linh mục” chẳng có ý nghĩa và giá trị.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÁM DỖ SỐNG NGOÀI LỀ

Đan viện Phước Thiên 

Một hình ảnh thật đẹp và nên thơ, ngày ngày Thiên Chúa đi dạo với con người trong vườn địa đàng. Hạnh phúc của con người là được làm bạn với Thiên Chúa, nhưng tình bạn đó bị tan vỡ khi con người nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Từ đây, mối giây hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa bị cắt đứt. Điều đó dẫn đến con người cũng mâu thuẫn với nhau, và trong chính bản thân con người cũng mất đi sự thống nhất. Khi xa lìa Thiên Chúa, con người có xu hướng nghiêng chiều về sự dữ. Sự dữ ấy cứ theo đuổi con người mãi cho đến ngày nay, theo đà phát triển của xã hội, con người bị cuốn hút vào vòng xoay của đam mê, khoái lạc, tiền tài danh vọng. Từ đó con người đánh mất chính mình, đánh mất ý nghĩa cuộc sống. Đan viện cũng không thoát khỏi làn sóng cám dỗ đó, nó lôi cuốn đan sĩ muốn sống ngoài lề, thoát khỏi đời sống hiệp thông với Chúa, với Cộng đoàn và với các lời khấn.

1.TÔI VỚI CHÚA

“Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy” (Ga 15,9) là lời mời gọi đầy thắm thiết của Chúa Giêsu. Ngài muốn chúng ta gắn kết với Ngài như cành nho với cây nho. Vì nếu lìa xa Ngài, chắc chắn chúng ta sẽ không có nhựa sống và sẽ khô héo. Theo thánh Biển Đức, đan sĩ lý tưởng là đan sĩ luôn sống trước sự hiện diện của Chúa. Mục đích đời tu của chúng ta là tìm Chúa, sống trong Chúa và sống cho Chúa. Mục đích ấy đem lại cho đời tu tất cả giá trị và vẻ đẹp của nó. Chúng ta tìm Chúa trước tiên qua giờ thần vụ. Xác tín Thần vụ là việc trọng đại hơn hết mọi việc, là trực tiếp tôn vinh Thiên Chúa, là nguồn mạch siêu nhiên, phong phú hơn hết. Nên Thánh Biển Đức trong Tu Luật chương 43,3 đã dạy các môn sinh của mình: “Không lấy gì làm hơn việc Chúa”. Trong thần vụ, thánh lễ là trung tâm đời sống của đan sĩ. Vì thế, tất cả nhân đức, nỗ lực, gian khổ, yếu đuối, đan sĩ đều dâng trước bàn thờ như của lễ hiến tế. Bí tích Thánh Thể là của ăn đàng mỗi ngày, là nguồn mạch và chóp đỉnh cho chúng ta. Làm sao một người đã được kêu mời chọn Đức Kitô như là Đấng duy nhất đem lại ý nghĩa cho cuộc đời mình, lại không ao ước hiệp thông sâu xa với Người nhờ mỗi ngày tham gia vào bí tích này.
Tiếc thay! vẫn có một vài người bị cám dỗ nghiêng về điều dễ dãi, thoải mái. Họ đến nhà thờ một cách miễn cưỡng, đi trễ về sớm, cử hành thần vụ một cách uể oải, nhiều lúc không đọc kinh, từ tác phong đến cử điệu, họ thiếu khiêm cung với Chúa. Nguyện ngắm là giờ đi vào tương quan mật thiết với Chúa nhưng một số người chỉ mong cho mau hết giờ, đầu óc phân tán đi muôn phương hay ngồi ngủ gật. Vì thế, không còn cảm nhận được niềm vui khi phụng sự Chúa, lửa nhiệt thành cũng tan biến đi như mây khói. Chúa không còn là “niềm vui của con” nữa, Chúa chỉ làm con “hao mòn sinh lực”. Cái buổi ban đầu “lưu luyến ấy” bây giờ chỉ còn là “những tháng ngày lê thê”. Khi đan sĩ tách rời khỏi Thiên Chúa thì cũng là lúc đan sĩ cắt đứt mối giây tương quan huynh đệ với anh chị em.

2.TÔI VỚI CỘNG ĐOÀN

“Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay
Anh em được sống vui vầy bên nhau” (Tv 132)
Đời sống cộng đoàn là nét đặc thù của đời tu. Cộng đoàn là một gia đình thiêng liêng gắn kết chúng ta lại thành anh chị em. Trong gia đình này, mọi người nhất tâm phụng sự Chúa và yêu thương nhau. Như lời thánh vịnh 132, đời sống cộng đoàn là một niềm vui, niềm vui của những người theo Chúa. Chúng ta tin Chúa Kitô hiện diện trong cộng đoàn, Ngài làm chủ cộng đoàn chúng ta. Đời sống huynh đệ là chỗ tốt nhất để nhận định và đón nhận ý Chúa, để cùng nhau tiến bước một lòng một trí với nhau, cho dù có những khác biệt mà vẫn tôn trọng nét độc đáo của mỗi cá nhân. Mỗi người trân trọng đối thoại với người khác để tìm ra ý Chúa. Cộng đoàn cũng là môi trường tốt để huấn luyện chúng ta.
Đời sống cộng đoàn đòi hỏi chúng ta phải tham dự các giờ chung một cách đầy đủ với tâm hồn vui tươi, đòi hỏi chúng ta luôn sống sự hiện diện với cộng đoàn, sống mối tương quan huynh đệ hòa hợp với mọi người. Từ đó, đời sống cộng đoàn phát sinh năng lực tông đồ mãnh liệt như nắm men âm thầm nhưng làm dậy cả khối bột. Được sống trong vòng tay yêu thương của cộng đoàn, nhưng nhiều lúc chúng ta vẫn có những cám dỗ hướng chiều về thế gian. Chúng ta vắng mặt trong các giờ chung hoặc thường xuyên đến trễ. Lời Chúa là của nuôi linh hồn đan sĩ, để đan sĩ ngày càng trở nên “con người của Thiên Chúa”, cảm nghiệm rõ hơn sự hiện diện và thánh ý của Người, nhưng chúng ta lại lơ là với việc đọc sách thiêng liêng. Lao động cộng tác vào chương trình sáng tạo của Thiên Chúa, làm quân bình thể xác và tâm linh, để nuôi sống bản thân, thi thoảng chúng ta cũng lười biếng, không nhiệt tình, bê trễ công việc. Giờ cơm được nuôi dưỡng bằng lời Chúa qua việc nghe đọc sách nhưng chúng ta lại thích ăn cơm sau cộng đoàn. Ngay cả việc giải trí đúng mục đích là một điều thiết yếu cho đời sống đan tu, đôi khi chúng ta lại không muốn tham gia, muốn đi riêng rẽ, muốn làm việc cá nhân. Trong tương quan huynh đệ, chúng ta dễ xét nét, khó tha thứ cho nhau, không còn biết chia sẻ niềm vui, đồng cảm với nỗi đau của người khác, không còn biết tặng ban tình bạn cho anh chị em mình, dễ từ chối những khó khăn gặp phải, trốn tránh trách nhiệm, thánh giá trở nên gánh nặng mà đan sĩ khó vượt qua. Từ đó, đan sĩ có xu hướng thích đi dã ngoại, hành hương hoặc lấy nhiều lý do khác để đi ra ngoài cộng đoàn. Vì thế, làm nghèo đi tinh thần đan tu, đời sống nội tâm trở nên trống rỗng.

 

3.TÔI VỚI LỜI KHUYÊN PHÚC ÂM

“Các lời khuyên Phúc Âm là một ân huệ của Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh” (Tông huấn Đời Sống Thánh Hiến s.20). Chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa không phải do tự sức chúng ta, mà chính Thiên Chúa yêu thương, tìm kiếm chúng ta trước, và Người mời gọi chúng ta hiệp thông vào chính sự sống của Người. Chúa Kitô không ngừng mời gọi chúng ta đáp trả lại bằng một tình yêu tròn đầy, và chúng ta đáp lại liên tục bằng việc khấn hứa, bằng suốt đời từ bỏ mình để làm tôi Người. Các lời khấn giúp đan sĩ sống trọn hảo hơn với ơn gọi, mang lại nhiều giá trị thiêng liêng cho đan sĩ. Tuyên khấn là để tương đối hóa giá trị của những thụ tạo, để minh chứng rằng chỉ có Thiên Chúa là sự thiện tuyệt đối.
Nhờ việc khấn khiết tịnh, đan sĩ dốc hết tâm lực để lo việc Chúa và Giáo. Đức khiết tịnh như một chứng tá về quyền năng của tình yêu Thiên Chúa trong sự mỏng dòn của thân phận con người, trở thành một kinh nghiệm về niềm vui và tự do. Với nền văn hóa hưởng thụ đang khiêu khích đang tháo gở mọi quy tắc đạo đức tính dục của con người, biến tính dục thành một trò chơi và một món hàng tiêu thụ. Đôi khi chúng ta bị cám dỗ thích giao du với người ngoài, có quan hệ không lành mạnh với người khác phái, “bắt được cá” nhưng không “quên nơm”, “qua sông” rồi mà vẫn còn “lụy đò”.
Đan sĩ sống nghèo không phải vì túng thiếu hay khinh chê của cải vật chất, nhưng là để đạt cho được sự tự do của con Thiên Chúa. Đan sĩ noi gương Đức Kitô nghèo khó là để tâm hồn được thanh thoát và nhẹ nhàng dấn bước trên đường trọn lành. Đôi khi đan sĩ vẫn thích chiếm hữu, thích tiện nghi, không hài lòng với những gì cộng đoàn cung cấp.
Noi gương Đức Kitô vâng phục, đan sĩ cũng phải tìm biết thánh ý Chúa Cha như lương thực hằng ngày. Vâng phục không làm suy giảm tự do, nhưng làm cho tự do có ý nghĩa đích thực. Tuy vậy, có lúc đan sĩ cũng thích làm theo ý riêng, bất phục bề trên là người đại diện, làm cho đời tu mất đi ý nghĩa.

KẾT

Khát vọng của đan sĩ là được sống kết hợp với Chúa bằng tình yêu sung mãn của Người, liên kết với anh chị em mình bằng mối giây đức ái tuyệt hảo, và sống một cách tròn đầy các lời khuyên Phúc Âm bằng một tình yêu không mức độ. Nhưng giữa lý tưởng và thực tế cuộc sống là cả vạn dặm. Những cám dỗ chúng ta đi ngược lại với Lời Chúa, cám dỗ chúng ta đi trong sa mạc nơi không có sự sống, không lấy đức tin tham chiếu. Vậy đâu là định hướng mà chúng ta phải chọn lựa cho mình?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MÔSÊ:

NGƯỜI CỦA THIÊN CHÚA

VÀ NGƯỜI CỦA TOÀN DÂN

MỘT MỐI HIỆP THÔNG KÉP 

Duyên Thập Tự

DẪN NHẬP

Ông Mô-sê đã trở thành hình tượng phong phú trong nhiều mối tương giao giữa cộng đồng nhân loại. Ông mang nhiều “chức danh” như người giải phóng, vị mục tử, người trung gian, người thiết lập lề luật, v.v. Mỗi chức danh diễn đạt nội dung mà vai trò của ông được hiện thực trong từng giai đoạn cuộc hành trình của dân Ít-ra-en khi họ lìa bỏ Ai-cập để tiến vào Đất Hứa. Hình ảnh của ông không chỉ giới hạn trong lịch sử của dân Ít-ra-en vào một giai đoạn nhất định nào đó, nhưng còn trở thành “hình mẫu” cho những ai được trao cho sứ mạng làm “thủ lãnh”. Ông có một chỗ đứng đặc biệt trong suy tư và hành động của những ai muốn hoàn thành một công cuộc mang tính liên đới cao.
Nhưng tất cả những vai trò, vị trí của ông, không được hình thành như thể là kết quả của những nỗ lực cá nhân hay do hoàn cảnh khách quan tạo nên, như người ta thường nghĩ : anh hùng tạo thời thế hay thời thế tạo anh hùng. Vẫn biết rằng phấn đấu cá nhân là quan trọng và ảnh hưởng của xã hội luôn để lại những dấu ấn. Nhưng ông Mô-sê xuất hiện trước hết và trên hết là một thủ lãnh của một dân tộc mà lý hữu của họ không gì khác hơn là Thiên Chúa.
Vì vậy, khi chọn viết về ông Mô-sê trong số nội san với chủ đề “hiệp thông”, tôi muốn làm nổi bật tính liên đới của ông: ông liên đới trọn vẹn với toàn dân của ông. Nhưng sự liên đới của ông với dân Ít-ra-en – một sự liên đới chiều ngang – được nuôi dưỡng bởi chính sự hiệp thông với Thiên Chúa, trong chiều dọc.

1. NHỮNG KINH NGHIỆM KHỞI ĐẦU

Trước khi được kêu gọi cho sứ vụ quan trọng, ông Mô-sê đã trải nghiệm những tình huống khác nhau. Những kinh nghiệm này sẽ trở thành các bài học đắt giá cho hành trình thi hành sứ vụ của ông trong tương lai.

A. ĐƯỢC CỨU KHỎI CHẾT

Ai trong chúng ta cũng biết rõ trình thuật về việc em bé Mô-sê được cứu khỏi dòng nước sông Nil. Nhưng phải chăng đó là một sự kiện ngẫu nhiên, hay tính toán của nhân loại, của song thân Mô-sê?
Chúng ta biết rằng Pha-ra-ô, vua Ai-cập đã ra lệnh giết tất cả các hài nhi người Do-thái xuống dòng sông Nil. Dù đã cất dấu con trong ba tháng, song thân của Mô-sê không thể dấu hơn đuợc nữa, đành phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa. Và Thiên Chúa đã không phụ lòng tín thác của họ: bàn tay Thiên Chúa đã thể hiện qua từng chi tiết: đúng lúc và đúng nơi công chúa, con của vua Pha-ra-ô, đến tắm, và nhất là lòng chạnh thương của cô dành cho đứa bé người Híp-ri này. Rồi Ma-ri-a, chị cả của Mô-sê, đã can đảm xuất hiện và đề xuất phương án nuôi nấng.
Tuy còn quá nhỏ để hiểu tầm mức quan trọng của việc Thiên Chúa “giải thoát” khỏi cái chết – chắc chắn là cái chết của việc bị bỏ trôi sông. Rồi với thời gian, qua lời kể của những người trong gia đình, Mô-sê dần dần hiểu được ý nghĩa của biến cố được cứu này. Và đó là một dấu ấn vô hình ghi khắc trong tâm khảm của Mô-sê. Có thể, khi lớn lên, Mô-sê đã nhiều lần tự hỏi: mình được Thiên Chúa cứu khỏi dòng nước sông Nil là để làm gì? Thiên Chúa có một dự án nào trên cuộc đời mình? Mình sống cho ai? Đâu là lý hữu của đời mình? Dù sau này, khi được trao cho công chúa để được nuôi dưỡng trong hoàng cung, Mô-sê vẫn mãi ghi khắc trong tâm hồn mình cái “kinh nghiệm khởi đầu” cho cả một hành trình dài.
Và ngày quyết định đã đến, ngày mà tác giả thư Do-thái mô tả: “Nhờ đức tin, ông Mô-sê, khi lớn lên đã từ chối không chịu cho người ta gọi là con của công chúa Pha-ra-ô; ông thà ngược đãi với Dân Thiên Chúa còn hơn là được hưởng cái sung sướng chóng qua do tội lỗi mang lại” (Dt 11,24-25). Diễn tả tâm trạng của ông Mô-sê như vậy, tác giả hé cho thấy ông Mô-sê là con người “thông hiệp”, nghĩa là sẵn sàng “đồng cảm, đồng hành, đồng sinh, đồng tử” với dân mình. Ông đi thăm anh em mình vào lúc 40 tuổi.

B. TỰ NGUYỆN ĐI CỨU ANH EM

Ngày quyết định đã đến : vào độ tuổi bốn mươi, ông Mô-sê ra khỏi hoàng cung để đến với anh em mình, những anh em đang oằn người dưới những gánh nặng của kiếp nô dịch. Việc quyết định đến với anh em mình là một quyết định không dễ dàng gì, vì phải bỏ tất cả những gì tạo cho ông một tương lai tươi sáng, vương giả của cuộc sống cung đình. Tác giả thư Do Thái đã diễn tả rất đúng tâm hồn và tâm trạng của ông: “Nhờ đức tin, ông Mô-sê, khi lớn lên đã từ chối không cho người ta gọi là con của con công chúa Pha-ra-ô; ông thà cùng chịu ngược đãi với Dân Thiên Chúa còn hơn là được hưởng cái sung sướng chóng qua do tội lỗi mang lại; ông coi sự ô nhục của người được xức dầu là của cải qúy báu hơn các kho tàng của người Ai-cập” (Dt 11, 24-26).
Nhưng cơ hội đi thăm anh em mình đã cho ông cái kinh nghiệm “nhớ đời”. Ông đã rất thiện chí và can đảm ra tay hành động: đã giết chết tên cai người Ai-cập, vùi thây dưới cát. Kinh nghiệm của sức mạnh, của ý chí. Nhưng rồi cái kinh nghiệm về thiện chí của mình đã chạm trán với trải nghiệm của sự bị từ chối. Thiện chí của ông như bị tạt một gáo nuớc lạnh khi nghe lời của một người anh khi ông muốn giải hoà : “Ai đã đặt ông lên làm người lãnh đạo và xét xử chúng tôi? Hay là ông tính giết tôi như đã giết tên Ai-cập?” (Xh 2,14). Ông đã sợ và chạy trốn khỏi đó. Ông ở lại miền Ma-đi-an. Ông ngồi bên bờ giếng.
Trong im lặng, trong cô đơn, ông cảm thấy đắng cay. Tất cả những hy sinh, nghĩa là từ bỏ mọi vinh hoa của hoàng cung, danh vọng của con công chúa Pha-ra-ô, tất cả thiện chí của ông, can đảm hành động, để rồi đi đến kết cục như vậy sao? Có thể ông đã không hành động với tư cách được Chúa sai đi, vào giờ của Ngài. Có thể ông đã không tham vấn Thiên Chúa trước khi hành động. Ông đã theo “chủ nghĩa anh hùng cá nhân”. Ông muốn hiệp thông với anh em mình, với Dân Tộc mình, nhưng có thể ông đã thiếu hiệp thông với Thiên Chúa.

2. MỘT SỨ MẠNG KHÓ KHĂN

Bốn mươi năm kể từ ngày trốn sang đất Ma-đi-an. Thời gian dài như thể làm cho chính ông Mô-sê quên tất cả, và chấp nhận sống cuộc đời tha hương, vui với gia đình nhỏ bé của mình và ngày ngày đi theo đàn vật để mưu sinh. Cái kinh nghiệm nhớ đời trên kia, vẫn làm ông sợ hãi Pha-ra-ô, người tìm giết ông, và sợ hãi những người anh em đã từ chối thiện chí của ông. Nhưng Thiên Chúa không quên Dân Ngài.
Sách Xuất hành đã diễn tả Thiên Chúa với tâm trạng day dứt, và đã thổ lộ với Mô-sê tâm trạng đó, trước khi trao cho ông sứ vụ thật quan trọng :
“Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai-cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi khổ của chúng. Ta xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai-cập, và đưa chúng từ đất ấy lên một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật…” (Xh 3,7-8).
Tâm trạng của Thiên Chúa được thổ lộ với Mô-sê, như ngầm nói lên một điều hệ trọng : để có thể hiệp thông với anh em mình – với con người – trước hết, phải nghe được chính tấm lòng của Thiên Chúa đối với anh em. Nghĩa là phải có một sự hiệp thông kép: với Thiên Chúa và với anh em. Trong chính tư tưởng đó, chúng ta cùng tìm hiểu tâm trạng của ông Mô-sê khi được Thiên Chúa kêu gọi cho sứ vụ : “Bây giờ, ngươi hãy đi ! Ta sai ngươi đến với Pha-ra-ô để đưa dân ta là con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập.” (Xh 3,10).
Ngày xưa, cách đây bốn mươi năm, Mô-sê đã hành động mà không chờ giờ của Thiên Chúa, nay giờ đã điểm, thì ông lại lưỡng lự. Tâm trạng lưỡng lự đó được diễn đạt qua bốn thắc mắc mà ông đặt ra cho Thiên Chúa.
Thắc mắc thứ nhất : “Con là ai mà dám đến với Pha-ra-ô và đưa con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập?” Một câu hỏi mà tự trong thâm tâm của ông đang trăn trở. Đã có kinh nghiệm đau thương bốn mươi năm về trước về chuyện những người anh em từ khước : “Ai đã đặt ông làm người lãnh đạo và xét xử chúng tôi?” (Xh 2,14). Bây giờ, khi được trao cho sứ mệnh đến giải thoát anh em, ông vẫn e ngại và cả sợ hãi. Nhưng Thiên Chúa trả lời : “Ta sẽ ở với ngươi” (Xh 3,12). Qua câu trả lời của Thiên Chúa, sự hiệp thông với Thiên Chúa tạo nên chính căn tính của người thi hành sứ vụ. Sự hiện diện của Thiên Chúa là bảo đảm cho người được kêu gọi cho sứ vụ nào đó. Nhưng ông Mô-sê vẫn chưa đủ vững tin, vẫn còn những e ngại.
Thắc mắc thứ hai: “Bây giờ con đến gặp con cái Ít-ra-en… Vậy nếu họ hỏi con : Tên Đấng ấy là gì? Thì con phải nói với họ làm sao?” (Xh 3,13) Hơn ai hết, ông Mô-sê ý thức tầm quan trọng của tương giao với Thiên Chúa làm cho sứ vụ trở thành khả tín. Nói về Thiên Chúa, về Danh Thiên Chúa, để cho họ tin, phải phát xuất từ kinh nghiệm về Thiên Chúa, một mối hiệp thông sâu xa với Ngài. Thiên Chúa trả lời : “Ta là Đấng Hiện Hữu”. Nghĩa là Ta là Đấng luôn hiện diện, qua mọi thời đại, nơi cha ông của họ. Và giờ đây, hiện diện với chính ngươi. Hiện diện diễn tả một mối hiệp thông sâu xa. Nhưng ông Mô-sê còn cần những dấu chỉ khả tín khác nữa.
Thắc mắc thứ ba: “Họ sẽ không tin con đâu, họ sẽ không nghe lời con, vì họ sẽ nói : Đức Chúa chẳng có hiện ra với ông.” Đức Chúa phán với ông: “Tay ngươi cầm cái gì đó?” Ông đáp: “Thưa một cây gậy” (Xh 4,1-2). Cây gậy ông Mô-sê đã từng sử dụng để chăn dắt đàn vật, sẽ trở thành cây gậy của “phúc lành Thiên Chúa”: Thiên Chúa sẽ thực hiện những kỳ công qua trung gian con người sử dụng cây gậy này. Có một mối hiệp thông, một luồng sức mạnh giữa Thiên Chúa, cây gậy và người cầm nó. Nhưng ông Mô-sê còn một thắc mắc cuối cùng.
Thắc mắc thứ tư: “Lạy Chúa, xin xá cho con, từ hồi nào đến giờ, ngay cả từ lúc Chúa ban lời cho tôi tớ Ngài, con không phải là kẻ có tài ăn nói, vì con cứng miệng cứng lưỡi” (Xh 4,10). Ông Mô-sê rất ý thức về những “lỗ hổng”, những giới hạn nơi bản thân mình. Một sự nhận biết chân thành. Thiên Chúa đã trấn an: “Bây giờ ngươi hãy đi, chính Ta sẽ ngự nơi miệng ngươi, và Ta sẽ chỉ cho ngươi phải nói những gì” (Xh 4,12). Điều đó muốn diễn tả rằng: muốn đón nhận được lời Thiên Chúa một cách xứng đáng và nói được lời Thiên Chúa một cách chính xác, cần có mối hiệp thông với Ngài, vì lời Ngài là sự sống.
Khi đón nhận sứ mạng “đưa dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập”, nghĩa là ra khỏi kiếp nô lệ để vào Đất Hứa với tư cách của những con người tự do, ông Mô-sê rất ý thức một trọng trách như bất khả thi. Ông đã trải nghiệm cách đây bốn mươi năm là thiện chí phía con người thì không đủ, sự liên kết hiệp thông chiều ngang với anh em mình cũng không đủ; vì khi nảy sinh vấn đề, khi gặp sự cố, con người dễ tháo lui. Chính vì thế, khi đặt ra những thắc mắc cho Thiên Chúa, Đấng kêu gọi ông, ông Mô-sê đã muốn thấy những gì còn lớn hơn thiện chí và khả năng của ông. Khi hứa luôn “ở cùng”, “mặc khải chính Ngài”, “sử dụng quyền năng” và “tỏ lộ Lời Ngài”, Thiên Chúa cho ông thấy mối tương giao, hay lớn hơn thế, là mối hiệp thông nào sẽ là căn bản cho việc ông đến với anh em ông và thi hành sứ vụ. Quả thật, sứ vụ chỉ có thể được thi hành đúng đắn, chỉ đạt kết quả, khi người thi hành sống mối hiệp thông kép : hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp thông với anh em mình. Hành trình của ông Mô-sê cùng với dân Ít-ra-en trong chặng đường “ra khỏi Ai-cập” để tiến vào sa mạc “tới đất hứa” sẽ minh chứng cho chúng ta khẳng định đó.

3. SỐNG MỐI HIỆP THÔNG KÉP KHI GẶP THỬ THÁCH

Hành trình của ông Mô-sê có thể được ví như một cuộc chiến, vì ông phải chạm trán với những khó khăn bên ngoài của hoàn cảnh và đối diện với tâm trạng của dân như cay đắng, bất mãn, thất vọng. Ông cũng phải chiến đấu với chính mình để giữ vững đức tin và chu toàn một sứ vụ, một trọng trách chẳng chút nhẹ nhàng. Và ông cũng phải chiến đấu với chính Thiên Chúa, Đấng kêu gọi ông thi hành một sứ mạng vượt quá sức ông : đã không ít lần ông can ngăn Thiên Chúa đừng xóa sổ đám dân cứng đầu cứng cổ này. Ông vừa là thủ lãnh, vừa là một trung gian giữa Thiên Chúa và toàn dân. Rất khó khăn và tế nhị và đầy những “lao tâm khổ trí”. Chúng ta hãy theo dõi hành trình sứ vụ của ông.

A. Thất bại trên đất Ai-cập

Với tất cả niềm tin vào Thiên Chúa và những lời hứa của Ngài, ông Mô-sê lên đường trở về Ai-cập để thực hiện nội dung sứ vụ : gặp Pha-ra-ô để can thiệp cho dân ra đi.
Cuộc hạnh ngộ đầu tiên xem ra khá thuận lợi: “Và dân đã tin. Họ đã hiểu được Đức Chúa đến viếng thăm con cái Ít-ra-en và nhìn thấy cảnh khổ cực của họ. Và họ đã phủ phục mà thờ lạy” (Xh 4,31). Trong thâm tâm, họ nghĩ rằng con đường giải thoát khỏi kiếp nô lệ chắc là rất dễ dàng, họ không cần phải trả giá. Nhưng sự thật không phải vậy. Hai ông Mô-sê và A-ha-ron đến gặp vua để can thiệp cho dân ra đi “mở lễ kính Chúa trong sa mạc”, và vua đã đáp trả lời đề nghị bằng cách áp đặt cho dân những gánh nặng hơn trước kia: không cung cấp vật liệu nhưng số gạch phải nộp đầy đủ. Vậy, đâu là phản ứng của dân trước tình thế này?
Họ đã nói với hai ông Mô-sê và A-ha-ron những lời trách móc khá nặng nề: “Xin Đức Chúa chứng giám và xét xử cho: các ông đã làm cho chúng tôi trở nên đáng ghét trước mắt Pha-ra-ô và bề tôi của vua; thật các ông đã trao gươm vào tay họ để giết chúng tôi” (Xh 5,21).
Khi nghe những lời đó, chắc chắn ông Mô-sê như cảm thấy những mũi gươm đâm phập vào trái tim mình. Ông đã muốn giải thoát anh em mình khỏi khổ cực mà giờ đây lại càng khổ cực hơn. Ông muốn giải thoát anh em mình khỏi kiếp nô lệ, nhưng bây giờ kiếp sống đó càng khó khăn hơn. Ông cảm thấy kiệt sức. Phải làm chi đây? Trở về đất Ma-đi-an để an thân? Bỏ rơi anh em cho số phận của họ? Đây là một trong những giờ khắc đen tối nhất trong cuộc đời ông. Không! Ông đã hướng nhìn lên “một nơi” sẽ là nguồn trợ lực cho ông. Dầu vậy, ông cũng dám thổ lộ tâm tình thật của ông với Thiên Chúa: “Lạy Chúa, tại sao Ngài lại làm khổ dân này? Tại sao Ngài lại sai con đi? Từ khi con đến với Pha-ra-ô để nhân danh Ngài mà nói, thì vua ấy làm khổ dân này, và Ngài đã chẳng giải thoát dân Ngài gì cả!” (Xh 5,22).
Thất bại đầu tiên này đã cho ông Mô-sê bài học là luôn cậy trông vào Thiên Chúa. Những day dứt và cả những thất vọng – nếu có về phía con người, vì hoàn cảnh như bế tắc – lại là cơ hội để sống mối hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa mà không bỏ rơi anh em mình.

B. Dặm trường sa mạc mênh mông

Sau những tai ương Thiên Chúa giáng xuống trên Ai-cập, dân Ít-ra-en ra đi vội vàng như bị xua đuổi nhưng cũng rất đắc thắng. Nhưng rồi sự phấn khởi ban đầu vấp phải những gian nan của hành trình. Chính trong dặm trường bốn mươi năm sa mạc, với từng bước đi qua từng địa danh, dân Ít-ra-en đã lộ ra “con người thật” của họ, khi họ phản ứng trước những thử thách. Chúng ta không thể ghi ra đây tất cả phản ứng của họ trên từng cây số hành trình, nhưng chỉ trích dẫn những lời nói tiêu biểu diễn tả suy nghĩ và tâm hồn của họ trong những thời điểm đó. Khi nêu ra những phản ứng đó, chúng ta muốn làm nổi bật cách hành xử của ông Mô-sê với điểm nhấn là ông “sống mối hiệp thông kép”.
– Trước viễn ảnh của cái chết.
Dân Ít-ra-en đứng trước một ngõ cụt, không lối thoát: đàng trước là Biển Đỏ án ngữ lối đi, phía sau là quân của Pha-ra-ô đang rượt đuổi không còn đường lui. Con cái Ít-ra-en kinh hãi. Họ nói với ông Mô-sê: “Bên Ai-cập không đủ mồ chôn hay sao, mà ông lại đưa chúng tôi vào trong sa mạc? Ông làm gì chúng tôi vậy, khi ông đưa chúng tôi vào chết trong sa mạc? Đó chẳng phải là điều chúng tôi từng nói với ông bên Ai-cập sao? Chúng tôi đã bảo: Cứ để mặc chúng tôi làm nô lệ Ai-cập! Thà làm nô lệ Ai-cập còn hơn chết trong sa mạc” (Xh 14,11-12).
Đâu là phản ứng của ông Mô-sê trước tình huống này? Tác giả thư Do Thái đã hiểu tâm trạng của ông khi viết: “ông vững vàng không nao núng” (Dt 13,27). Làm sao ông vững vàng, nghĩa là ông vững tin vào Thiên Chúa, nếu ông đã không gắn kết với Ngài. Chính trong niềm tin tưởng được nuôi dưỡng bởi mối hiệp thông với Thiên Chúa mà ông đã nói với dân: “Đừng sợ! Cứ đứng vững, rồi anh em sẽ thấy việc Đức Chúa làm hôm nay để cứu anh em… Đức Chúa sẽ chiến đấu cho anh em. Anh em chỉ có việc ngồi yên” (Xh 14,13-14).
– Trước cái đói, cái khát và thèm thuồng.
Đọc lại các sách Xuất Hành, Dân Số và Đệ Nhị Luật, chúng ta như nghe được khá rõ ràng những tiếng kêu trách, than vãn, phản đối của dân Ít-ra-en dành ông Mô-sê và ông A-ha-ron. Bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào đều là cơ hội để những tiếng oán than vọt ra từ đáy lòng họ. “Chúng tôi lấy gì mà uống”. “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai-cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thỏa thuê. Nhưng không, các ông đã đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi chết đói cả lũ ở đây” (Xh 16,3; x. Ds 11,5-6).
Ông Mô-sê rất khổ tâm trước lời kêu trách của dân. Những vu vạ bất công mà ông là đối tượng chắc chắn làm cho ông buồn khổ, vì ông vẫn là con người bằng xương bằng thịt. Nhưng nhất là ông không thể thỏa mãn lòng dân này lẫn cái bao tử và sự thèm thuồng của ho. Họ vẫn nhớ nhung Ai-cập và chưa dám trả giá cho Đất Hứa mà ông đang dẫn họ tiến đến. Phải làm gì đây? Cứ mỗi lần có sự cố, ông đều “hướng về Đức Chúa, Thiên Chúa của ông”. Một phản xạ thiêng liêng thật tuyệt vời, và đây là chìa khóa thành công của sứ vụ. Ông hướng lên Thiên Chúa để bày tỏ tâm hồn của ông, cả những khắc khoải, ưu phiền cùng với nhu cầu của dân.
“Con phải làm gì cho dân này bây giờ? Chỉ một chút nữa là họ ném đá con!” (Xh 17,4)
“Sao Ngài lại làm khổ tôi tớ Ngài? Tại sao con lại không đẹp lòng Ngài, khiến Ngài đặt gánh nặng tất cả dân này lên con? Có phải con đã cưu mang tất cả dân này không? Có phải con đã sinh ra nó không mà lại bảo con: Hãy bồng nó vào lòng, như vú nuôi bồng trẻ thơ, mà đem vào miền đất Ta đã thề hứa với cha ông chúng? Con lấy đâu ra thịt để cho dân này ăn, khi chúng khóc lóc đòi con: “Cho chúng tôi thịt để chúng tôi ăn?” Một mình con không thể gánh cả dân này được nữa, vì nó nặng quá sức con. Nếu Ngài xử với con như vậy, thì thà giết con đi còn hơn – ấy là nếu đẹp lòng Ngài! Đừng để con thấy mình phải khổ nữa!” (Ds 11,11-15).
– Khủng hoảng niềm tin khi ông Mô-sê vắng mặt.
Ông Mô-sê, theo lệnh Thiên Chúa, lên núi Xi-nai để lãnh nhận “hai tấm bia Chứng Ước, hai tấm bia đá do chính tay Thiên Chúa viết” (Xh 31,18). Nhưng khi ông vắng mặt cho một sứ vụ thật quan trọng và cao cả, thì dân đã “thay lòng đổi dạ”. Họ bèn tụ họp bên ông A-ha-ron và nói với ông: “Xin ông đứng lên, làm cho chúng tôi một vị thần để dẫn đầu chúng tôi…” (Xh 32,1). Và những gì xảy ra sau đó, chúng ta đã biết. Một con bê bằng vàng đã được đúc và họ thờ lạy, rồi mở hội ăn uống vui chơi. Đang khi ông Mô-sê lên núi để nhận từ Thiên Chúa tấm bia giao ước, thì dân đã hủy sự kết ước ngay khi chưa nhận được. Ông Mô-sê lên núi gặp gỡ Thiên Chúa, còn dân ở trong trại để chế nhạo Thiên Chúa bằng cách sáng chế một ngẫu tượng để thờ lạy. Một bên là thánh thiêng, bên kia là tục hóa.
Nhưng điều chúng ta muốn nói ở đây là thái độ của ông Mô-sê khi Thiên Chúa muốn ra tay tiêu diệt dân Ít-ra-en. Từ trên núi, Thiên Chúa báo tin cho ông biết chuyện gì đang xảy ra:
“Hãy đi xuống, vì dân ngươi đã hư hỏng rồi, dân mà ngươi đã đưa lên từ đất Ai-cập. Chúng đã vội đi ra ngoài con đường Ta đã truyền cho chúng đi. Chúng đã đúc một con bê, rồi sụp lạy nó, tế nó và nói: ‘Hỡi Ít-ra-en, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập’. Đức Chúa lại phán với ông Mo-sê: “Ta đã thấy dân này rồi, là một dân cứng đầu cứng cổ. Bây giờ cứ để mặc Ta, cứ để cơn thịnh nộ của Ta bừng lên phạt chúng, và Ta sẽ tiêu diệt chúng. Nhưng Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn” (Xh 32,7-10).
Đây là một cơ hội tốt để trả thù. Thật vậy, từ khi gặp lại anh em mình và lãnh sứ vụ dẫn dắt dân ra khỏi Ai-cập, ông Mô-sê luôn là đối tượng để họ chống đối, kêu trách, và đã hơn một lần muốn giết ông. Ông có thể lợi dụng cơ hội này khi chấp nhận đề nghị của Thiên Chúa, để Thiên Chúa tiêu diệt. Và ông sẽ lãnh đạo một dân khác, lớn hơn và cũng có thể “dễ thở” hơn khi dẫn dắt họ. Nhưng con người này lại quá “nặng lòng” với dân. Ông đã “đồng hành” và sẽ đồng hành mãi, dù dân này có thế nào đi nữa. Ông đã ngỏ với Thiên Chúa những lời phát xuất từ “trái tim” của ông. “Ông Mô-sê cố làm cho nét mặt Đức Chúa, Thiên Chúa của ông, dịu lại. Ông thưa: “Lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại bừng bừng nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra khỏi đất Ai-cập? Tại sao người Ai-cập lại có thể rêu rao: Chính vì ác tâm mà Người đã đưa chúng ra, để giết chúng trong miền núi và tiêu diệt chúng khỏi mặt đất? Xin Ngài nguôi cơn thịnh nộ và xin Ngài thương đừng hại dân Ngài. Xin Ngài nhớ đến các tôi tớ Ngài là Áp-ra-ham, I-sa-ác và Ít-ra-en; Ngài đã lấy chính danh Ngài mà thề với các vị ấy rằng: Ta sẽ làm cho dòng dõi các ngươi đông đúc như sao trên trời, và sẽ ban cho dòng dõi các ngươi tất cả miền đất ấy, là miền đất Ta đã hứa; chúng sẽ được thừa hưởng miền đất ấy đến muôn đời. Đức Chúa đã thương, không giáng phạt dân Người như Người đã đe” (Xh 32,11-14).
Dù đã xin Thiên Chúa không tiêu diệt dân, nhưng ông Mô-sê cũng phải cho họ ý thức tội họ phạm thật là nặng nề. Ông đã nổi giận đập tan hai bia đá dưới chân núi, và loại trừ khỏi dân những người đã kích động dân. Ba ngàn người đã gục ngã dưới lưỡi gươm của các thầy lê-vi thừa lệnh ông Mô-sê đi tiêu diệt trong khắp trại.
Rồi ngày hôm sau, khi cơn thịnh nộ đã dịu lại, ông Mô-sê nói với dân: “Anh em đã phạm một tội lớn, nhưng giờ đây tôi sắp lên gặp Đức Chúa; may ra tôi sẽ xin được Người xá tội cho anh em” (Xh 32,30). Chúng ta hãy lắng nghe những lời ông thưa với Thiên Chúa :
“Than ôi, dân này đã phạm một tội lớn! Họ đã làm cho mình một tượng thần bằng vàng! Nhưng giờ đây, ước gì Ngài miễn chấp tội họ! Bằng không, thì xin Ngài xóa tên con khỏi cuốn sách Ngài đã viết” (Xh 32,31-32).
Thật là cảm động! Ông khẩn khoản xin Thiên Chúa thương xót tha thứ cho dân đã phạm một tội quá nặng. Một sự hiệp thông kép thật sâu xa: đi vào nơi tội lỗi của dân và đi vào lòng Thiên Chúa. Gắn kết với dân và kết hiệp với Thiên Chúa. Và còn hơn thế nửa, ông đã xin Thiên Chúa “xóa tên” mình trong cuốn sách của Người, cuốn sách hằng sống. Một sự hiệp thông quá ư sâu thẳm. Xóa mình, tự hủy. Hơn cả “đồng sinh đồng tử”. Không cần phải nói thêm, chúng ta hãy chiêm ngắm dung mạo của ông Mô-sê và hãy để cho những tâm tình và lời nói của ông thấm nhập vào tâm hồn để chúng ta để có thể “nghiệm” được tình thông hiệp nơi ông.
C. Cô đơn ra đi bên bờ Đất Hứa
Chặng đường dài bốn mươi năm sa mạc ghi dấu chân của đoàn dân Ít-ra-en, nhưng cũng để lại dấu ấn con người của ông Mô-sê. Bao nhiêu sự kiện và sự cố xảy ra, ông đều hành xử như một “người của Thiên Chúa” và “người của anh em”. Nơi ông đã biểu lộ một tấm lòng lớn, mà Kinh Thánh đã tuyên dương ông “người hiền lành nhất đời” (Ds 12,3). Đức hiền lành và khiêm nhường nơi ông luôn được nhìn thấy trong mọi tình huống, và ngay cả phần kết của cuộc đời ông. Chúng ta hãy nghe chính lời tâm sự của ông với toàn thể dân Ít-ra-en, nơi cánh đồng Mô-áp, sát biên giới với Đất Hứa :
“Thời ấy, tôi đã năn nỉ Đức Chúa rằng: ‘Lạy Chúa là Đức Chúa, Ngài đã bắt đầu cho tôi tớ Ngài thấy Ngài thật vĩ đại và tay Ngài mạnh mẽ. Có thần nào trên trời dưới đất thực hiện được những công trình và những chiến công như Ngài? Xin cho con được sang qua sông Gio-đan và nhìn thấy miền đất tốt tươi ở bên kia sông, miền núi tốt tươi ấy và núi Li-băng”. Vì anh em, Đức Chúa bất bình với tôi, Người không nghe tôi; Đức Chúa phán với tôi: “Đủ rồi! Đừng bao giờ nói với Ta về chuyện ấy nữa! Hãy lên đỉnh Pít-ga, ngước mắt nhìn về phía tây, phái bắc, phía nam, phái đông, và mở mắt ra mà xem, vì ngươi sẽ không được qua sông Gio-đan này.” (Đnl 3, 23-27).
“Vì anh em mà Thiên Chúa bất bình với tôi”. Ông Mô-sê đã đi đến cùng sự hiệp thông với dân: không được vào Đất Hứa, như tất cả những người đã xuất phát từ Ai-cập. Đồng phận cùng dân đến điểm tận cùng của hành trình.
Ông đã ra đi, một mình, không ai đồng hành lên đỉnh Pít-ga, vào giây phút cuối cùng cuộc đời. Bà Maria đã an nghỉ giữa dân, ông A-ha-ron ra đi có người con ông và ông Mô-sê hiện diện bên cạnh. Ông Mô-sê, trái lại, chỉ một mình trong giây phút cuối cùng, ngay cả Gio-suê, người đã luôn tháp tùng ông, cũng ở lại trong trại với dân. Ông đã trung thành phục vụ và dẫn dắt dân Chúa. Sự thông hiệp, mối thân tình với Thiên Chúa, đã ghi đậm trong sứ vụ của ông, từ bụi gai cho đến cánh đồng Mô-áp. Một sự hiệp thông sống động và sâu xa. Ông ra đi một mình, trong cô đơn, nhưng có “Ai Đó” còn lớn hơn tất cả, tiến lại gần ông, cho ông cảm thấy sự hiện diện và sự thân mật của Ngài. Ông đã an giấc. Chính Thiên Chúa đã chôn cất ông trong thung lũng. Thiên Chúa chăm sóc thân xác của tôi tớ Người và không ai biết được ngôi mộ của ông.

KẾT LUẬN: “NHƯ THẤY ĐẤNG VÔ HÌNH”

Tác giả thư Do Thái đã tìm thấy chiếc “chìa khóa vạn năng” đã giúp ông Mô-sê hoàn thành sứ mạng đưa dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập tiến về Đất Hứa, đó là “như xem thấy Đấng Vô Hình”: “Ông vững vàng không nao núng, như thể xem thấy Đấng vô hình” (Dt 13,27).
Trong cuộc hành trình với dân, ông đã phải đối diện với bao nhiêu vấn đề, bao nhiêu sự cố xảy ra ngoài sự tưởng tượng của ông. Những sự thật của lòng dân Ít-ra-en phơi bày một cách tỏ tường trước đôi mắt ông. Ông chứng kiến tất cả, ông nhìn thấy tất cả và ông hiểu tất cả. Dầu vậy, ông không nao núng trước bất cứ thử thách nào. Đức tin của ông ngày càng kiên vững, tăng trưởng theo nhịp của những thử thách; vì ông nhìn thấy Đấng Vô Hình, Đấng lớn hơn tất cả.
Ông đã sống mối tình thân mật với Đấng vô hình, Đấng đã minh chứng điều đó khi Người tuyên phán: “Nếu trong các ngươi có ai là ngôn sứ, thì Ta, Đức Chúa, thì Ta sẽ tỏ mình ra cho nó trong thị kiến, hoặc sẽ phán với nó trong giấc mộng. Nhưng với Mô-sê tôi tớ Ta thì khác: tất cả nhà Ta, Ta đã trao cho nó. Ta nói với nó trực diện, nhãn tiền, chứ không nói bí ẩn, và hình dáng Đức Chúa, nó được ngắm nhìn…” (Ds 12,6-8). Và Sách Xuất Hành cũng ghi lại một chú thích quan trọng: “Đức Chúa đàm đạo với ông Mô-sê, mặt giáp mặt, như hai người bạn với nhau” (Xh 33,11).
Chính vì đã sống mối tình thân mật với Thiên Chúa, trong một sự hiệp thông sâu lắng và bền vững, nên ông Mô-sê mới có thể hiệp thông với toàn dân trong mọi tình huống của hành trình cuộc sống. Ông trở thành vĩ đại vì ông đã liên kết với chính Thiên Chúa và dấn thân vào “đại cuộc”mà Thiên Chúa trao cho ông. Chính vì thế mà Sách Đệ Nhị Luật đã kết thúc bằng những lời tuyên dương dành cho ông: “Trong Ít-ra-en, không còn xuất hiện một ngôn sứ nào như ông Mô-sê, người mà Đức Chúa biết rõ, mặt giáp mặt” (Đnl 34,10).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

SẮC MÀU VĂN HÓA

 

Đan Viện An Phước

Xã hội nhân loại không ngừng phát triển về mọi phương diện, đặc biệt về hai phương diện về tinh thần, vật chất. Hai lĩnh vực này luôn song song cùng tồn tại trong cuộc sống xã hội con người ngày nay.

Song, đời sống tu trì cũng là một xã hội được thu nhỏ, nhưng có nhiều khía cạnh khác với một xã hội trần thế. Thay vì mục đích sống để tận hưởng, để mưu cầu hạnh phúc giàu sang phú quí, dù bất cứ giá nào phải trả, miễn sao chủ nghĩa cá nhân luôn được bảo toàn và bình yên; thì ngược lại, đời sống tu trì chỉ duy nhất một mục đích là Yêu và chỉ Yêu. Cảm nhận tình yêu, nếm hưởng tình yêu để rồi đáp trả lại cũng chỉ bằng tình yêu. Điều đó, là động lực thúc giục con người bước theo tình yêu bằng cách cùng quy tụ sống chung với nhau.

Dù rằng mỗi người ở mỗi nơi: Bắc, Trung, Nam ba miền đất nước, nhưng tình yêu tự nguyện đã dẫn đưa họ đến với nhau để trở nên những người anh chị em trong một gia đình thiêng liêng có yêu thương như một gia đình huyết thống. Khi sống chung mỗi người tự bản chất gợi lên những điểm, những nét rất riêng cho bản sắc văn hoá nơi quê hương, địa phương và gia đình huyết tộc của mình. Giống như một bài hát được dệt nên từ những nốt nhạc khác nhau, thì cũng vậy, từ những nét rất riêng của mỗi người được kết dệt lại tạo thành bản đồng ca tuyệt diệu, được quyện vào nhau tạo thành một bức tranh với những màu sắc tươi đẹp, một vườn hoa muôn sắc, cũng như một món ăn tổng hợp có nhiều hương vị đậm đà – sắc màu văn hoá.

Một cộng đoàn dòng tu được thành lập không chỉ dành riêng cho một miền, một địa sở nào đó, mà còn thu nhận tất cả những tấm lòng quảng đại dám dấn thân cho tình yêu. Chắc chắn sẽ có nhiều người từ mọi nơi trong cùng một quốc gia hay khác quốc gia tìm đến.

Trên địa hình chữ S, Nước Việt gồm có 54 sắc tộc cùng sống chung. Có bao nhiêu sắc tộc thì có bấy nhiêu khác biệt về văn hoá, văn minh, phong tục và ngôn ngữ. Mỗi nơi đều có nét đặc trưng độc đáo của mình. Như vậy, con người sống trên từng vùng cũng chịu ảnh hưởng và hấp thụ những nét riêng đó, điều này được phát hoạ trong tâm tính, tính cách của mỗi người và được biểu hiện trong đời sống chung với nhau. 

Người viết xin được đưa ra một dẫn chứng cụ thể ngay tại cộng đoàn đan viện mà người viết đang sống. Một cộng đoàn tuy nhỏ bé, còn non trẻ, thế nhưng về là nơi hội tụ những con người sống trên ba miền của đất nước. Thoạt tiên, tưởng chừng sẽ khó có thể hiểu nhau, bởi vì mỗi người đều giữ cái nét độc đáo riêng của bản sắc văn hoá nơi vùng miền mà họ đã sống. Nói như vậy, nghĩa là trong đời sống cộng đoàn sẽ không có tinh thần đoàn kết và yêu thương, vì mỗi người đều giữ riêng nét đặc trưng hay những gì đã được hấp thụ trước đó. Nhưng không, cho dù mỗi người đều mang giữ lấy cho mình cái bản sắc văn hoá của địa phương, của gia đình mình mà vẫn có thể sống hoà quyện yêu thương, đoàn kết và hiệp nhất cùng nhau. Điều kiện cần và đủ là mỗi người hãy luôn biết chấp nhận những sự khác biệt của nhau, và nhất là chấp nhận những yếu đuối xác hồn của nhau, không đặt để cá nhân mình làm chuẩn và đòi buộc người khác phải nên giống mình.

Cộng đoàn Tiên khởi được kêu gọi qui tụ sống bên Chúa Giêsu. Họ sống yêu thương đồng tâm nhất trí nâng đỡ nhau (x. Cv 1,14), dù mỗi người đều xuất xứ từ một miền khác nhau, công việc khác nhau, tư tưởng khác nhau, và nhất là tâm tính khác nhau. Như vậy, tất cả những nét đặc trưng, độc đáo của từng cá nhân các Tông đồ đều luôn tồn tại trong hữu thể. Điều tất yếu mỗi vị phải quy hướng về Đức Kitô.

Vậy, chính tình yêu Đức Kitô đã nối kết, quy tụ từng người đến với nhau, sống cùng nhau. Còn tình yêu đối với Đức Kitô thì như thế nào? Thánh Gioan cho chúng ta câu trả lời “…Vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20).  Đó chính là tình yêu đối với tha nhân, yêu những người anh chị em cùng sống chung với mình; yêu cả những nét đẹp, lẫn nét chưa đẹp của họ, yêu ngay cả những dị thường của nền văn hoá mà họ đã thủ đắc; biết đón nhận anh chị em bằng cả con tim của tấm lòng vị tha. Khi chấp nhận được những điều đó, mỗi cá nhân đều phải đón nhận người anh chị em cùng chung sống với mình, cho dù họ có những nét, những điểm không tương đồng với mình. Đôi khi những điểm không tương đồng, những nét đặc trưng trong tính cách sống của từng cá nhân lại là những bài học bổ túc cho nhau, tương trợ lẫn nhau trong đời sống tu đức, thiêng liêng. Một bài hát của cố nhạc sĩ Tùng Ngân được viết để nói lên tình yêu thương liên đới trong đời sống cộng đoàn như sau: “Niềm vui trong nhà Chúa, yêu Chúa mến yêu mọi người, niềm vui trong hy sinh, của lễ hiến dâng trọn tình. Yêu nhau thật là vui chấp nhận người anh em cùng chung sống…” Chấp nhận nhau, tương trợ lẫn nhau, hy sinh cho nhau trong đời sống chung sẽ đem lại niềm vui và tình yêu thương. 

Để diễn tả đời sống cộng đoàn, Thánh vịnh 132 có câu mô tả rất đẹp: “Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau”. Sống chung ở đây không nhằm nói đến đời sống của một gia đình huyết tộc, nhưng chú trọng đến một gia đình thiêng liêng mà các phần tử được quy tụ từ khắp mọi nơi. Sự ngọt ngào khi được sống chung với nhau; ngọt ngào khi chấp nhận yếu đuối xác hồn của nhau; ngọt ngào khi được gọt giũa; ngọt ngào khi được đồng lao cộng khổ, sống chết có nhau. Trong sự ngọt ngào đó sẽ luôn có những vị đắng, vị cay hay vị chua chát, nhưng chính nhờ những vị đó mới có thể giúp cho những ai vì tình yêu Đức Kitô sẽ cảm nếm sự ngọt ngào nơi tâm hồn mình. Sự ngọt ngào ấy không tồn đọng nơi vị giác, bề ngoài mà là tận nơi sâu thẳm của một đời sống nội tâm.

Từng thành viên sống trong cộng đoàn chắc chắn sẽ không ai giống ai, không ai như ai về phong cách, về trình độ văn hoá hay suy nghĩ. Tuy có cùng mẫu số chung là tình yêu dành cho Đức Kitô và tha nhân, nhưng thái độ của tình yêu hay phong cách sống yêu của từng người cũng thể hiện khác nhau. Mỗi người đều có cái khác biệt để thể hiện tình yêu đó. Những khác biệt làm nên một bức tranh tuyệt đẹp về màu sắc và nét hoạ.

Thiên Chúa là một hoạ sĩ tài tình, Ngài đã và đang thực hiện những bức tranh tuyệt tác nơi các cộng đoàn, bằng cách pha chế phối hợp các thể màu khác nhau. Mỗi một người là một thể loại của màu sắc mà chính Thiên Chúa đang pha chế để tạo nên một hợp chất màu độc đáo sao cho hoà hợp với người khác trong cộng đoàn để làm thành một hợp màu dễ nhìn, dễ coi. Như thế, một cộng đoàn chính là một bức tranh, một bức hoạ đang được chính Chúa điều chế pha màu để vẽ nên. Những cá thể màu sẽ được phối hợp cùng nhau để rồi làm thành một bức tranh tuyệt hảo. Có thể nói rằng, khi các màu sắc được phối hợp khéo léo sẽ tạo nên những đường nét độc đáo để hình thành một bức hoạ.

Ước chi mỗi cá nhân khi sống trong một cộng đoàn luôn biết đón nhận những sắc màu, những nét văn hoá của những cá nhân khác, và ngược lại cộng đoàn cũng biết chân nhận cái nét riêng, cái đặc trưng của từng cá nhân để xây dựng một cộng đoàn hiệp nhất yêu thương nhau. Điều này không chỉ được thực hiện nơi hình thức bề ngoài, nơi môi miệng hay nơi công việc mà nơi tận đáy lòng sâu thẳm của một con tim biết liên kết yêu thương nhau.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

QUYỀN BÍNH – BĂN KHOĂN

VÀ THAO THỨC

 

 Cha Théophane, TP

 

Công đồng Vat II đã thực hiện một cuộc canh tân toàn diện trong đời sống Giáo hội, trong đó có việc canh tân đời sống tu trì. Theo một số Nghị phụ, “cuộc canh tân đời tu lệ thuộc phần lớn vào việc thi hành quyền bính, và nếu như trong Giáo Hội đang có một cuộc khủng hoảng thì đó là khủng hoảng về quyền bính chứ không phải về vâng lời”[1] . Vì “trong quá khứ người ta quan tâm tới bề dưới hơn tới bề trên. Người ta nhấn mạnh rằng bề trên là người đại diện của Chúa và rằng con đường chắc chắn nhất để nên thánh là vâng lời, và do đó đôi khi người ta cổ vũ cho cả một sự vâng lời tối mặt nữa. Điều nhấn mạnh đó không phải là sai cả, nhưng dù sao vẫn có nguy cơ dễ dàng đưa tới những lạm dụng và lệch lạc”[2] .
Nhận định như thế phải chăng là một sự phủ nhận về quyền bính và vai trò của quyền bính trong đời sống tu? Chắc chắn là không, trái lại tác giả đang đề cao vai trò của quyền bính theo tinh thần của công đồng Vat II. Tuy nhiên, quyền bính này không theo mẫu thức kim tự tháp, mang tính bề trên-thuộc cấp, là mẫu thức nhấn mạnh quá đáng bổn phận và nhiệm vụ của người bề dưới, ngậm ý bênh vực quyền bề trên. Mẫu thức đó rất ít “chất” Tin Mừng và không phù hợp với tâm thức của con người thời đại.
Nhận định của linh mục Hồng Giáo được trình bày trong bối cảnh của đời tu hôm nay phải chăng mặc nhiên ám chỉ việc canh tân của công đồng vẫn còn tính thời sự, ngay cả khi công đồng đã trải qua 50 năm? Vấn đề đặt ra quá rộng lớn, nhưng nó cũng gợi lên một chút gì để suy tư, để băn khoăn và thao thức.

 1. Phải chăng quyền bính vẫn còn trong cuộc “khủng hoảng”?

Có lẽ cho đến khi nào đời sống tu trì còn tồn tại thì vấn đề quyền bính vẫn còn được nói đến. Sở dĩ như thế, vì lời khấn vâng lời được quan niệm như là một cấu trúc thiết yếu của đời sống thánh hiến[3] . Trong truyền thống Đan tu, người ta nhấn mạnh đến lời khấn vâng lời hơn là lời khấn khiết tịnh[4] . Thánh phụ Biển Đức đã trình bày lời khấn này như là một cách thể hiện sự khiêm nhường và sống chiều kích đức tin để đạt tới đỉnh cao của sự trọn lành[5] . Thế nhưng phải vâng lời như thế nào? Lịch sử dòng tu cho thấy quan niệm vâng lời đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của các thể chế chính trị và xã hội hơn là Tin Mừng[6] . Các quan niệm này theo tinh thần công đồng Vat II cần phải được canh tân trong sự tôn trọng nhân vị và phẩm giá con người, đúng với tinh thần Tin Mừng.
Cuộc canh tân ấy đã mang lại bộ mặt mới cho các dòng tu: người ta quan tâm đến con người hơn là sự việc; tình huynh đệ hơn là cơ cấu; đối thoại hơn là lệnh truyền. Tất cả đều hướng đến một sự hiệp thông trong cộng đoàn và trong thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô. Tuy nhiên, mẫu thức vâng phục “tự do” (đối thoại)[7]ngoài những điều tích cực không phải là không có vấn đề và đã phát sinh những xung đột làm nguy hại đến sức sống của đời thánh hiến, mà bề trên và bề dưới đều phải chịu trách nhiệm.
Thánh bộ tu sĩ trong văn kiện “Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn” đã cảnh báo một số hình thức có thể làm lu mờ vai trò quyền bính trong cộng đoàn, đến nỗi có thể biến cộng đoàn thành một tập thể mà bề trên chỉ đóng vai trò điều phối các quyết định của tập thể đó. Hiện tượng này vô tình biến cộng đoàn thành một tổ chức xã hội, xây dựng trên quyền lợi mà quên mất sự hiệp thông và tình huynh đệ trong cộng đoàn, là những yếu tố thiết yếu của đời sống thánh hiến[8] .
Vì quá chú trọng đến chủ thể tính, người ta đi rất xa và giải thích sai lạc về quyền của mỗi thành viên dẫn đến một chủ nghĩa cá nhân đầy sức tàn phá. Lúc đó giá trị của đức vâng lời bị thách thức, đời sống cộng đoàn và sứ mạng bị giản lược vào trong những dự án của cá nhân. Nhân danh việc tôn trọng nhân quyền khiến cho nhiều cá nhân lao mình vào trong những dự án, thiếu chất Tin Mừng, nhưng đầy dẫy tham vọng và dấu ấn cá nhân, dấu ấn quyền lực đến nỗi không ai có quyền can thiệp. Việc đề cao cá nhân quá mức dễ đẩy các tu sĩ rơi vào chỗ tôn sùng một thứ tự do phóng túng và vô lý.
Cũng có một nguy cơ khác phát xuất từ mẫu thức đối thoại mà theo tác giả cuốn “Refounding Religious Life…” là các bề trên sợ trách nhiệm nên sống xuề xòa dễ dãi. Biểu hiện này là một hình thức bị ức chế. Bề trên sợ bị đụng chạm hay muốn lấy lòng người khác mà chấp nhận những thỏa thuận ngầm, dầu những thỏa thuận ấy chỉ để thỏa mãn cho một nhóm người chứ không phục vụ cho sứ mạng Tin Mừng của Tu hội. Nỗi ức chế ấy làm cho phạm trù trách nhiệm như bị xóa mờ trong đời sống cộng đoàn. Người ta thực hiện, nhưng không dám nhận trách nhiệm; người ta muốn xây dựng nhưng sợ sứt mẻ quyền lợi. Với tình trạng này, chắc chắn đời sống tông đồ và sứ mạng của cộng đoàn sẽ bị phá vỡ. Ngược lại, có một số bề trên sử dụng mẫu thức đối thoại, nhưng không phải là đối thoại thật mà chỉ là một hình thức để hợp thức hóa cho những dự định của riêng mình, cho dầu việc hợp thức hóa đó mang tính chất chính trị và khôn ngoan thế gian.
Bên cạnh đó một hình thức khác khá phổ biến là việc áp dụng việc canh tân cách nửa vời trong nhiều cộng đoàn, hoặc là pha trộn giữa mẫu thức tự do và mẫu thức truyền thống. Điều này đã tạo nên nhiều cuộc xung đột và những làn sóng ngầm làm phương hại đến đời tu. Thực tế này phát xuất từ 3 lý do:
– Trước hết, do phản ứng lại một số bất cập phát xuất từ mẫu thức tự do, khiến cho việc điều khiển cộng đoàn gặp nhiều trở ngại và khó khăn.
– Kế đến, vì sợ quyền bính bị chia sẻ và khó thực hiện được những dự án cá nhân.
– Cuối cùng, thiếu hiểu biết tinh thần của cộng đồng.
Dẫu rằng vì bất kỳ lý do gì đi nữa, theo Đức Phaolô VI, người ta phải chọn mẫu thức đối thoại hơn là sử dụng mẫu thức áp đặt [9]. Bởi vì, mẫu thức truyền thống nặng tính pháp lý và luân lý. Mẫu thức này không phù hợp với Tin Mừng. Nó làm cho người tu sĩ vâng lời tối mặt và bề trên chỉ chú tâm đến lệnh truyền phải được thi hành mà không tôn trọng nhân vị, lương tâm của người thuộc quyền. Lúc đó, cộng đoàn và sứ mạng tông đồ lệ thuộc vào chủ trương được thay đổi theo tâm tính của bề trên. Mặt khác, tu sĩ ngày nay được giáo dục trong môi trường dân chủ, đề cao chủ thể tính, lương tâm và sự cộng tác, nên họ phải gánh lấy những đau khổ bất công khi phải vâng phục một quyền bính mặc hình thức “quân chủ”. Thêm vào, theo cha Hồng Giáo [10]: “mỗi tu sĩ có một ơn gọi riêng bên trong ơn gọi chung của cộng đoàn, nghĩa là một cách thức thể hiện ơn gọi làm con cái Thiên Chúa. Họ vào dòng theo tiếng Chúa gọi để tìm những phương tiện giúp họ hiệp thông trọn vẹn hơn với Chúa Cha. Họ vào dòng không phải vì bề trên hay vì cộng đoàn, song để cộng đoàn giúp họ thực hiện trọn vẹn sự tận hiến của họ cho Chúa”. Nói thế không có nghĩa là ơn gọi riêng tách ra khỏi ơn gọi chung của cộng đoàn, nhưng chỉ muốn nhấn mạnh là đừng đặt họ vào trong một khung chung và giản lược họ thành một yếu tố trong một mắt xích.
Nhìn chung, mẫu thức nào cũng có những bất cập. Tuy nhiên, theo cha Charles Bernard : “Phải chân thành nhìn nhận là chúng ta đang đứng trước một hình thức mới của đức Vâng Lời, mà chúng ta phải hết lòng đón nhận, vì nó đáp ứng với ý muốn hiện tại của Giáo Hội và bởi thế với ý muốn của Thiên Chúa.” Như thế điều thiết yếu là phải thay đổi tư duy cả Bề trên lẫn bề dưới để có thể đón nhận tinh thần mới trong niềm hân hoan phấn khởi.

 

2.Thay đổi tư duy.

Hình thức mới của đức Vâng lời mà Công Đồng Vat II khuyến khích và mời gọi đón nhận đã tạo nên một sự lúng túng qua việc thi hành quyền bính trong cộng đoàn tu trì. Lúng túng vì không biết phải thực thi quyền bính thế nào là tốt nhất; không biết phải điều hành cộng đoàn làm sao cho phù hợp. Những lúng túng ấy phát xuất từ nhiều lý do mà trong đó “thói cũ” là một trở ngại đáng quan tâm. Lối suy nghĩ từ xa xưa đã trở nên như máu huyết, luân chuyển và thấm nhuần trong tất cả mọi hoạt động của con người, tự nhiên bây giờ phải đổi là một điều không dễ dàng.
Điều phải đổi không hệ tại nơi việc thực thi quyền bính thế nào, nhưng hệ tại ở chỗ xác định: ai là người phải vâng lời và vâng lời ai? Với mẫu thức truyền thống, gắn liền với quan niệm Giáo Hội học trước Công Đồng, theo đó, Giáo Hội được quan niệm như là một xã hội, xã hội hoàn hảo, cơ cấu và phẩm trật. Quan niệm này được thánh Roberto Bellamino khai triển để tự bảo vệ và khẳng định mình giữa bao xã hội trần tục. Giáo Hội là một xã hội, nhưng hoàn hảo hơn tất cả các xã hội khác. Giáo Hội là cơ cấu và phẩm trật, nhưng siêu việt hơn tất cả các cơ cấu và phẩm trật trong thế giới. Quan niệm đó đã vô tình xây dựng Giáo Hội trên mẫu thức kim tự tháp. Mẫu thức cấp trên và cấp dưới; bề trên và thuộc quyền. Mẫu thức đòi hỏi bề dưới phải vâng lời bề trên, vì bề trên thay mặt Chúa. Có lẽ vì lý do này mà trong đời sống tu cho đến ngày nay vẫn còn quan niệm “phục tùng” qua việc thường nhắc lại: “Vâng lời Bề Trên là vâng lời Chúa”. Giám mục Nguyễn thái Hợp trong cuốn sách “Để họ lớn lên” đã chỉ ra rằng: khi tự cho như thế, “phải chăng vô tình người ta đã ngạo mạn tiếm quyền Thiên Chúa” và biến bề dưới thành những người cuồng tín, robot hay vị thành niên[11].
Với cái nhìn mới về Giáo Hội: Giáo Hội là thân thể huyền nhiệm của Chúa Kitô, là bí tích cứu độ và là sự hiệp thông…, sắc lệnh “Đức ái hoàn hảo” đã chỉ ra rằng: vâng lời không phải là “phục tùng”, nhưng là vâng theo ý Thiên Chúa trong chương trình cứu độ của Chúa Cha[12]. Theo ý nghĩa này cộng đoàn tu trì không phải là một nhóm người có tính cách xã hội, nhưng trước hết là những người “theo sát Đức Kitô” để nên “đồng hình đồng dạng với Người” nhằm chu toàn sứ mạng cứu độ của Thiên Chúa theo căn tính của Tu Hội. Như thế, bề trên là người đầu tiên phải vâng lời và học biết vâng lời. Bề trên vâng lời ai nếu không phải là vâng lời Thiên Chúa được thể hiện qua Tin Mừng, Giáo luật, Tu luật và Hiến pháp. Tuy nhiên, điều đó vẫn chưa đủ, vì cần phải áp dụng những điều đó trong những hoàn cảnh cụ thể của cộng đoàn, của từng anh em. Chính vì thế, bề trên phải biết nhận ra được ý Chúa qua các biến cố, sự kiện xảy ra trong cuộc sống; ý Chúa qua việc lắng nghe cộng đoàn và ngay cả vâng lời tiếng mời gọi của Chúa Thánh Thần trong anh em[13]. Việc lắng nghe và thích ứng là một điều khó khăn, nhưng không thể làm theo thánh ý Chúa được nếu không biết lắng nghe.
Bề trên là người đầu tiên học biết lắng nghe vì bề trên phải trả lẽ với Chúa về đoàn chiên được trao phó cho mình[14]. Xác quyết này cho thấy gánh nặng của bề trên phải nhận lấy, nhưng không đồng nghĩa với việc thuộc cấp nắm quyền điều khiển và người lãnh đạo bị làm bề trên. Trái lại, tất cả đều phải biết lắng nghe và vâng theo thánh ý Chúa. Do đó, bề dưới cần phải thanh luyện con tim, thanh luyện lý trí để trở lại nguồn suối của đời thánh hiến. Trở lại nguồn để tái xác định động lực và bản chất của đời tu. Đời tu không phải là nơi thực hiện những dự định cá nhân hay sống một cuộc sống dân chủ hoàn hảo. Đời tu là thánh hiến để thuộc về Chúa và tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa hầu chu toàn thánh ý Ngài một cách tuyệt hảo nhất.
Bởi thế, cần phải thay đổi não trạng thống trị, não trạng tranh đấu, não trạng tuyệt đối hóa để trở nên những con người sống lý tưởng hiệp thông, cộng tác huynh đệ trong cộng đoàn. Cha Timothy Radcliffe, cựu tổng quyền dòng Đaminh, trong cuốn sách “Hát lên bài ca mới” đề nghị các tu sĩ chối từ tuyệt đối hóa bất cứ hình thức quyền hành nào, nhưng cần phải biết tôn trọng quyền hành của mỗi thành phần trong cộng đoàn để tất cả mọi người được đóng góp tiếng nói tạo nên sức sống của cộng đoàn[15]. Đó là bí quyết để việc quản trị trong đời sống cộng đoàn thành công. Và thành công chỉ đến khi cộng đoàn được xây dựng trên lòng tin và tình huynh đệ.

 

 3. Làm thế nào để thực thi quyền bính trên lòng tin và tình huynh đệ?
Bề trên được cộng đoàn tin tưởng trao phó trách nhiệm điều khiển, nên bề trên cũng nên tin tưởng nơi các anh em của mình, dẫu rằng có một vài lạm dụng và thất bại. Lạm dụng và thất bại âu cũng là chuyện bình thường của kiếp người và không ai tránh khỏi. Cần nhìn nhận sự vấp váp này theo khía cạnh tích cực của nó. Nó cho thấy cần phải có sự nâng đỡ và cần thiết có một bề trên, nghĩa là một linh hoạt viên cho đời sống Tin Mừng và một vị thầy linh đạo để uốn nắn giúp thanh luyện đạt tới mức tốt đẹp hơn.
Vì thế, văn kiện “đời sống huynh đệ trong đời sống cộng đoàn” và huấn thị “Quyền bính và vâng phục” của thánh bộ tu sĩ đã lưu ý các bề trên nhiệm vụ cao quý của mình và đề cao một vài khía cạnh trong việc thực thi quyền bính hiện nay [16].
Trước hết, bề trên phải là một vị thầy hướng dẫn đời sống thiêng liêng. Các ngài phải chú tâm vào đời sống tâm linh để cho mình có một kinh nghiệm về sự ưu việt của Thiên Chúa. Từ đó, các ngài trở nên chỗ dựa và nâng đỡ đời sống tận hiến của các tu sĩ thuộc quyền. Là một vị thầy linh đạo và linh hoạt viên cho Tin Mừng, các ngài phải là chất men để nối kết và tạo nên sự hiệp nhất, xây dựng tình huynh đệ trong cộng đoàn. Bởi thế, bề trên đừng quá bận tâm vào sự việc hơn là con người lấy cớ vừa là người cha, vừa là người mẹ nên phải lo toan với những công việc trần thế.
Kế đến, việc thi hành quyền bính không đồng nghĩa với những mệnh lệnh tùy tiện, nhưng chỉ được thực hiện hợp pháp khi chuyển thông thánh ý Thiên Chúa. Để thực thi sứ mạng này, quyền bính nên cần có tính bổ trợ hơn là theo kiểu “từ trên lệnh xuống” hay theo kiểu độc đoán. Như vậy, quyền bính chỉ có thể thực hiện đúng khi quyền bính ấy làm cho các tu sĩ đạt tới chỗ trưởng thành nhân cách và giúp họ liên hệ tự do thể hiện mình khi đi theo Chúa Kitô. Sự trưởng thành này là thước đo thành công trong việc thi hành quyền bính.
Quyền bính còn được mời gọi để duy trì sự quân bình giữa cầu nguyện và hoạt động, lao động và nghỉ ngơi, cũng như hướng các tu sĩ sống cảm thức của Giáo Hội. Một cảm thức đòi hỏi các bề trên tôn trọng nhân vị, đối thoại và biện phân cùng với cộng đoàn. Việc đối thoại này sẽ giúp cho các quyết định và dự định của cộng đoàn đậm tình huynh đệ, đồng thời vạch ra được những chương trình sống phù hợp với thánh ý của Thiên Chúa. Việc mời gọi tham gia này sẽ giúp cho các phần tử sống có trách nhiệm và đồng trách nhiệm.
Sau hết, quyền bính là tiếng nói và quyết định cuối cùng, bảo đảm cho các tu sĩ đi đến tận cùng đặc sủng của Tu Hội. Do đó, bất cứ thời đại nào: quân chủ hay dân chủ thì tiếng nói cuối cùng vẫn là tiếng nói của bề trên để dẫn đưa cộng đoàn đạt tới sự trọn hảo của Đức ái theo như ý chỉ của Đấng sáng lập[16] . Vì thế, bề dưới phải biết từ bỏ để thuận theo ý Chúa qua các quyết định của bề trên, trong kế hoạch của Thiên Chúa, kế hoạch cứu độ.

Kết luận:

Quyền bính là để phục vụ theo tinh thần Tin Mừng, nhưng quyền bính được thể hiện nơi những con người với tất cả những đặc tính tham, sân, si… của thân phận mỏng giòn, trong những điều kiện lịch sử nhất định. Quyền bính ấy đã từng tạo nên những khủng hoảng trong dòng tu, trong Giáo Hội và có lẽ vẫn còn tạo nên những cuộc khủng hoảng khác nữa.
Thực tế đó không vẽ lên một tương lai ảm đạm về quyền bính trong Giáo Hội và trong đời sống thánh hiến, nhưng trở thành mối thách thức để mỗi người nỗ lực bước lên, không đi vào vết đổ của quá khứ. Nó cũng là một lời mời gọi không phải để xây dựng hay phá đổ quyền bính, mà là kiến tạo nên những con người sống cho sứ mạng đã được Thiên Chúa trao ban để phục vụ và để Nước Thiên Chúa hiện diện ngay ở trong thế gian. Hướng đi thật mênh mông, nhưng đầy hy vọng, vì một khi ngồi lại để sống với chữ “cùng” thì chữ “quyền” sẽ thành chữ “đồng”: đồng cảm, đồng lòng và đồng hướng….âu cũng là thao thức của những con người tìm kiếm Nước Thiên Chúa.

 

 


 

[1] Lm Nguyễn Hồng Giáo, Chúa gọi tôi đi theo Người, Thi hành quyền bính, Học viện Phanxico, năm 2006, tr 205K

[2] Sdd, tr 205

[3] Giám mục Nguyễn Thái Hợp, Để họ lớn lên, Quyền bính trong Giáo Hội, tr 175

[4] Tu luật thánh Biển Đức, số 58

[5] Sdd, số 7

[6] X. Gm. Nguyễn thái Hợp, Để họ lớn lên, Quyền bính trong Giáo Hội, tr 175

[7] Vat II, Sắc lệnh Đức ái hoàn hảo, số 14

[8] Thánh bộ Tu sĩ, Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn, số 48

[9] Documentations Catholiques, ngày 3.5.1970, tr 405

[10] http://ofmvn.org/tinh-dong/huan-luyen/thuong-huan/77-quyen-binh-va-tuan-phuc

[11]X. Gm. Nguyễn thái Hợp, Để học lớn lên, chương 9 và Bước theo Đức Kitô, Houston, 2001, tr181-190

[12]X. Sl “Đức ái hoàn hảo”, số 14

[13]http://ofmvn.org/tinh-dong/huan-luyen/thuong-huan/77-quyen-binh-va-tuan-phuc

[14]Sl Đức ái hoàn hảo, số 14

[15]Timothy Radcliffe, Hát lên bài ca mới, Chân lý, 2000, tr 100-101

[16]Huấn thị “Quyền bính và vâng phục”, số 13

[17]Giáo luật số  618

 

 

 

 

 

 

 

AI LÀ NGƯỜI THÂN CẬN?

 

Cộng Đoàn Xitô Phước Hải

“Ai là người thân cận của tôi”, rõ hơn: Ai là bà con ruột thịt với tôi. Chúa Giêsu trả lời qua việc kể lại câu chuyện của người Samaritano nhân lành. Người thân cận của tôi không nhất thiết là người cùng máu mũ, cùng dòng máu, cùng sắc tộc… nhưng là người quỳ xuống bên tôi để nâng đỡ tôi và cho tôi sự sống. Nói tắt là người sống với tôi mối tương quan: Có nhau, cùng nhau và cho nhau.
Đời sống thánh hiến nói chung và đời sống đan tu nói riêng là một cuộc đi tìm: Tìm Thiên Chúa. Thế nhưng, Thiên Chúa không ở đây hay ở kia, nhưng đang ở ngay bên tôi, trong những con người rất dễ thương và ngay cả những người thật dễ ghét; nơi những người giàu sang hay bần cùng và trong những anh chị em của tôi.
Tôi chỉ có thể gặp được Thiên Chúa khi tôi sống có nhau, cùng nhau, cho nhau trong cộng đoàn mà Chúa muốn tôi hiện diện. Đó là những suy niệm mà chúng con muốn chia sẻ trong bài viết này.
Có nhau ” xóm giềng tối sớm có nhau…”
Câu hỏi của người thông luật trong Tin Mừng (Lc 10, 25). “Ai là người thân cận của tôi? ” Thầy thông luật cứ tưởng Chúa sẽ ấn định giới hạn rõ rệt cho các bổn phận của ông. Ông phải cứu giúp ai đây? Người thân hay người ngoài chủng tộc hay kẻ thù? Nhưng Chúa Giêsu trả lời bằng cách Chúa đặt câu hỏi ngược lại qua dụ ngôn: “Ai là người thân cận của người bị nạn?” Chúa muốn nói mỗi người chúng ta hãy tự hỏi tôi làm gì để giúp đỡ anh em đang cần đến tôi? đừng tính toán xem ai là người thân cận của tôi, nhưng hãy nghe theo tiếng gọi trong tâm hồn đang thôi thúc mình giúp cho ai đang cần đến mình. Bao lâu chúng ta còn coi điều răn yêu thương như một ràng buộc thì chúng ta chưa yêu thương như Thiên Chúa muốn.
Đứng trước một hoàn cảnh đau thương, khốn quẫn của tha nhân chúng ta cảm thấy xúc động thì chưa đủ để gọi là yêu thương, nhưng hãy ra tay hành động quên mình và hướng tới người khác để quan tâm phục vụ. Người cận thân ở đây là bất cứ ai đang gặp khó khăn, khốn quẫn, dù đó là người xa lạ hay thậm chí là người thù ghét mình đi nữa. Chúng ta thấy người Samari ngừng lại ở một khúc đường nguy hiểm; anh trả tiền va giúp đỡ người bị nạn và anh liều gặp những nguy cơ khác nữa khi nhận thanh toán tất cả những chi phí cần thiết khác. Anh liều mạng, không so đo với một người xa lạ nữa chứ. Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu muốn nói người Samaria nhân hậu đó là hình ảnh của chính Ngài: hạ mình xuống để trở thành người thân cận với những người khốn cùng. Làm điều tốt cho những người yêu thương mình là chuyện mà những người dân ngoại cũng làm và “ngay cả những người tội lỗi cũng làm như vậy” (Lc 6,32). Nhưng đối với người môn đệ theo Chúa. Chúa đòi hỏi tình yêu phải lên tới mức cao hơn, đó là biết cúi xuống để yêu mọi người như Chúa Giêsu đã dậy và làm như vậy: không có tình yêu nào lớn hơn kẻ thí mạng sống vì người mình yêu.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lô II có nói “Con người là hữu thể độc nhất và vô nhị, nhưng không vì thế mà con người đóng khung trong chính mình, trái lại nó là một hữu thể có xã hội tính, nghĩa là sống hiện diện với, đối thoại với và hiệp thông với người khác. Con người cũng chính là con đường của Giáo hội”. Những người thánh hiến: “Phải thực hiện hành vi tuyên xưng đức tin vào Đức Kitô, bằng cách nhận ra tiếng nói của Người qua lời cầu cứu vang lên từ thế giới nghèo đói”. Với năng động của bác ái, tha thứ và hoà giải, những người thánh hiến đấu tranh cho công lý để xây dựng một thế giới mở ra những cơ hội mới và tốt hơn để cải thiện cuộc sống và phát triển cá nhân. Muốn được như thế phải có tinh thần của người nghèo, được thanh luyện khỏi tư lợi, sẵn sàng phục sự hoà bình và bất bạo động với tinh thần liên đới và đầy lòng thương cảm đối với những ai khốn khổ[1] .
Nhưng trong đời sống đan tu, kín cổng cao tường ít khi có dịp gặp gỡ những người khác. Đối với đan sĩ, điều quan trọng là không biết người thân cận để yêu mến, mà ai là người đang cần tới sự giúp đỡ của tôi; những chị em trẻ mới chập chững trong đời tu cần sự thông cảm sẻ chia, những vị Bề trên cần sự cộng tác tận tình và vô vị lợi của từng thành viên trong cộng đoàn, những chị em đau khổ thất bại cần được khích lệ chở che, những chị em già yếu bệnh tật luôn mong được sự chăm sóc an ủi vỗ về. Cùng nhau dìu dắt để vững bước và thăn tiến trên con đường lữ hành đức tin.

1. Cùng nhau “Chị ngã em nâng”

Khi còn bé, mỗi người chúng ta muốn đi được phải tập bò, tức là đi bốn chân. Lớn lên đi bằng hai chân. Về già, đi bằng ba chân vì tuổi già sức yếu, đi siêu vẹo phải nhờ cây gậy làm dụng cụ chống đỡ. Trong cộng đoàn người trẻ là mần non cho tương lai của cộng đoàn, cũng là sức mạnh giúp đỡ các chị cao niên già yếu. Mặt khác đã là con người ai cũng có hơn một lần ngã. “Ai nên khôn chẳng dại đôi lần”. Chưa kể những lúc ta kiêu căng, ngạo ngễ, vêng vang, không tự chủ, coi mình là đúng, là lớn, là được việc hơn mọi người. Không lấy Chúa làm tâm điểm hành động nên dễ dàng ngã mà không ngờ như Thánh Phaolô đã cảnh báo: “Hỡi những ai đang đứng hãy ý tứ kẻo ngã”. (…tìm địa chỉ.)
Càng đi sâu vào đời sống nội tâm, càng nhận ra cái “tôi” mình càng lớn. Càng bước nhanh trong đời sống dâng hiến với chức quyền trong cộng đoàn, càng có nhiều nguy cơ lỗi đức khiêm nhường, coi thường người khác…Thánh ý Chúa không còn muốn thực hiện, dễ chiều theo bản tính tự nhiên của con người hạ đẳng nên dễ bị té ngã. Nhưng làm sao để khi ngã chị em đều biết đỡ nâng và cùng dìu nhau đứng dậy, không có thái độ chê trách, trù dập, nhưng lấy tình yêu Chúa mà đối xử tốt với nhau. Coi người khác trọng hơn mình, cho dù người chị em có lỡ lầm yếu đuối. Biết đâu những công việc xem ra thất bại của những chị em can trường đi bước trước lại là những kinh nghiệm thiết thực cho những chị em bước theo sau trong nhiệm vụ. Một khi đã có sự tôn trọng và tình yêu Chúa chân thật thì mọi sự đều có thể hóa giải. Chính vì thế, “Ý thức được sự yếu đuối chung, ta phải biết hạ mình trước mọi người anh chị em, để cảm thông lẫn nhau, sợ rằng sự lên mặt kiêu ngạo sẽ chia rẽ những người cùng chung cảnh ngộ yếu đuối như nhau”. Có như thế, bầu khí của đời sống chung Xitô mới được thấm nhuần ân sủng đặc biệt theo tinh thần Tin Mừng như Baudouin de Ford đã cảm nghiệm: “sống kiên nhẫn, khiêm nhường và yêu thương lẫn nhau” chỉ có bấy nhiêu thôi!. Vì chẳng ai giống Thiên Chúa hơn người tỏ lòng nhân ái đối với anh em mình.
Thật vậy, chúng ta cần hai lòng thương xót để có thể hoà giải với chính mình, trước khi thấy được đằng sau gương mặt thương xót huynh đệ, chính gương mặt Nhân từ của Thiên Chúa. Đây chính là sứ vụ của Bề Trên, một sứ vụ vô cùng quan trọng, nhưng nó sẽ không có hiệu quả nếu không có sự cộng tác, bằng cách này hay cách khác, của toàn thể anh chị em trong cộng đoàn. Vì vậy, Thánh Bênađô đã biết những anh chị em: “tận tình, thân ái, dễ chịu, mềm mỏng, khiêm tốn… không những họ chịu đựng mọi khuyết điểm phần xác và phần hồn, mà còn giúp đỡ, phục vụ, an ủi và hướng dẫn anh chị em bằng những lời khuyên. Khi luật thinh lặng không cho phép, thì họ không ngừng mau mắn nâng đỡ những anh chị em yếu đuối bằng những lời kinh nguyện…[2]
Họ chính là những kho tàng được giấu ẩn. Họ còn là người trị liệu cho anh chị em mình, là hình ảnh sống động của Thầy Kitô Phục vụ giữa anh chị em mình, “tình yêu khiêm tốn” của họ xây dựng Hội Thánh. Họ mau mắn mang ánh sáng tới cho những tương quan bị tổn thương trong đời tu, ôm ấp trìu mến, cẩn thận chữa trị, đổ dầu chiêm niệm và dầu nhân ái trên những ai cần đến họ. Vì chỉ có lòng bao dung mới làm chúng ta nên những người thân cận của nhau. Thật ra mà nói, trong một cộng đoàn không thiếu những lý tưởng hàm hồ hay hoang tưởng của một sự đồng đều nhất loạt và hoàn hảo cho mọi người, có thể khép lại cánh cửa tình yêu huynh đệ. Bởi vậy, Aelred cực lực phản đối lối nhiệt tình chua chát của một số đan sĩ, ‘giữ luật cách kiêu hãnh của thứ công chính giả mạo, khiến họ khinh chê người khác, không muốn bị xếp đồng hàng với anh chị em, vì bất cứ hình thức cảm thông nào… Thực ra nơi những người ấy, sức mạnh nội tâm của họ, không phải là một nhân đức, mà là tật xấu, không phải là người bình thường mà là tâm bệnh: họ khinh chê người khác vì họ có thể thức khuya, ăn chay và cầu nguyện nhiều hơn mọi người’. Chính vì thế, hãy nhanh chóng lột trần và gạt bỏ những hành vi giả tạo vì họ không chạnh lòng thương.

 

2. Cho nhau “yêu nhau củ ấu cũng tròn”.

“Yêu nhau củ ấu cũng tròn”. Khi nói đến củ ấu ai cũng đều biết củ ấu có hình dáng giống như cái đầu trâu có hai cái sừng, mầu đen sống dưới đất bùn. Trái ngược với hình tròn. Thế mà người ta lại ví: “ Thương nhau củ ấu cũng tròn.” Đây là một hình ảnh ẩn dụ để diễn tả tình yêu. Một nhà tâm lý nói rằng: Khi yêu người ta thường nhìn bằng trái tim hơn là lý trí. Vì thế tình yêu thường mù quáng và qua lăng kính trái tim thì chân lý cũng có thể bị bóp méo: củ ấu làm sao tròn được? Khi yêu người ta dễ bỏ qua lầm lỗi cho nhau dù tội có tầy trời đi nữa… Có lẽ câu nói đó rất hợp cho đời sống tu trì, với cái nhìn đức tin. Nhìn vào đời sống cộng đoàn thật đa tạp, trăm người, trăm tính. Mỗi người từ khắp mọi miền đất nước, người từ miền bắc, trung, nam… đã được Chúa quy tụ về chung sống để làm nên một cộng đoàn huynh đệ, một cuộc sống hiệp nhất trong đa dạng. Trong đời sống cộng đoàn sự hiệp thông huynh đệ là nơi Thiên Chúa ngự, một sự sống đích thực của Thiên Chúa Ba Ngôi. Một tình yêu đòi hỏi phải sẵn sàng phục vụ, không tính toán, sẵn sàng đón tiếp người khác, dù họ có thế nào đi nữa, không xét đoán (x. Mt 7,1-2). Phải có khả năng tha thứ, bỏ cái tôi để hòa vào cái chung, một lòng một ý (Cv 4,32). Sống tình liên đới với nhau. Để có thể sống vui an bình, hạnh phúc, và đạt đến mục đích nên thánh của ơn gọi thánh hiến.
Muốn được như vậy điều cần thiết phải yêu thương thật sự như Chúa yêu. Không những yêu điều tốt, điều hay nơi họ nhưng yêu cả những gì méo mó, góc cạnh, như củ ấu, những giới hạn và khuyết điểm của họ, ta cũng phải yêu và dễ dàng bỏ qua những lầm lỗi, va chạm, xích mích hằng ngày. Từ đó con người mới dễ dàng đón nhận những dị biệt và giới hạn của nhau. Bởi bản chất con người là yếu hèn và bất toàn. Mỗi người đều giới hạn và yếu đuối, không ai dám tự hào mình đã hoàn hảo, toàn vẹn. Cũng vậy không ai có quyền đòi hỏi người khác phải giống mình, hay mình là người mẫu bắt người khác phải thế này, thế nọ, theo ý mình. Nhưng tại sao chúng ta không theo lối nhìn lạc quan như Thánh An-tôn: thích tính hài hước của chị này, sự chuyên cần cầu nguyện của chị kia, quan sát sự dịu dàng nhịn nhục của người này, lòng tốt của người kia, ghi nhận những buổi nhiệt tình canh thức của các em này, lòng hâm mộ đọc sách của những em kia, thán phục tính kiên nhẫn của chị này, việc giữ chay và sự khắc khổ của những chị khác. Nhưng nhất là chúng ta ghi khắc trong lòng niềm tin yêu mà mọi người dành cho Thầy Giêsu Kitô, cũng như tình yêu huynh đệ mà tất cả chị em dành cho nhau[3] . Không phải niềm tin yêu theo cảm tình hời hợt mau qua chóng tàn của con người, nhưng là niềm tin yêu chân thực quang tỏa từ tột đỉnh Thập Giá Chúa Kitô mới bền vững.
Chính vì thế, một khi đã có tình yêu thì mọi khuôn mặt sẽ rất dễ thương, mọi tương quan sẽ trở nên nhẹ nhàng. Cuộc sống sẽ vơi bớt khổ đau, và con người mới sống triển nở trong ơn gọi của mình về thể xác cũng như tinh thần… Như thế, ai lại không cảm nhận được một chút “Thiên đường Nội Vi”, như thánh Bênađô thường nói, hay “Thiên đường trên trời” mà Guillaume đã thoáng thấy, qua sự mô tả “đầy mầu sắc” về một cộng đoàn khổ tu.

Thay lời kết.

Trở nên người thân cận với những con người tôi chung sống là bước vào con đường của hiệp thông, bước vào con đường của đón nhận và trao ban. Con đường đó sẽ dẫn tôi tới Thiên Chúa và cho tôi một sự sống dồi dào. Thế nhưng, đây là con đường chông gai đòi hỏi tôi phải vượt lên chính mình và bước đi dưới ánh sáng của Tin Mừng, theo dấu chân của Chúa Giêsu: Dấu chân của sự tự hủy.
Tự hủy là một lời mời gọi, mà cũng là một yêu sách cho những ai biết yêu mến và muốn thực hiện một cuộc đi tìm đích thực và nghiêm túc. Tôi sẽ không gặp được Chúa nếu tôi không thể hiện mầu nhiệm này trên cuộc đời của tôi. Tôi sẽ không thể trở nên “Người thân cận” của anh chị em tôi, nếu tôi không thực hiện một cuộc nhập thể như Chúa Giêsu, Đấng đã đến để cùng tôi, cho tôi và để có tôi.

 


 

[1]x. Thông điệp Đấng Cứu Chuộc con người, số 14

[2]x. Andre Louf, Đời sống chung trường dạy yêu thương, trang 132

[3]Andre Louf, Đời sống chung trường dạy yêu thương, trang 126

 

 

 

 

 

 

NHẢY THEO NHỊP ĐIỆU NÀO?

 

 Martin Phạm Thanh Toàn, Phước Vĩnh

Dẫn

Bà Mi-Khan, vợ vua David thấy chồng múa nhảy trước Hòm Bia Chứng Ước thì coi thường, nói: “Thật là đẹp, hôm nay Đức Vua của Israel nhảy nhót hở hang trước mặt các tớ nữ”! Chính vì lời nói này mà bà bị chúc dữ và không có con cho đến ngày chết.
Nếu bạn là người đang sinh sống ở thành phố Sài gòn thì bạn sẽ có cơ hội chứng kiến những bài thể dục nhịp điệu rất đẹp và nhịp nhàng tại các công viên. Nếu bạn có dịp đến những buổi dạ hội, bạn sẽ thấy gì nếu không phải là những bước nhảy chuyên nghiệp ?
Nhảy nhót, nhảy múa hay nhảy nghệ thuật. Tất cả những kiểu nhảy đó ai cũng biết, ai cũng thấy, nhưng không phải ai cũng dễ dàng nhảy.
« Không dễ dàng » vì nhảy phải có nhịp, phải có điệu và có người hướng dẫn. Để biết “Nhảy theo nhịp điệu nào”, người nhảy phải có một nền tảng kỹ thuật và am hiểu nghệ thuật. Theo đó, nhảy theo nhịp điệu của Chúa cũng phải am hiểu về Chúa và đồng cảm với Ngài. Với ý nghĩa này, chúng ta sẽ triển khai chủ đề qua ba ý sau :
– Trong Kinh Thánh có những người nhảy chuyên nghiệp.
– Dòng xitô Việt Nam có Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận như là huấn luyện viên của môn nhảy đan tu.
– Thử phác họa đôi nét điệu nhảy đồng hành cùng dân tộc.

1. Những người nhảy « chuyên nghiệp » trong Kinh Thánh.

Chúng ta chỉ chú ý đến thái độ của những người này: rất nhiệt tình và đơn thành, không cầu kỳ kiểu cách.

a. Tổ Phụ Abraham
Tổ phụ Abraham khi được Chúa kêu gọi từ bỏ nhà cha ông, bỏ quê hương xứ sở để đến một nơi Chúa sẽ chỉ tại miền đất Canaan (x. St 12,1-4). Mặc dù đã bảy mươi lăm tuổi khi được kêu gọi, ông vẫn còn đủ nhiệt tình và lòng đơn thành để cất bước lên đường theo yêu cầu của một người khác. Thông thường vào tuổi này, người ta muốn sống yên ổn vui vầy với đàn con bầy cháu, chứ có ai đâu lại khăn gói quả mướp thay đổi chỗ ở. Đành rằng lối sống du mục đã hình thành nơi ông thói quen di chuyển chăng ? Nhưng chuyến đi này không giống như sự di chuyển chỗ ở thông thường để mưu sinh: Đó là sự chọn lựa ra đi mà chắn chắn ông biết rõ chuyến đi cho sứ vụ. Đi đâu? Làm gì? Ông chưa biết nữa, nhưng cứ ra đi, không cầu kỳ kiểu cách. Có lẽ ông cũng là người đã quen làm theo Thánh Ý Chúa, là người nhảy chuyên nghiệp các điệu nhảy của Thiên Chúa.

b. Ông Mô sê
Ông Mô sê khởi đầu sứ vụ bằng biến cố thấy bụi gai bốc lửa nhưng không bị thiêu rụi, đang khi ông chăn chiên cho bố vợ là ông Jêthro. Vì tò mò, ông đã mon men tới gần. « Hãy cởi dép ra, vì nơi ngươi đang đứng là nơi thánh » (Xh 3,5), Đức Chúa phán. Sau khi đàm đạo với Đức Chúa, ông đã bị khuất phục, bất chấp những khó khăn: Miệng lưỡi ông nặng nề (x.c. 10), lời thoái thác thẳng thừng của ông với Đức Chúa (x.c. 13)… Ông trở lại Ai-Cập và thi hành sứ vụ được trao: đưa dân Israel ra khỏi Ai-Cập. Và đó là điệu nhảy thật sự không dễ dàng chút nào. Đã nhiều lần ông đến gặp vua Pharao xin cho dân đi tế lễ Đức Chúa trong sa mạc, nhưng đều bị từ chối. Ông đã kiên nhẫn theo sự « chỉ bảo » của Đức Chúa vì chính Đức Chúa đã « làm cho lòng vua ra chai đá », vua đã không để cho dân Israel ra đi. Nhiều năm lòng vòng trong sa mạc, đôi khi ông suýt chết vì dân định ném đá ông, cho thấy ông vẫn một bề trung thành nhảy theo « nhịp điệu của Chúa ».

c. Các ngôn sứ
Chúng ta đều biết câu chuyện bi thương của vua Achab trong chương 22 sách Các Vua quyển I, vua Israel khi ông muốn rủ vua Giuda là Josaphat tiến đánh vua Aram. Vua Giuda muốn thỉnh ý Đức Chúa qua các ngôn sứ ; vua Israel có bốn trăm ngôn sứ đều nhất loạt nói vua có thể xuất quân đánh vua Aram. Còn một ngôn sứ nữa có thể thỉnh ý Đức Chúa, nhưng vua Achab không thích vì vị ngôn sứ này chỉ tuyên sấm những điều trái ý vua, đó là ngôn sứ Michée. Ngôn sứ Michée nói theo ý Chúa, hay nói theo các ngôn sứ giả kia ? Ông cũng có thể và đã nói tốt cho vua Achab như các ngôn sứ giả của vua này, nhưng rồi Lời Chúa nung nấu lòng ông, ông không thể không nói ra ý Chúa về sự việc tiến đánh Ramot Galaad của người Araméen. Các ngôn sứ nói chung, ngôn sứ Michée nói riêng nhất định tuân theo nhịp nhảy của Chúa, không thể đẹp lòng người khác mà chiều theo ý họ.

d. Ông Gioan tẩy giả
Trong biến Nhập Thể của Chúa Giêsu, chúng ta thấy có mấy nhân vật « nhảy » rất độc đáo. Trước hết phải kể đến ông Gioan Tẩy Giả: còn trong lòng mẹ ông đã biết nhảy. « Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm, vì này tai tôi vừa nghe lời em chào thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng » (Lc 1,44). Ông nhảy lên vì vui sướng nên có lẽ không có nhịp nhàng gì. Và cũng chẳng cần nhịp nhàng; khi vui mừng người ta cứ nhảy cuống lên, cứ reo hò lên, nói không thành lời…Nhưng khi lớn lên và về già ông nhảy có nhịp có điệu hẳn hoi. Chính vì nhảy đúng nhịp đúng điệu mà ông đã phải mất đầu! Khi can gián vua Hérode về việc ông này cưới vợ của anh mình là bà Hérodia, ông cho thấy điệu nhảy của Chúa là sống công chính, phù hợp với luân lý chứ không thể xử sự bất công với anh mình, cho dù có quyền bính trong tay. Vì đã nhảy đúng nhịp đúng điệu của Chúa nên ông đã phải trả giá bằng máu.

đ. Thánh Giuse
Lẽ ra ông Giuse đã có thể tố cáo bà Maria có thai ngoài hôn nhân, vì ông đã thành hôn với bà nhưng chưa ăn ở với nhau. Nhưng vì ông là người « công chính » (Mt 1,19) nên tìm cách rút êm để cho bà được an toàn. Chỉ có điều điệu nhảy của Chúa thì lại khác, Ngài muốn ông trở lại đón bà về chung sống. Và ông đã nhảy theo nhịp của Chúa.

e. Mẹ Maria
Mẹ Maria có lẽ là người nhảy chuyên nghiệp nhất. Khởi đầu bằng biến cố Truyền Tin với lời xin vâng, mẹ Maria dường như đã quen hết các điệu của Chúa và do đó đã nhảy rất ư là đúng nhịp. Cô có đồng ý sinh con của Đấng Tối Cao? Xin vâng. Cô có đồng ý cùng với Giuse đem Hài Nhi trốn sang Ai Cập không? Xin vâng. Cô có chấp nhận lưỡi gươm thấu lòng khi đứng dưới chân thập giá của con mình không ? Xin vâng. Đó là một người nhảy chuyên nghiệp đúng điệu đúng nhịp.

f. Thánh Phaolô
Còn một người khác cũng tỏ ra sành điệu không kém, đó là thánh Phaolo. Ngài đã viết thư cho dân thành Côrintô nói ngài không được sai đi làm phép rửa nhưng là rao giảng Tin Mừng. Rao giảng không phải bằng khôn khéo của ngôn từ, vì như thế làm cho thập giá Chúa Kitô ra vô ích, nhưng bằng ngôn ngữ của thập giá, rất khó nghe đối với người hư mất, nhưng lại là nguồn sức mạnh của Thiên Chúa đối với những ai được cứu độ (x. 1Cr 1,17-18). Điệu nhảy thập giá – phục sinh thánh nhân biết rồi và ngài có kinh nghiệm đó rồi. Cái điệu này khi nhắc tới chẳng ai thích thú gì. Có nhiều người đã mỉa mai thẳng thừng: Để hôm khác chúng tôi sẽ nghe ông nói về điều này (x. Cv 17,32). Chống đối ? Mặc kệ. Ngài cứ điệu ấy mà nhảy, nhảy cách kiên trì theo nhịp sẽ được uyển chuyển theo thời theo lúc. Khi đến Athen, thấy người Hylạp kính thần vô danh, ngài rao giảng Đấng Vô Danh ấy cho họ. Dù thất bại ở Athen và ngay cả tại Côrintô, ngài vẫn kiên trì nhảy đúng nhịp đúng điệu, để rồi đã được chính Chúa Giêsu ủy lạo: « Đừng sợ, cứ nói đi, đừng làm thinh vì Thầy ở với con ; không ai tra tay hại con được, vì Thầy có một dân đông đảo trong thành này » (Cv 17,9-10). Trong cuộc đời mình, thánh Phaolo cũng đã cho thấy ngài rất thông thạo các điệu nhảy khác, mà toàn là những điệu nhảy đau thương của thập giá. Họ là người Hipri ư ? Tôi cũng vậy. … Họ là dòng giống ông Abraham ư ? Tôi cũng vậy…. Năm lần tôi bị người Dothái đánh bốn mươi roi bớt một. …Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối ?… (x. 2Cr 11, 22-29).
Chúng tôi đã đi thăm một vòng vắn gọn một vài « vũ công » chuyên nghiệp của Thiên Chúa trong Kinh Thánh. Các vị đó cho thấy thái độ rất điềm tĩnh, bình an khi chấp nhận các « điệu nhảy » của Chúa và đã nhảy đúng nhịp đúng điệu một cách tuyệt vời. Chúng tôi mời gọi mọi người tiến lại gần hơn để thăm một người sống ở đầu thế kỷ XX: cha Henri Denis Biển Đức Thuận.

2. Cha Henri Denis, huấn luyện viên « môn nhảy » đan tu.
Đọc lại Di Ngôn của Ngài, chúng tôi càng xác tín hơn nữa tên gọi tiếng Việt của Ngài là Biển Đức Thuận. Tên gọi thật đúng với con người của Ngài: luôn tìm thuận theo Thánh Ý Chúa.
Chịu chức linh mục năm 1903, cũng là năm rời bỏ chốn chôn nhau cắt rốn miền Boulogne, Tây-Bắc nước Pháp, gia nhập Hội Thừa Sai Paris để sang Việt Nam truyền giáo. Tâm nguyện truyền giáo trong Ngài được tạm gọi theo cách của chúng tôi là biết các điệu nhảy của Chúa, (truyền giáo là mệnh lệnh của Chúa) để rồi muốn nhảy cho đúng điệu đó.
Hình như ý muốn làm tu sĩ truyền giáo tại An Nam đã hình thành trong Ngài từ lâu? Đọc lá thư Ngài gửi cho Đức Cha Lý đề ngày 31.01.1912[1] cho hay Ngài đã muốn làm đan sĩ tại Hongkong và Nhật Bản… Khi còn đang làm giáo sư chủng viện, lòng khao khát đi truyền giáo nơi các họ đạo đã thiêu đốt ngài. Nhân ngày lễ Giáng Sinh, ngài nghĩ đến người ngoại giáo mà thương: « Chúa xuống thế đã gần 2000 năm mà còn biết bao kẻ chưa nhận biết Người ! Khi con suy sự ấy, thì cái phòng giáo sư của con đây nên như cái ngục cho con ! » [2]. Vậy mà chỉ một năm sau ngài đã được toại nguyện: Bắt đầu coi sóc họ đạo Nước Mặn vào tháng giêng năm 1908. Sau năm năm miệt mài với công việc tông đồ, năm 1913 ngài trở về tiểu chủng viện An Ninh cho đến khi lập dòng Đức Bà An Nam năm 1918. Mà mục đích lập dòng này cũng là để truyền giáo: « Làm thành một Tu Hội các Đan sĩ chuyên lo việc cứu giúp các người chưa nhận biết Chúa, bằng sự cầu nguyện và hãm mình »[3] . Qua đây chúng tôi có thể hiểu được cha Henri Denis Biển Đức Thuận đã biết các điệu nhảy và tìm cách nhảy cho đúng nhịp.
«Chuyên lo cứu giúp các người chưa nhận biết Chúa », điệu nhảy này nhiều người từ cổ chí kim từ Đông sang Tây đều đã rành sáu câu. Riêng cha Henri Denis cũng điệu nhảy đó, nhưng nhịp nhảy của Ngài xem ra khác thường: có thể thay đổi theo từng lúc từng giai đoạn. Lúc « chậm chạp » có vẻ thư giãn thanh thản hơn. Các Cố Đạo, các cha xứ thông thường lo các việc mục vụ bí tích, lo đời sống thiêng liêng cho bổn đạo cũng đã mệt lắm rồi. Cha Henri Denis lo các việc thiêng liêng cho bổn đạo có vẻ như vẫn thanh thản an nhàn, chưa lấy làm vừa sức mình ! Điệu nhảy của ông Cố Đạo này đúng là « chậm chạp » như điệu Slow. Nhưng cũng có lúc nhịp nhảy trở nên « nhanh » hơn làm toát mồ hôi đến mệt cả người. Ông Cố Đạo lo việc linh hồn cho bổn đạo đủ rồi, cần gì phải đa mang, lo lắng đến cơm cháo gạo tiền cho người khác! Mà đâu có phải việc của các ngài, bởi lẽ nếu làm vậy sẽ như muối bỏ biển, bao nhiêu cho cùng. Tuy nhiên « đã mang lấy nghiệp vào thân, thì nào dám trách lẫn trời gần trời xa »(Truyện Kiều). Đọc lại bức thư của Cố Đạo Henri Denis trong Di Ngôn số 10 [4] cho thấy một con người đã nhảy đến toát mồ hôi. Bổn đạo của ngài tại xứ Nước Mặn rất nghèo túng. Họ muốn trở lại đạo, nhưng ông Cố Đạo phải nuôi dạy họ. Khi có tiền thì giúp tiền cho họ cho đến khi « khánh kiệt » và phải mang nợ…Khi không còn tiền thì cho cơm nguội, « mỗi người hai chén cơm thôi ». Nỗ lực này biểu hiện ở công việc dịch sách kiếm tiền cứu đói cho bổn đạo. « Cực chẳng đã con mới phải làm để kiếm tiền giúp kẻ bần hàn kẻo nó chết đói ». Nhảy cho đúng điệu là tốt lắm rồi, còn nhịp nhảy mới chứng tỏ phong cách của người nhảy. Nhảy theo nhịp bình thường, có ai đặt thành vấn đề đâu. Ví dụ cha xứ chỉ lo đời sống tinh thần cách nghiêm túc tận tụy, đủ rồi, vì vai trò của ngài như vậy. Nhưng tự nguyện nhảy nhanh hơn chút cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại là điều không phải ai cũng có thể làm được. Ví dụ giáo dân nghèo khổ, dịch sách kiếm tiền giúp họ kẻo chết đói như cha Henri đã làm, hoặc bất cứ công việc nào đấy để giúp họ…là điều không phải ai cũng làm được. Chỉ những người có lòng với Chúa, biết ý định của Chúa và cố gắng làm theo ý Chúa ; chỉ những người đó mới có khả năng có những sáng kiến mới cho phù hợp.
Tưởng cũng nên nhắc lại tâm tình của Cha Tổ Phụ trước công việc Ngài mới khởi sự thành lập Dòng Đức Bà Việt Nam, đó là luôn lắng nghe thánh ý Chúa. « Chú ý, sẽ có bão táp cả thể đổ xuống trên Phước Sơn !… Nếu Chúa nhân lành muốn vậy thì còn chi mà sợ ? »[5] . « Nếu công việc xuôi thuận thì rõ không phải tại con, song tại Chúa. Càng ngày con càng thấy rõ sự ấy. Cám ơn Chúa » [6].
Và trước khi qua đời, trong Lời Trối, chúng ta còn biết thêm chi tiết quan trọng về Cha Tổ Phụ, đó là xác tín « Vâng theo Thánh Ý Chúa ». Mà vâng theo Thánh Ý Chúa trong đời đan tu là giữ luật dòng. Một tay đua, khi kết thúc cuộc chơi đã rút ra kinh nghiệm cho đời : muốn chiến thắng trong cuộc tranh tài cần phải chơi đúng luật. Nghĩa là phải tuân theo kỷ luật nhất định của cuộc chơi đó, như vậy mới mong chiến thắng. Cuộc chơi Nên Thánh trong đời sống thánh hiến nói chung và đời sống đan tu nói riêng cũng không thể đi ra ngoài qui luật trên: « Muốn nên thánh thì hãy giữ luật dòng, muốn nên thánh hãy giữ luật dòng » (DN 150).
Chúng tôi nhận thấy yếu tố tiền đề « Vâng theo Thánh Ý Chúa » xuất hiện ngay từ khi mới lập dòng và lại xuất hiện lần cuối cùng trong lời trối như yếu tố hậu kết, làm cho chúng tôi liên tưởng đến một cách hành văn khá độc đáo của Kinh Thánh, theo đó việc lặp lại một yếu tố đã được nhắc đến ở đầu đoạn văn cho phép người đọc hiểu dụng ý của tác giả muốn bao quát và làm nổi bật một chủ đề nhất định nào đó. « Vâng theo Thánh Ý Chúa » được xem là tư tưởng chủ đạo của Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận. Ngài là con người, đối với chúng tôi, được coi là huấn luyện viên giỏi của môn « nhảy theo nhịp điệu của Chúa » trong đời sống đan tu. Xuất phát từ những suy tư trên đây về Cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận, chúng tôi can đảm hơn tiến lại gần đời sống đan tu xitô Thánh Gia trong xã hội Việt Nam hiện nay.

 

3.Nhảy theo nhịp điệu đồng hành cùng Dân tộc Việt Nam

Đất nước lâm nguy, biên giới bị xâm phạm, biển đảo bị lấn chiếm, xã hội băng hoại do nhân tính và đạo đức bị xói mòn, quyền con người không được tôn trọng… tất cả đều do một ý thức hệ thiển cận điều hành. Chúng tôi sẽ làm gì, sẽ nhảy điệu gì đây ?
Vâng, cầu nguyện chính là thái độ chúng tôi chọn lựa trong hoàn cảnh hiện tại, cũng là điệu nhảy mà chúng tôi biết rõ phù hợp Thánh Ý Chúa.
Các « vũ công » của Thiên Chúa đã múa nhảy với thái độ điềm tĩnh và an bình.  Cha Henri Denis Biển Đức Thuận cũng nhảy với thái độ nhiệt thành và tín thác triệt để nhịp điệu của Chúa trong hoàn cảnh hiện tại: Vâng theo Thánh Ý Chúa. Các thầy dòng xitô Việt Nam thiết nghĩ cũng có thể rút kinh nghiệm từ các Bậc Tiền Bối, sống hoàn cảnh hiện tại cách phù hợp nhất.
Chúng ta đã từng nghe nói đến « nơi chôn nhau cắt rốn ». Con người phải được sinh ra trên mảnh đất cụ thể, trong một gia đình cụ thể, mang một dòng máu nhất định. Quê hương, gia đình và dân tộc là những điều thiêng liêng của con người. Hành vi xâm lấn và đánh chiếm mảnh đất mà họ đang định cư là hành vi bất công, là xúc phạm đến quyền cơ bản của con người. Những ai có tâm với Đất Nước sẽ cảm thấy đau lòng trước sự bất công của người khác. Những ai có lòng với con người cũng sẽ rất đau buồn khi thấy nhân tính và đạo đức của dân tộc mình đang bị xói mòn.
Đã nhiều lần chúng tôi nổi giận khi nghe biết hoặc đối diện với những vấn đề bất công đang lan tràn đây đó. Đã nhiều lần chúng tôi lên tiếng trong âm thầm như để trút cơn giận của mình. Nhưng đó chỉ là phản xạ rất tự nhiên của con người khi đứng trước sự ác ; đó chỉ là thái độ tiêu cực mà thôi.
Thái độ chúng tôi chọn lựa chính là lòng bao dung trong cầu nguyện. Cầu nguyện liên lỷ, cầu nguyện kiên trì, cầu nguyện mà lòng dung chứa cả thế giới trong đó có cả những con người đang làm điều ác, đang làm điều bất công. Thiên Chúa biết tất cả các điều đó. Thiên Chúa biết cõi lòng của chúng tôi. Chúng tôi rất cần kiên nhẫn đợi chờ ngày giờ Chúa muốn thì Ngài sẽ thực hiện công lý. « Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không kíp minh oan cho kẻ kêu xin Người sao »? Mặt khác sứ vụ của đời sống đan tu chính là cầu nguyện. Sứ vụ của chúng tôi là cầu nguyện. Thực ra Thiên Chúa chỉ muốn thực hiện những điều tốt lành cho con cái mình, nhưng không phải con cái luôn luôn có khả năng đón nhận ân huệ của Ngài. Con cái Ngài chỉ muốn tự mình lo lấy vận mệnh đời mình và tự nhủ : để tôi, tôi không ra tay là không xong rồi ! Chúng tôi cầu nguyện như thể đứng về phía Chúa và mong ước Chúa thực hiện chương trình tốt lành của Ngài. Như thế phải chăng chúng tôi đang nhảy theo nhịp điệu của Chúa, nhịp điệu Thánh Ý Người ?
Để tạm kết bài chia sẻ, chúng tôi có thể nói rằng: nhảy theo nhịp điệu của Chúa hay sống theo Thánh Ý Chúa không  phải là điều đương nhiên, nó phải được chuẩn bị theo mức độ nhất định. Các « vũ công » của Thiên Chúa cũng đã phải tập cho biết các điệu nhảy của Chúa – biết thánh ý Chúa – để nhảy sao cho phù hợp ý Người. Tất cả những ai tự nhảy theo nhịp của mình đều chuốc lấy thất bại thảm hại, như vua Saul đã không tuân lệnh Chúa tru diệt dân Amalec mà giữ lại vua dân ấy và các chiến lợi phẩm; chúng ta thấy vua Saul đã thất sủng trước nhan Chúa như thế nào. Trong đời tu, đã có những con người dấn thân triệt để và phó mình cho Thánh Ý Chúa dẫn dắt và đã thành công, như Cha Tổ Phụ của Dòng chúng tôi, người mệnh danh là Thuận theo Thánh Ý Chúa.
 Những gì chúng tôi chia sẻ trên đây dù sao cũng chỉ thuộc loại cổ điển. Trong thâm tâm chúng tôi muốn trình bày điều gì đó rất ngày hôm nay, nhưng quả là điều khó khăn. Mặc lòng, qua những cái cổ điển như là nền tảng, chúng tôi muốn nói đến đan tu ngày hôm nay. Một đời sống đan tu mà hình thức của nó rất khác trước đây: Hình như nó đang chuyển mình hoặc là đang bị tha hóa ? Không gian yên tĩnh của một đan viện trở nên hiếm hoi do môi trường chung quanh đã bị ô nhiễm âm thanh rất trầm trọng. Và như vậy các đan sĩ hình như giảm phần nào nhu cầu thinh lặng đan tu. Sự tiếp cận với các phương tiện thông tin ngày càng đa dạng hơn: Máy tính xách tay, điện thoại di động loại đắt tiền và ngay cả “Ipad” loại mới nhất… Chúng tôi tự hỏi phải chăng đó là điệu nhảy mới mà chúng tôi cần phải cập nhật? Và cũng đang băn khoăn về tính phù hợp của điệu nhảy mới này: Không biết “nhảy” như thế có phù hợp với Thánh Ý Chúa trong hoàn cảnh hiện tại chăng ?

 


 

[1]Di Ngôn, 2003, n° 0, p. 21.

[2]Di Ngôn, 2003, n°4, p. 28.

[3]Di Ngôn, 2003, n°79, p. 106.

[4]Di Ngôn, 2003, n° 10, p. 32-33.

[5]Di Ngôn, n°58, p. 81

[6]Di Ngôn, n° 77, p. 97.

 

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

BÀI VIẾT MỚI

spot_imgspot_img

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Hạt Giống Chiêm Niệm số 32: Cầu Nguyện Đan Tu

CẦU NGUYỆN ĐAN TU Số 32 – Tháng Giêng năm 2024 ĐÔI LỜI ... Kính thưa quý độc giả, Như chúng ta đã biết, cầu nguyện là hành...

Hạt Giống Chiêm Niệm số 31: Hướng Vọng Trời Cao

 Số 31 – Tháng 7 năm 2023 Lời ngỏ Kính thưa quý độc giả, Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày qua đời của cha Biển Đức...

Hạt Giống Chiêm Niệm số 29: Tứ Hải Giai Huynh Đệ

Số 29 – tháng 07 năm 2022 Cùng Độc giả, Các sinh hoạt của Ban Biên Tập Nội San Hạt Giống Chiêm Niệm (HGCN) của Hội...

Hạt Giống Chiêm Niệm số 30: Một Đi Chung Cùng Nhau

LỜI NGỎ   Kính thưa Quí Độc Giả! Nội san Hạt Giống Chiêm Niệm số 30 phát hành vào tháng Giêng năm 2023 này mang chủ đích...

Giới Thiêu nội san “HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM” (Viện phụ Dominico Phạm Văn Hiền)

  NỘI SAN   HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM     LỜI GIỚI THIỆU      ...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 1: NGUỒN SUỐI CHIÊM NIỆM

    HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM       Nội...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 2: HƯƠNG VỊ LỜI CHÚA

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 3: THAO THỨC

  HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 4: Những Nẻo Đường Sống Đạo

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM     Nội san linh đạo đan tu   NHỮNG NẺO ĐƯỜNG SỐNG ĐẠO   Số 4 tháng 7 năm 2007 LỜI NÓI ĐẦU     Một người nọ hỏi...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số đặc biệt: Cội nguồn hy vọng

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 7: Thử Thách

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...

HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM số 8: Trong Lòng Giáo Hội

  HẠT GIỐNG CHIÊM NIỆM      Nội san linh đạo...